AFTA VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẢI CÁCH THUẾ
QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA
I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
1. Từ hiệp định ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) đến CEPT - sự hình
thành AFTA.
Ngay từ thời kỳ đầu, các nước ASEAN đã thấy được tầm quan trọng to lớn,
vì thế đã chú trọng xây dựng, tăng cường liên kết kinh tế nói chung, thương mại
nói riêng giữa các nước trong khối.
Hiệp định ưu đãi thương mại là văn kiện quan trọng đầu tiên của ASEAN
nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực. Hiệp định này không đặt ra những mục
tiêu đặc biệt như các hiệp định ưu đãi buôn bán khác của các nước đang phát triển,
mà cố gắng thiết lập một cơ chế giúp hoạt động thương mại trong phạm vi ASEAN
được tự do hoá từng bước, phù hợp với khả năng của thành viên.
Ban đầu, các nước thực hiện ưu đãi với từng sản phẩm được lựa chọn theo
phương pháp lập bảng ma trận và phương pháp tự nguyện. Theo Hiệp định, tổng số
71 mặt hàng được ưu đãi, trong đó 21 mặt hàng được hưởng quy chế của PTA theo
phương pháp ma trận và 50 mặt hàng theo phương pháp tự nguyện.
Sau năm 1980 các nước ASEAN hướng vào tự do hoá thương mại hơn nữa,
chuyển từ phương pháp tự nguyện và lựa chọn từng sản phẩm sang ưu đãi toàn bộ
với mọi thành viên, hiệu quả hơn. Mức giảm 20% thuế cho tất cả các thành viên
được thông qua đối với 6000 sản phẩm với giá trị dưới 500.000 USD. Mức giới
hạn này tăng dần từ 500.000USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu. Năm 1984
người ta chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị buôn
bán vượt 10 triệu USD. Tới tháng 6 -1986, có tất cả 12647 sản phẩm của nước
ASEAN được hưởng ưu đãi theo PTA. Một nửa số nước này giảm thuế 20 - 25%
các hàng khác nhau. Giới hạn ưu đãi thuế trung bình đối với từng quốc gia khác
nhau.
Ví dụ: Singapore có chế độ tự do hoá thương mại rộng rãi nên ngay từ trước
khi thực hiện PTA, nhiều mặt hàng nhập khẩu đã không bị đánh thuế. Hầu như
95% mặt hàng nằm trong Danh mục ưu đãi của Singapore đã có thuế suất ở mức
0%, khiến cho tỷ lệ miễn giảm trung bình là 2,3%
nước thành viên cam kết thực hiện cắt giảm số lượng mặt hàng nằm trong danh
mục hạn chế chỉ còn lại 10% và giá trị của chúng không vượt quá 50% tổng giá trị
buôn bán trong khu vực. Thủ tục đưa các mặt hàng mới vào danh sách được ưu đãi
của PTA cũng thay đổi từ việc xem xét hàng năm sang chương trình 5 năm (từ
1988 đến 1992).
Sau một thời gian thực hiện chương trình này, đã có một số tiến bộ. Số mặt
hàng ưu đãi tăng, mức tăng thay đổi theo từng nước.
Tuy nhiên, không phải cả các nước đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời
điểm đó, sự đóng góp của PTA đối với buôn bán trong khu vực, xét về giá trị tuyệt
đối cũng như tỷ trọng vẫn còn ít. Mắc tăng nhapạ khẩu và xuất khẩu giữa các nước
còn thấp. Ví dụ tỷ trọng xuất khẩu của Indonesia tới các thành viên theo PTA chỉ
tăng từ 1,4% năm 1986 lên 3,5% năm 1989. Trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu còn
thấp hơn, từ 1,2% lên 1,6%. Tuy nhiên nhịp độ tăng trưởng này cũng vào loại khá
so với mức tăng trưởng chung của toàn thế giới.
Nhìn chung, tuy có một số tiến bộ nhưng tốc độ tự do hoá thương mại thực
hện trong khuôn khổ PTA vẫn còn rất chậm và hạn chế. Những biện pháp mở rộng
buôn bán thực chất chỉ là những biện pháp nhằm những mục tiêu ngắn hạn.
Do vậy, các nước thành viên ASEAN thấy cần thiết phải có một cơ chế hợp
tác mang tính thể chế, thống nhất tiêu chí phối hợp hành động, tăng mức ưu đãi,
đơn giản hoá các thủ tục, nhắm tới những mục tiêu xa hơn.
Nhất là sau chiến tranh lạnh, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của
hàng loạt các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Âu, các quốc gia
ASEAN ngày càng có nhều đối thủ cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài và cạnh
tranh thương mại. Các nền kinh tế ASEAN đứng trước những thách thức mới do sự
xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực hơn hẳn về quy mô, tiềm năng và
trình độ phát triển như EU, NAFTA.
Trước sức ép của chủ nghĩa khu vực và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế
thế giới, ngày càng có nhiều dấu hiệu làm mất đi các lợi thế cạnh tranh của các
nước ASEAN, buộc các nước ASEAN phải có sự thống nhất phối hợp hành động,
nỗ lực tìm những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội bộ và tự do hoá
Năm 1993, ASEAN đã đề ra một kế hoạch giảm thuế quan để thành lập khu vực tự
do thương mại ASEAN (AFTA), kế hoặch AFTA đã đạt một bước lớn hồi tháng
1/2002 khi 6 nước thành viên cũ ASEAN và cũng là 6 nước ký AFTA đầu tiên là
Brunây, Inđonêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan đã giảm thuế quan ở
mỗi nước xuống từ 0-5%. Sáu nước này chiếm hơn 96% kim ngạch thương mại
trong khu vực.
Mục tiêu giảm thuế xuống từ 0-5% đã được các nước ASEAN đẩy nhanh
gấp đôi, một phần là để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đẩy
khu vực này rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Các nhà lãnh đạo
ASEAN đã quyết định lấy năm 2010 là năm huỷ bỏ hoàn toàn thuế đối với buôn
bán của các nước thành viên cũ trong ASEAN. Trong khi thời hạn chót đối với các
nước thàh viên mới là vào năm 2015. Mức thuế trung bình đối với hàng hoá buôn
bán trong khu vực ASEAN ước tính vào khoảng 3,5%, giảm so với 12,76% khi
AFTA được khởi xướng năm 1993.
Theo hiệp định tự do thương mại ASEAN, những hàng hoá buôn bán giữa
các nước thành viên ASEAN được miễn thuế nếu những mặt hàng này có tỉ lệ nội
địa ít nhất 40%. Ông Severino cho biết các nước thành viên ASEAN nên đề ra thời
hạn chính xác hơn để các nước này giảm thuế xuống 0% với tốc độ nhanh hơn.
Ông cho biết ngoài thời hạn chót là năm 2010-2015 để các nước thành viên cũ và
mới trong ASEAN bãi bỏ hoàn toàn thuế, một tiêu chuẩn khác để thực hiện kế
hoạch AFTA là vào năm 2003 giảm xuống 0% thuế đối với các mặt hàng hiện bị
đánh thuế tới 60%. Ông cho rằng ASEAN sẽ phải tăng cường nỗ lực hội nhập khu
vực do các khu vực khác nên nỗ lực bãi bỏ hàng rào phi thuế quan đối với buôn
bán trong khu vực , trong đó có các quy định kiểm dịch y tế và phân phối độc
quyền . Kim ngạch thương mại trong khu vực Châu á, đạt hơn 700 tỉ USSD. Các
nhà lãnh đạo ASEAN đang có kế hoạch thành lập một khu vực tự do thương mại
Đông á lớn bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản và Hàn Quốc, trở thành một
thị trường gồm hơn 2 tỉ người.
Bằng cách tạo dựng nền tảng thuế quan chung trong khuôn khổ AFTA, các
quốc gia thành viên ASEAN sẽ có thể tạo ra được sự tương hợp, phát huy được lợi