NỘI DUNG QUYỀN TỰ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH- NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI TRƯỚC NĂM 2005 - Pdf 34

MỤC LỤC:
A

LỜI MỞ ĐẦU:

3

B

NỘI DUNG:

I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO THÀNH
LẬP DOANH NGHIỆP:
1.1.

Một số khái niệm liên quan:

3

1.2.

Tại sao phải qui định về quyền tự do thành lập doanh nghiệp:

5

1.3.

Lịch sử hình thành và phát triển các qui định của pháp luật kinh tế 6
Việt Nam về quyền tự do thành lập doanh nghiệp:

quyền tự do thành lập doanh nghiệp trên thưc tế.
C

LỜI KẾT

21

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

22

LỜI MỞ ĐẦU:
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) qui định tại Điều 57:
“Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Dựa trên quyền
hiến định này, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã cụ thể hóa, chi tiết hóa quyền tự do
kinh doanh của công dân bằng rất nhiều Điều luật điều chỉnh các vấn đề thuộc nội
2


dung của quyền tự do kinh doanh, trong đó những qui định đảm bảo quyền tự do thành
lập doanh nghiệp có nhiều điểm mới tiến bộ so với các văn bản Luật điều chỉnh cùng
lĩnh vực được ban hành trước Luật Doanh nghiệp năm 2005. Dựa trên những qui định
của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 102/2010/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành
một số Điều luật cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 43/2010/NĐCP năm 2010 của Chính Phủ về đăng ký doanh nghiệp cùng các văn bản hướng dẫn
liên quan khác chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung quyền tự do thành lập doanh nghiệp theo
pháp luật hiện hành.

NỘI DUNG:
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP:

đủ các qui luật tự nhiên mang tính tất yếu, nắm được bản chất, xu hướng vận động, tác
động của qui luật thì hành vi của con người mới thực sự chủ động và đạt hiểu quả như
mong muốn.
Dưới góc độ pháp lý, con người chỉ hoàn toàn có tự do pháp lý khi nhận
thức đúng đắn, đầy đủ những qui định của pháp luật, biết được những gì pháp luật cho
phép và không cho phép mình thực hiện, biết được những quyền và nghĩa vụ của bản
thân trong một quan hệ pháp luật cụ thể để từ đó có thể chủ động thực hiện những
hành vi và đạt được kết quả như mong muốn mà không vi phạm pháp luật.
● Thành lập doanh nghiệp: Thành lập doanh nghiệp là bước khởi đầu
của hoạt động kinh doanh. Theo qui định tại Điều 5 Nghị định 43/NĐ-CP năm 2010
về Quyền thành lập doanh nghiệp và nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp của người thành
lập doanh nghiệp thì: “Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền
của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ”. Thành lập doanh nghiệp là hoạt
động của các cá nhân, tổ chức trong việc tiến hành lựa chọn mô hình doanh nghiệp,
ngành nghề kinh doanh và chuẩn bị các thủ tục để tiến hành đăng ký doanh nghiệp
theo qui định của pháp luật.
● Từ hai định nghĩa trên có thể hiểu quyền tự do thành lập doanh nghiệp
là quyền quan trọng của nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư có quyền hoàn toàn độc lập, tự
chủ hành động theo ý chí của mình trong việc thành lập và đăng ký doanh nghiệp để
tiến hành hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao.

4


2. Tại sao pháp luật phải qui định về quyền tự do thành lập doanh
nghiệp:
Việc pháp luật qui định quyền tự do kinh doanh nói chung và quyền tự do
thành lập doanh nghiệp nói riêng là một sự phù hợp với yêu cầu khách quan của đời
sống thực tiễn, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của người dân và với quan
điểm chỉ đạo, đường lối lãnh đạo của Đảng. Có thể nói, không thể thiếu được sự thể

3.1. Giai đoạn trước năm 1990:
Năm 1986, Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng đường lối đổi mới nền
kinh tế đất nước, tạo tiền đề cho việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Năm
1987, Luật đầu tư nước ngoài ra đời lần đầu tiên qui định về loại hình công ty TNHH.
Nhìn chung đây là giai đoạn bước đầu hình thành về quyền tự do thành lập doanh
nghiệp tuy nhiên nội dung những qui định này còn rất sơ sài và có nhiều hạn chế như:
các loại hình doanh nghiệp khá nghèo nàn; những qui định về các loại hình doanh
nghiệp có nhiều điểm chưa hợp lý với cơ chế thị trường hơn nữa Nhà nước còn can
thiệp quá sâu vào quá trình thành lập và hoạt động của các chủ thể và đặc biệt là Nhà
nước còn hạn chế và cấm phát triển các thành phần kinh tế tập thể, phi Nhà nước.
3.2. Giai đoạn từ 1990 đến trước năm 2005:
Bắt đầu tự thập niên 90, nền kinh tế nước ta có những bước chuyển biến
đổi mới mạnh mẽ sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ
nghĩa, đất nước ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu của công cuộc đổi mới. Từ sự
thay đổi này, những khiếm khuyết của pháp luật kinh tế giai đoạn trước dần được khắc
phục. Năm 1990, Quốc hội đã thông qua Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân sau
đó đã thống nhất thành Luật doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1/1/2000
đồng thời sửa đổi bổ sung Luật đầu tư để cụ thể hóa đồng thời mở rộng hơn quyền tự
do thành lập doanh nghiệp cho các chủ thể. Cụ thể: Pháp luật đã có những qui định
tương đối cụ thể về các loại hình doanh nghiệp, từ chỗ không thừa nhận sự tồn tại của
công ty TNHH một thành viên thì đến đây đã ghi nhận một mô hình tổ chức kinh
doanh mới là công ty TNHH một thành viên là tổ chức (Luật doanh nghiệp năm
1999). Từ chỗ qui định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp còn phân tán ở
nhiều văn bản thì đến đây đã tập tủng duy nhất trong Luật doanh nghiệp năm 1999.
Ngoài ra trong giai đoạn này thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp đã
được đơn giản đi rất nhiều.
3.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay:

6



7


Một là: Các đối tượng qui định từ điểm a đến điểm d khoản 2 Điều 13
bao gồm: Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; Cán
bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước,
trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của
Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
Việt Nam.
Như vậy, những chủ thể trong trường hợp đầu tiên này không được thành
lập bất kỳ loại hình kinh doanh nào vì đây là những chủ thể mang tính chất đặc biệt,
làm việc trong bộ máy nhà nước và giữ vai trò quan trọng trong các cơ quan nhà nước,
trong đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân. Vì vậy, những chủ thể này phải toàn tâm
toàn ý thực hiện công vụ của mình. Nếu họ được phép thành lập và quản lý doanh
nghiệp, sẽ dẫn đến tình trạng chểnh mảng nhiệm vụ chính, bỏ bê việc công để lo việc
kinh doanh tư. Ngoài ra Nhà nước qui định như vậy là để hạn chế đến mực tối đa hiện
tượng tham nhũng trong cán bộ công chức.
Hai là: Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự. Những chủ thể thuộc trường hợp này thì họ cũng
không có quyền thành lập doanh nghiệp được vì khi không có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự thì họ không thể bằng hành vi của mình xác lập các quyền và nghĩa vụ của chủ
thể thành lập và quản lý doanh nghiệp mà pháp luật qui định.
Ba là: Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành
nghề kinh doanh. Những đối tượng thuộc trường hợp này khi đang chấp hành hình
phạt tù họ bị tước quyền tự do công dân nên không có điều kiện thực hiện công việc
của một người sáng lập, quản lý doanh nghiệp được.
Bốn là: Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản. Cụ

+ Việc qui định như trên sẽ tạo ra tâm thế cho người dân được chủ động
thực hiện quyền tự do thành lập doanh nghiệp. Khi họ đã nhận thức được mình có đủ
điều kiện thành lập doanh nghiệp hay không họ sẽ chủ động tiến hành hay biết không
được tiến hành quyền của mình. Vì thế nói: “LDN năm 2005 đã phát huy tối đa
quyền tự do thành lập doanh nghiệp của công dân”.
2.1.2. Với đối tượng là các nhà đầu tư nước ngoài ( cá nhân, tổ chức
nước ngoài):
9


Nhằm mở rộng đối tượng có quyền được thành lập doanh nghiệp, Nhà
nước ta không chỉ ghi nhận quyền lợi hợp pháp này cho nhà đầu tư trong nước mà còn
hướng tới các nhà đầu tư nước ngoài.Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước
ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Với nhóm đối tượng đặc
biệt này, pháp luật thương mại nước ta cũng không hề có một sự phân biệt đối xử nào
giữa họ với công dân Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do thành lập doanh
nghiệp tại Việt Nam. Dựa trên nguyên tắc “ đối xử như công dân” trong quan hệ
quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng, Nhà nước Việt Nam tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quyền tự do thành lập
doanh nghiệp ở Việt Nam. Cũng giống như những nhà đầu tư trong nước, các cá nhân
tổ chức nước ngoài được pháp luật thương mại nước ta ghi nhận hoàn toàn quyền tự
do thành lập doanh nghiệp, Điều 4 LĐT năm 2005 khẳng định: “1. Nhà đầu tư được
đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và
quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam. 2. Nhà nước đối
xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế,
giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động đầu tư”.
Nhận xét, đánh giá:
+ Việc pháp luật ghi nhận quyền tự do thành lập doanh nghiệp tại Việt
Nam của nhóm đối tượng là nhà đầu tư nước ngoài là một qui định hợp lý, phù hợp

thể cho họ tại các văn bản hướng dẫn như Nghị định 102/2010/NĐ-CP ban hành ngày
1/10/2010 hướng dẫn chi tiết một số Điều của Luật doanh nghiệp năm 2005 về các
ngành nghề kinh doanh bị Nhà nước cấm, về ngành nghề kinh doanh cần vốn pháp
định và ngành nghề kinh doanh cần có chứng chỉ hành nghề.
Cụ thể:
• Về ngành nghề cấm kinh doanh, Điều 7 Nghị định 102/ 2010/NĐCP qui định rât rõ ràng các ngành nghề cấm kinh doanh gồm: a) Kinh doanh vũ khí
quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an;
quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an), quân
dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc
chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng; b) Kinh doanh chất ma túy các loại; c)
Kinh doanh hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế);d) Kinh doanh các sản phẩm văn
11


hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ, nhân cách;
đ) Kinh doanh các loại pháo; e) Kinh doanh các loại đồ chơi, trò chơi nguy hiểm, đồ
chơi, trò chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khoẻ của trẻ em hoặc tới an ninh,
trật tự an toàn xã hội; g) Kinh doanh các loại thực vật, động vật hoang dã, gồm cả vật
sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến, thuộc Danh mục điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên quy định và các loại thực vật, động vật quý hiếm thuộc
danh mục cấm khai thác, sử dụng; h) Kinh doanh mại dâm, tổ chức mại dâm, mua bán
người; i) Kinh doanh dịch vụ tổ chức đánh bạc, gá bạc trái phép dưới mọi hình thức;k)
Kinh doanh dịch vụ điều tra bí mật xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân; l) Kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn có yếu tố
nước ngoài;m) Kinh doanh dịch vụ môi giới nhận cha, mẹ, con nuôi, nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài; n) Kinh doanh các loại phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm môi
trường; o) Kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hóa và thiết bị cấm lưu hành, cấm sử
dụng hoặc chưa được phép lưu hành và/hoặc sử dụng tại Việt Nam; p) Các ngành,
nghề cấm kinh doanh khác được quy định tại các luật, pháp lệnh và nghị định chuyên
ngành.

hiện hành còn hướng dẫn cho các chủ thể thành lập doanh nghiệp thủ tục cung cấp
cho cơ quan đăng ký kinh doanh các chứng chỉ hành nghề tại khoản 3 NĐ 102: “ Đối
với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định
của pháp luật, việc đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh
đó phải thực hiện theo quy định dưới đây: a) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành,
nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh
doanh phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp hoặc người đứng
đầu cơ sở kinh doanh đó phải có chứng chỉ hành nghề. b) Đối với doanh nghiệp kinh
doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc và người khác phải có chứng chỉ
hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp đó và ít nhất một cán bộ chuyên môn theo
quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề. c) Đối với
doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu Giám đốc hoặc
người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, ít nhất một cán bộ
chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành
nghề”.
• Về ngành nghề kinh doanh cần có điều kiện kinh doanh, LDN năm
2005 và Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP qui định rất rõ điều kiện kinh doanh là gì
( khoản 2 Điều 7 LDN: Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có
hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành nghề cụ thể), điều kiện kinh doanh được thể
13


hiện dưới những hình thức gì ( khoản 2 Điều 8 NĐ 102: a) Giấy phép kinh doanh; b)
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; c) Chứng chỉ hành nghề; d) Chứng nhận
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;đ) Xác nhận vốn pháp định;e) Chấp thuận khác
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;g) Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải
thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác
nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
 Nhận xét, đánh giá:
+ Những qui định của pháp luật hiện hành về ngành nghề kinh doanh hiện

nhiệm hữu hạn về tài sản trong phạm vi vốn doanh nghiệp nhưng nếu thành lập doanh
nghiệp tư nhân thì phải chịu trách nhiệm vô hạn, do đó các nhà đầu tư sẽ khôn ngoan
lựa chọn loại hình Công ty TNHH một thành viên mà bỏ qua loại hình doanh nghiệp
tư nhân. Tuy nhiên quan niệm như vậy là hoàn toàn sai lầm thậm chí là vi phạm quyền
tự do kinh doanh của công dân vì Nhà nước không thể dùng qui định pháp luật để hạn
chế việc lựa chọn doanh nghiệp theo nhu cầu của công dân trong khi đó là quyền
đương nhiên và tất yếu khách quan mà các nước khác đang thực hiện. Chính từ đây,
pháp luật thương mại đã nhanh chóng khắc phục hạn chế này. Một mô hình doanh
nghiệp mới – mô hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân ra đời đã làm mở
rộng hơn, hoàn thiện hơn sự thiết kế các mô hình doanh nghiệp cho các nhà đầu tư
trong nước thỏa sức lựa chọn.
Mô hình công ty này được qui định tại Điều 63 LDN năm 2005 với các
đặc điểm cơ bản như sau:
1.
2.

Do một cá nhân làm chủ sở hữu.
Cá nhân là chủ sở hữu chịu trách nhiệm về tài sản và các nghĩa vụ

tài chính của công ty trong phạm vi vốn điều lệ.
3. Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân.
4.
Không được huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu.
5.
Cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ gồm: Chủ tịch công ty, giám đốc
hoặc Tổng giám đốc.
Hai là: Luật doanh nghiệp năm 2005 còn xác lập khung khổ pháp lý cho
nhóm công ty. Pháp luật thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức đã qui định khá sớm vào
khoảng cuối thế kỷ XX trong pháp luật công ty nước mình về nhóm công ty. Tuy
nhiên, pháp luật Việt Nam mới chỉ thực sự đề cập đến khái niệm này ở Luật doanh

trình thành lập doanh nghiệp:
Để tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do thành lập doanh nghiệp
thì thủ tục thành lập và đăng ký doanh nghiệp càng đơn giản hóa bao nhiêu thì việc
thực hiện quyền này của các chủ thể lại càng thuận tiện bấy nhiêu. Từ sau khi Luật
16


doanh nghiệp năm 2005 ra đời, Nhà nước ta đã ban hành hai văn bản hướng dẫn chi
tiết về thủ tục đăng ký kinh doanh ( Nghị Định 88/2006/NĐ-CP), thủ tục đăng ký
doanh nghiệp (Nghị định 43/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định 88/2006/NĐ-CP), chỉ so
sánh giữa hai văn bản này cũng đã thấy rõ sự đơn giản hóa thủ tục đăng ký thành lập
doanh nghiệp của pháp luật nước ta.
Thứ nhất, sự đơn giản hóa này trước tiên được thể hiện ở sự hạn chế đến
mức tối đa sự can thiệp của nhà nước vào quá trình đăng ký doanh nghiệp và hoạt
động của doanh nghiệp.
Một, Luật doanh nghiệp đã mở rộng việc áp dụng các chế định tùy nghi.
Chế định tùy nghi là những chế định mà ở đó qui định pháp luật chỉ mang tính hướng
dẫn, không có bất kỳ sự ép buộc các chủ thể thực hiện hay không thực hiện hành vi
nhất định. Tăng cường áp dụng các chế dịnh tuỳ nghi thể hiện rõ nét xu hướng đề cao
quyền tự quyết doanh nghiệp, giảm sự can thiệp của nhà nước vào quá trình thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động của doanh nghiệp.
Hai, Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn đã từng bước xóa bỏ
những rào cản , đơn giản hóa tối đa hồ sơ, trình tự, thủ tục gia nhập thị trường của các
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Cụ thể: Chỉ qui định một cơ quan duy nhất có
thẩm quyền qui định cụ thể về danh mục, ngành nghề kinh doanh bị cấm (khoản 3
Điều 7LDN) để tránh sự chồng chéo giữa các danh mục do các cơ quan khác nhau ban
hành. Qui định về thẩm quyền của cơ quan ban hành các danh mục các ngành nghề
kinh doanh có điều kiện thuộc về Thủ tướng Chính Phủ (Điều 8, NĐ 102) còn các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân không được qui định về
ngành nghề kinh doanh có điều kiện kinh doanh (khoản 5 Điều 7 LDN). Đối với các

đặc biệt là những nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
III. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CỤ THỂ
NHẰM HOÀN THIỆN QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TỰ
DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP:
1.Một số hạn chế của qui định pháp luật hiện hành về quyền tự do
thành lập doanh nghiệp:
Luật doanh nghiệp năm 2005 là một bước tiến bảo đảm quyền tự do kinh
doanh của các nhà đầu tư, tuy nhiên trên thực tế thực hiện và nghiên cứu, nhận thấy
Luật doanh nghiệp còn có những qui định chưa thực sự hợp lý, chưa rõ ràng về những
nội dung quyền này của các chủ thể:
18


Thứ nhất, LDN năm 2005 hiện nay chưa ghi nhận tư cách pháp nhân của
doanh nghiệp tư nhân. Điều này tạo tâm lý còn lo âu bất ổn đối với các nhà đầu tư hơn
nữa khi so sánh giữa mô hình doanh nghiệp là công ty hợp danh với mô hình doanh
nghiệp tư nhân, chúng ta nhận thấy giữa chúng có khá nhiều điểm tương đồng, nhất là
điểm tương đồng về chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa
vụ tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên công ty hợp danh thì có tư cách pháp nhân
còn doanh nghiệp tư nhân thì không có. Điều này vô hình chung đã tạo nên sự bất bình
đẳng giữa các chủ thể kinh doanh có đặc điểm tương đối giống nhau, tạo ra sự bất
thống nhất về nội dung của Luật doanh nghiệp.
Thứ hai, chế định về nhóm công ty còn quá sơ sài và ít ỏi. Chế định
nhóm công ty có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và mở rộng quyền tự do kinh
doanh nói chung và quyền tự do thành lập doanh nghiệp nói riêng của các chủ thể.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có nhiều công ty vừa và nhỏ muốn hợp tác, liên
kết làm ăn theo mô hình nhóm công ty để đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt như
ngày nay song họ còn ngần ngại vì qui định của pháp luật còn lỏng leo, sơ sài. Chính
vì vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần qui định rõ ràng cụ thể hơn về chế định này
theo hướng: làm rõ thế nào là công ty mẹ, công ty con, đặc trưng mối quan hệ pháp lý

nghiệp ở các địa phương nhằm thông qua đó giúp cho người dân nhận thức đầy đủ, rõ
ràng về quyền lợi, nghĩa vụ của mình khi tiến hành hoạt động thành lập doanh nghiệp.
Chỉ có như vậy, họ thật sự chủ động tiến hành quyền tự do thành lập doanh nghiệp của
mình, giúp cho các qui định của pháp luật được hiện thực hóa trên thực tế.
Thứ tư, cần tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của đội
ngũ làm công tác đăng ký kinh doanh đáp ứng yêu cầu của hoạt động đăng ký kinh
doanh luôn cần nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra cũng cần thiết phải phát triển hệ
thống cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp về số lượng, đồng thời thực hiện đồng bộ
về chất lượng chung của cả hệ thống, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để đảm
bảo quản lý chung hiệu quả các doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc ( chẳng hạn để
quản lý tên doanh nghiệp, nếu ứng dụng mạng internet sẽ nhận biết được ngay tên
doanh nghiệp nào đã có, giúp các chủ thể đăng ký doanh nghiệp nhanh chóng hoàn
thiện tên mới).

LỜI KẾT:

20


Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, với tư cách là thành viên của tổ
chức kinh tế thế giới (WTO), việc xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, bảo
đảm quyền tự do kinh doanh nói chung, quyền tự do thành lập doanh nghiệp nói riêng
cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài là một đòi hỏi bức thiết mang tính tất
yếu khách quan đối với Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu này, Nhà nước và pháp luật
thương mại Việt Nam không ngừng củng cố, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
thương mại nói chung, pháp luật về quyền tự do thành lập doanh nghiệp nói riêng
( bao gồm các chế định về các loại hình doanh nghiệp, về đối tượng được thành lập và
quản lý doanh nghiệp, cải cách thủ tục đăng ký doanh nghiệp ngày càng gọn nhẹ, đơn
giản nói riêng) đồng thời tăng cường áp dụng các giải pháp hữu hiệu nhằm thực thi
các chế định nói trên để quyền tự do thành lập doanh nghiệp của các chủ thể không chỉ


Luật đầu tư năm 2005.

5.

Nghị định 102/2010/NĐ-CP ban hành ngày 01 tháng 10 năm 2010 của
Chính Phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số Điều của Luật doanh
nghiệp.

6.

Nghị định 43/2010/NĐ-CP ban hành ngày15 tháng 04 năm 2010 của
Chính Phủ về thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

7.

Đông Ngọc Ba (2005), Cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện
pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2005.

8.

Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp
luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
năm 2004.

9.

Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh, NXB
Tư pháp, năm 2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status