Những quy định chung về biện pháp tạm giam trong BLTTHS Việt Nam . - Pdf 34

I, Những quy định chung về biện pháp tạm giam trong BLTTHS
Việt Nam.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hay bị can, bị
cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trong mà BLHS quy định hình phạt tù
trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
1. Mục đích áp dụng biện pháp tạm giam
Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của
tố tụng hình sự. Do đó, ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can,
bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết
vụ án thì ở mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng biện pháp này còn có mục đích
riêng nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng. Chẳng hạn,
việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan
điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ
khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, đồng thời
cũng giúp cho việc quản lý giám sát bị can được chặt chẽ, việc tạm giam bị cáo sau khi
tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được
thuận lợi.
2. Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo.
Những người không phải là bị can, bị cáo thì không bị áp dụng biện pháp tạm giam.
Khoản 1 Điều 88 BLTTHS 2003 quy định những trường hợp được áp dụng biện pháp
tạm giam như sau:
Trường hợp thứ nhất: Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc
phạm tội rất nghiêm trọng. Khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 quy định: “tội phạm rất nghiêm
trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Như vậy, khi bị can, bị cáo phạm
tội gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt rất lớn cho xã hội, thì có thể áp dụng biện pháp

theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng; 4, bị
can, bị cáo bỏ việc làm… Những dấu hiệu cho thấy bị can, bị cáo sẽ cản trở điều tra,
truy tố, xét xử: 1, bị can, bị cáo chuẩn bị tiêu hủy vật chứng, che dấu, xóa các dấu vết
của tội phạm; 2, bị can, bị cáo mua chuộc, đe dọa người làm chứng để họ khai báo gian
dối; 3, bị can, bị cáo mua chuộc người giám định để họ ra kết luận giám định gian dối;
4, bị can, bị cáo đe dọa người bị hại để họ không dám cung cấp tài liệu cho cơ quan tiến
hành tố tụng; 5, bị can, bị cáo bàn bạc, thông đồng với các bị can, bị cáo khác trong vụ
án nhằm khai báo gian dối đánh lừa cơ quan tiến hành tố tụng… Những dấu hiệu cho
phép dự báo khả năng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội: 1, bị can, bị cáo phạm tội chuyên
nghiệp, có tổ chức, là phần tử lưu manh, côn đồ, có nhiều tiền án, tiền sự, phạm tội
nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; 2, bị can, bị cáo đã có những hành vi xảo
quyết, hung hãn như đe dọa người tố cáo, đe dọa trả thù người bị hại và có thể thực hiện
sự đe dọa đó; 3, bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương
2


tiện hay tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm; 4, bị can, bị cáo đã
có hành vi kích động, xúi giục người khác phạm tội (1).
Ngoài ra cần chú ý tới một số trường hợp sau: Khoản 1 Điều 25 Luật Bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 26/11/2003 quy định: “Người bị tước quyền bầu cử
theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp
hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam, và người mất năng lực hành vi dân sự thì
không được ghi tên vào danh sách cử tri”. Điều 31 Luật này còn quy định: “Những
người sau đây không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân: 1. Người thuộc các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật này, 2. Người đang bị khởi tố về hình
sự…”. Khoản 1 Điều 23 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội 2001 cũng quy định: “Người bị
tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người
đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành
vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri”. Điều 29 Luật này còn quy định:
“Những người sau đây không được ứng cử đại biểu Quốc hội: 1. Người thuộc các

bệnh nặng ” có thể hiểu là người đã được giám định y khoa kết luận mắc những bệnh
nếu bị tạm giam thì sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, lao phổi nặng, bại
liệt…
Tóm lại, tạm giam là biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với những người
đã có quyết định khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
4. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam
Khoản 3 Điều 88 BLTTHS 2003 quy định những người có thẩm quyền ra
lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì có quyền ra lệnh tạm giam. Theo khoản 1 Điều
80 BLTTHS 2003 những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam bao gồm:
“a, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các
cấp;
b, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
c, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao, Hội đồng xét xử;
d, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp”
Lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trược khi thi hành. Thời hạn mà Viện kiểm sát
phải xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ
quan điều tra là ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và
hồ sơ tài liệu liên quan đến việc tạm giam. Viện kiểm sát phải hoàn trả lại hồ sơ cho Cơ
quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc phê chuẩn dù có phê chuẩn hay không.
5. Thời hạn để tạm giam
a. Thời hạn tạm giam để điều tra
Về thời hạn tạm giam đề điều tra Điều 120 BLTTHS 2003 quy định: “Thời
hạn tạm giam bị can đề điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng,
không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội
phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Quy định tại khoản 2 Điều 120 BLTTHS về gia hạn tạm giam được như
sau:
“a, Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá

trước Tòa án bằng bản cáo trạng, thì Viện kiểm sát có thể áp dụng biện pháp tạm giam,
nhưng thời hạn tạm giam không được quá 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và
tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn
thêm, nhưng không được quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày
đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
c. Tạm giam để xét xử
Đối với việc tạm giam bị cáo để chuẩn bị xét xử, thì sau khi nhận được hồ
sơ vụ án từ Viện kiểm sát, theo quy định tại Điều 177 BLTTHS 2003, Chánh án hoặc
Phó Chánh án có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm
5


giam. Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật này, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử
không được quá 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm
nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể gia hạn thêm
nhưng không được quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm
trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa, thời hạn tạm
giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra
lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù, nhưng đến ngày kết thúc
phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì theo quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 4,
khoản 5 Điều 227 BLTTHS 2003 thì Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định trong bản án
việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Trong trường hợp Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm
giam bị cáo là cần thiết, thì theo quy định tại khoản 5 Điều 250 BLTTHS 2003, Hội

không phải chấp hành chế độ của người thi hành hình phạt tù mà chỉ chấp hành các quy
định của Chính phủ về chế độ đi lại, sinh hoạt, nhận quá, liên hệ với gia đình trong thời
gian bị tạm giam.
c. Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với thân nhân của người bị tạm giam
Khi áp dụng biện pháp tạm giam, Điều 90 BLTTHS 2003 có quy định nếu
người bị tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc người thân thích là người
tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giam giao
những người đó cho người thân thích chăm nom. Trường hợp người bị tạm giam không
có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giam những người đó cho chính quyền
sở tại chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà
không có người chăm nom bảo quản thì cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải áp dụng
những biên pháp trông nom, bảo quản thích đáng.
Sau khi đã áp dụng những biện pháp bảo hộ đối với thân nhân và tài sản, cơ
quan đã ra quyết định tạm giam phải thông báo cho người bị tạm giam biết những biện
pháp đã được áp dụng (2).

II. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam và nguyên nhân
của những tồn tại
1. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam
Theo số liệu thống kê của tác giả Nguyễn Hải Phùng trong bài “Thực trạng
và những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát về tạm giữ, tạm giam” trong
tạp chí Kiểm sát số 08/2008 cho thấy thời gian mấy năm gần đây việc áp dụng biện pháp
tạm giam đã đạt được những hiệu quả nhất định góp phần có hiệu quả vào việc phát
hiện, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm. Trong những năm gần đây đã chấm dứt hoàn
toàn tình trạng tạm giam không có lệnh hợp pháp và tạm giam theo danh sách trích
ngang. Cơ quan có thẩm quyền đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như
cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, tỷ lệ này tăng từ 9,2% lên 12% đã làm giảm số tải số
lượng bị can áp dụng biện pháp tạm giam (2000 - 2007). Việc áp dụng biện pháp tạm
giam đã thận trọng hơn nên số người bị tạm giam đưa ra truy tố, xét xử đã tăng lên, việc
phân loại người bị tạm giam được chặt chẽ nên đã hạn chế tình trạng thông cung giữa

trường hợp trốn ra lại tiếp tục phạm tội (5).
2. Nguyên nhân của những tồn tại
Sở dĩ có tình trạng tạm giam tràn lan, không đúng đối tượng, không có
lệnh, quá thời hạn và không đúng với các quy định về chế độ tạm giam… nêu ở trên là
do nguyên nhân chủ quản thuộc về những người có trách nhiệm, quyền hạn trong việc ra
lệnh tạm giam, những người có trách nhiệm trong trại tạm giam, do công tác xây dựng
pháp luật chưa đầy đủ, kịp thời… và do điều kiện cơ sở vật chất của các trại giam hiện
nay cũng như do công tác kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực tạm giam không được
thường xuyên, chặt chẽ.
a. Nguyên nhân chủ quan
8


Nhận thức của các cơ quan và những người có trách nhiệm trong việc bắt
và ra lệnh tạm giam còn hạn chế, chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp
luật về thủ tục, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam. Ở một số địa phương lực lượng tiến
hành tố tụng vừa yếu lại thiếu so với số lượng vụ án cần giải quyết, dẫn đến việc giải
quyết các vụ án còn chậm, việc tồn đọng bị kéo dài, bị can, bị cáo tạm giam quá hạn.
Trình độ của những cán bộ làm công tác ở các trại tạm giam chưa đồng
đều, thậm chí có nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, dẫn đến vi phạm pháp luật do kém
hiểu biết, không tiến hành thường xuyên chế độ kiểm tra, kiểm soát bảo vệ an toàn nơi
giam giữ cũng như không quản lý, theo dõi chặt chẽ và thông báo kịp thời đến cơ quan
có trách nhiệm về việc người tạm giam quá hạn.
Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giam chưa
được Viện kiểm sát ở nhiều địa phương tiến hành thường xuyên và đều khắp nên không
phát hiện và có biện pháp khắc phục kịp thời những vi phạm xảy ra.
Công tác quản lý, theo dõi những người bị tạm giam chưa được duy trì chặt
chẽ nên còn để xảy ra tình trạng bỏ trốn hoặc chết do dịch bệnh, do đánh lẫn nhau.
Những điều kiện cần thiết bảo đảm cho công tác tạm giam chưa được chú
trọng đúng mức. Trại tạm giam nhiều nơi bị xuống cấp nhưng không được xây dựng,

tạm giam
Nghị quyết số 08/NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới có nêu: “tăng cường công tác kiểm sát việc bắt,
giam, giữ,, bảo đảm đúng pháp luật, những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam
thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, phát hiện và xử lý kịp thời
các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ” (6). Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “Xác định rõ căn cứ tạm giam,
hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp đối
tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam”.
Với chủ trương trên thì việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS về việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng
cần phải được chú ý khi sửa đổi, bổ sung BLTTHS 2003. Về việc sửa đổi, bổ sung các
quy định của BLTTHS 2003 về biện pháp ngăn chặn tạm giam, tôi xin đưa ra một số ý
kiến như sau:
1. Về căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam và việc hạn chế áp dụng biện
pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm:
Theo quy định của BLTTHS hiện hành (Điều 88, Điều 303), căn cứ để áp
dụng hoặc không áp dụng biện pháp tạm giam dựa vào một số loại tiêu chí như: dựa vào
sự phân loại tội phạm theo quy định của BLHS, dựa vào khả năng bị can, bị cáo cos thể
trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, dựa vào một
số yếu tố về nhân thân, lai lịch như tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng thai sản hoặc
đang nuôi con nhỏ của bị can, bị cáo là phụ nữ… BLTTHS hiện hành quy định các
trường hợp có thể tạm giam như mục 1.3 phần I, tôi đồng ý với ý kiến của tác giả Lê
Minh Tuấn trong bài viết “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về tạm giam nhằm
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” đăng trên tạp chí Kiểm sát số 09/2008: đó là quy định
hiện hành của BLTTHS về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam là chưa thực sự phù hợp
và chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cần xuất phát từ mục
đích của việc áp dụng biện pháp tạm giam để xác định căn cứ áp dụng biện pháp ngăn
chặn này một cách phù hợp, đồng thời cũng để tránh việc áp dụng biện pháp tạm giam
10

những loại tội cụ thể nào và trong những trường hợp nào. Trong điều kiện thực tế ở
nước ta hiện nay, có thể nghiên cứu để hạn chế việc tạm giam bị can, bị cáo đối với một
số loại tội phạm sau:
+ Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
+ Nhóm tội phạm môi trường
+ Một số tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu (trừ các tội: cướp tài
sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản…)
+ Một số tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng và trật tự quản lý hành chính.
11


+ Một số tội phạm thuộc nhóm tội phạm về chức vụ và nhóm tội phạm xâm
phạm hoạt động tư pháp.
Thêm vào đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 88 BLTTHS chỉ phụ nữ có
thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi mới được áp dụng quy định không tạm giam.
Trường hợp đứa trẻ dưới 36 tháng tuổi nhưng không còn mẹ chỉ có cha thì sao? Người
cha có được miễn tạm giam không? Hoặc trường hợp là người duy nhất phải chăm sóc
người thân (cha, mẹ, anh chị em ruột là người tàn tật, già yếu, người sắp chết không thể
tự sinh hoạt như những người bình thường được). Để bảo đảm tính nhân đạo, tiến bộ và
vì con người, theo tôi nên bổ sung vào khoản 2 Điều 88 trường hợp không tạm giam:
“người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người duy nhất có người thân là người tàn
tật, già yếu không tự sinh hoạt được”
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì cùng
với việc hạn chế tạm giam đối với một số loại tội, cần thiết phải tăng cường hiệu quả và
tính khả thi của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Từ những phân tích trên, tác giả cũng xin đề xuất những căn cứ áp dụng
biện pháp tạm giam như sau:
“Điều… tạm giam:
1.Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau

sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án…”

2. Về thẩm quyền ra lệnh tạm giam
Theo quy định tại khoản 1 Điều 80 và khoản 3 Điều 88 BLTTHS những
người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan
điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
các cấp. Theo tôi, quy định phạm vi chủ thể được ra lệnh tạm giam như vậy là quá rộng.
BLTTHS cần sửa đổi, bổ sung theo hướng thu hẹp phạm vi đối tượng chủ thể được ra
lệnh tạm giam. Trong giai đoạn điều tra, việc ra lệnh tạm giam chỉ nên giao cho Viện
Trưởng Viện kiểm sát. Thay vì việc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra có
quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam như quy định của BLTTHS
hiện hành thì chỉ nên quy định cho các chủ thể này có nghĩa vụ thu thập các tài liệu,
chứng cứ để đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định bắt bị can để tạm giam và
ra lệnh tạm giam. Vì biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn đặc biệt nên cũng
không nên giao cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát được quyền ra lệnh bắt bị can để
tạm giam và ra lệnh tạm giam mà chỉ nên giao thẩm quyền này cho Viện trưởng Viện
kiểm sát. Chỉ trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát vắng mặt thì một Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát được Viện trưởng Viện kiểm sát ủy quyền mới được ra lệnh bắt bị
can để tạm giam và ra lệnh tạm giam. Trong giai đoạn hồ sơ vụ án chuyển Tòa án chuẩn
bị xét xử thì chỉ nên quy định cho thẩm phán giữ chức vụ Chánh án Tòa án các cấp và
Chánh án Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao được quyền ra lệnh bắt bị cáo để tạm
giam và ra lệnh tạm giam. Tại phiên tòa, thẩm quyền này thuộc về Hội đồng xét xử.
Theo đó về thẩm quyền ra lệnh tạm giam nên sửa như sau:
“Điều … Thẩm quyền ra lệnh tạm giam
Trong các giai đoạn tố tụng trước khi xét xử (giai đoạn khởi tố, điều tra,
truy tố), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các
cấp tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra
13


cơ quan điều tra. Để khắc phục bất cập này và không làm bó tay Cơ quan điều tra theo
tôi cần sửa lại quy định về thời hạn điều tra, tạm giam để điều tra quy định tại Điều 119
(về gia hạn điều tra) và quy định tại Điều 120 (về gia hạn tạm giam để điều tra) của
BLTTHS hiện hành cần sửa đổi, bổ sung theo hướng sau:
- Giao thẩm quyền gia hạn điều tra và gia hạn điều tra tạm giam để điều tra
cho Tòa án (phù hợp với quy định chung và thẩm quyền áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp tạm giam và gia hạn tạm giam của Tòa án).
14


- Khắc phục mâu thuẫn giữa nội dung quy định tại Điều 119 (về gia hạn
điều tra) và quy định tại Điều 120 (về gia hạn tạm giam để điều tra) với thời gian tối đa
là 20 tháng

15


CÁC CHÚ THÍCH
(1) Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, tác giả: Trần Quang Tiệp,
nxb Chính trị quốc gia, năm 2005.
(2) Giáo trình Tố tụng hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Tư pháp, năm 2006.
(3) Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục, chấp
hành hình phạt tù, tạp chí Kiểm sát số 08/2008, tác giả: Tô Thị Mình Tâm.
(4) Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tạm giữ,
tạm giam, tạp chí Kiểm sát số 08/2008, tác giả: Nguyễn Hải Phùng.
(5) Từ thực tiễn công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục, chấp
hành hình phạt tù, tạp chí Kiểm sát số 08/2008, tác giả: Nguyễn Hải Phùng.
(6) Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
trong BLTTHS, tạp chí Kiểm sát.
(7) Phòng ngừa tình trạng oan sai trong tố tụng hình sự, Luận văn Thạc sĩ, tác giả: Đặng

tạm giam, tác giả: Nguyễn Hải Phùng, tạp chí Kiểm sát số 08/2008.
14, Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những biện pháp ngăn chặn, tạp chí
Kiểm sát, số 20/2007, tác giả: Mai Bộ.
15, Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về tạm giam nhằm đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp, tác giả Lê Minh Tuấn, tạp chí Kiểm sát số 09/2008.

17


MỤC LỤC

I, Những quy định chung về biện pháp tạm giam trong
BLTTHS Việt Nam…………………………………………………. .....1
1. Mục đích áp dụng biện pháp tạm giam……………………………... 1
2. Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam………………….. 2
3. Những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam…………..... 4
4. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam……………………………………… 4
5. Thời hạn để tạm giam……………………………………………… .. 5
6. Một số vấn đề liên quan đến tạm giam……………………………… 6

II. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam và nguyên nhân
của những tồn tại……………………………………………….7
1. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam……………………………. 7
2. Nguyên nhân của những tồn tại…………………………………….. .8

III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về biện
pháp tạm giam…………………………………………………10
1. Về căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam và việc hạn chế
áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm:……….…... 12
2. Về thẩm quyền ra lệnh tạm giam……………………………...….... 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status