NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP WTO
1. Hàng nông sản và vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.1. Khái niệm hàng nông sản
Hàng nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Nếu hiểu theo nghĩa
hẹp thì nông nghiệp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông
nghịêp. Theo nghĩa rộng thì nó còn bao gồm cả ngành lâm nghịêp và thủy sản.
1.2. Phân loại hàng nông sản
Các mặt hàng nông sản tạm thời được chia thành hai nhóm:
Nông sản nhiệt đới, chủ yếu từ các nước đang phát triển như: chè, cà phê,
ca cao, bông, chuối, xoài…
Nông sản ôn đới, chủ yếu từ các nước phát triển như: bột mỳ, ngô, thịt,
sữa…
1.3. Đặc điểm của mặt hàng nông sản
Tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là một đặc thù
điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, vì một mặt quá trình sản xuất nông
nghiệp là qúa trình sản xuất kinh tế gắn liền với quá trình tái sản xuất tự nhiên,
thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn
toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Mặt khác do sự
biến thiên về điều kiện thời tiết, khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích ứng nhất
định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Vì vậy mà hàng nông
sản mang tính thời vụ cao.
Tính khu vực: Sản xuất nông nghiệp đựơc tiến hành trên địa bàn rộng lớn,
phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu
có đất đai và lao động là ở đó tiến hành sản xuất nông nghiệp. Nhưng mỗi vùng,
mỗi quốc gia có điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết rất khác nhau nên hoạt động
sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau, sản phẩm nông nghiệp cũng khác nhau.
Vì vậy sản phẩm nông nghiệp mang tính khu vực rõ rệt.
Tính phân tán: Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực cao,
nên hàng nông sản phân tán ở vùng nông thôn và trong tay hàng triệu nông dân
đã trở thành một trở ngại trong việc thu mua hàng nông sản của các doanh
Trong quá trình hội nhập kinh tế như hiện nay, đẩy mạnh hoạt động thương
mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng trong nền kinh tế mở là việc làm hết
sức cần thiết và cấp bách. Nó mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp và
người tiêu dùng trên thế giới. Nhờ xuất khẩu mà các doanh nghiệp có thể mở
rộng quy mô sản xuất, từng bước tăng trưởng và phát triển, từ đó đáp ứng đầy đủ
các nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước với những đơn hàng có giá trị
lớn, nó làm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế.
Với sự biến động không ngừng của thị trường và nhu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng ngày càng tăng thì đây chính là cơ hội để các doanh nghiệp mở rộng thị
trường, đa dạng hoá các loại sản phẩm, tăng quy mô sản xuất, tăng thị phần và
sự ảnh hưởng của doanh nghiệp trên thị trường…do đó có thể giảm thiểu được
các rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tăng
cường xuất khẩu để thu lợi nhuận, tăng số vòng quay của vốn, tăng lượng thu
ngoại tệ tù đó giúp doanh nghiệp có điều kiện đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu,
nhập về các máy móc, công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc
đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4.1.2. Toàn cầu hóa và hội nhập cần phải tăng cường xuất khẩu
Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và liên kết giữa các khu vực, các quốc gia
với nhau đang diễn ra mạnh mẽ, hội nhập và tự do hoá thương mại đang trở
thành trào lưu lôi cuốn nhiều nước tham gia. Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đang
tích cực tham gia, nhưng những đóng góp của Việt Nam trên thị trường quốc tế
còn nhỏ, vì vậy, xuất khẩu là việc làm cần thiết để nâng cao vị thế của ta trên thị
trường quốc tế. Toàn cầu hoá và hội nhập cho phép các doanh nghiệp được
hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi của các nước dành cho Việt Nam khi gia
nhập WTO, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường bên ngoài
dễ dàng hơn.
Mặt khác, toàn cầu hoá và hội nhập còn giúp cho các doanh nghiệp có nhiều
cơ hội kinh doanh hơn, mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài, học tập
phong cách quản lý, tiếp thu tiến bộ khoa học và công nghệ quản lý kinh doanh,
Nam có tính cần cù, sáng tạo, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ nhanh
chóng, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Đây là những điều kiện
thuận lợi cho Việt Nam trở thành một nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến,
hiện đại…cung cấp khối lượng lớn các sản phẩm của ngành nông nghiệp nhất là
nông sản cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Về các chính sách của nhà nước: ngoài những yếu tố thuận lợi trên, với
quan điểm của Đảng và Nhà nước, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chính vì
vậy việc sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàng nông sản cũng rất được chú trọng.
Nhà nước ưu tiên đầu tư trong nước và nước ngoài cho sản xuất nông nghiệp
nhất là đối với cây trồng lâu năm như: cà phê, cao su…
Với những tiềm năng to lớn như vậy, triển vọng sản xuất và xuất khẩu hàng
nông sản Việt Nam hiện nay và trong tương lai có nhiều triển vọng.
Việc tăng cường xuất khẩu hàng nông sản sẽ giúp khai thác có hiệu quả các
tiềm lực sẵn có, tạo công ăn việc làm cho ngưởi lao động, tăng thu nhập cho
người dân góp phần xoá đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
1.4.1.4. Nhu cầu về hàng nông sản trên thế giới có su hướng tăng
Theo đánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
(FAO), từ nay đến năm 2010 nhu cầu về hàng nông sản trên thế giới và Việt Nam
sẽ tăng lên nhanh chóng.
Trước hết, do thời tiết ngày càng xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó
khăn do rét đậm, rét hại kéo dài, ảnh hưởng đến cây công nghiệp và cây lương
thực…Như ở Việt Nam, thời tiết xấu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ gieo
cấy lúa đông xuân ở phía Bắc và duy trì phát triển đàn gia súc…nhất là vào cuối
năm 2007 và những tháng đầu năm 2008. Theo báo cáo của các địa phương và
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 18/2/2008, toàn miền Bắc có
trên 146 nghìn ha lúa bị ảnh hưởng nặng, trong đó có 10 nghìn ha phải gieo trồng
lại. Tổng số các loại vật nuôi đã bị chết là 63 nghìn con, trong đó bê, nghé non
chiếm 75%; bò, trâu già chiếm 25%. Ước tổng thiệt hại khoảng 400 tỷ đồng.
Thứ hai, do dân số thế giới đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Theo ước
tính năm 2006 của Cục dân số Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2.5
giảm so với 75.63 triệu tấn của cuối niên vụ 2006/07.
Tổng sản lượng đường thế giới năm 2007/08 theo dự báo của Bộ Nông
nghiệp Mỹ sẽ đạt 167.1 triệu tấn (qui đường thô), tăng 3.1 triệu tấn so với năm
2006/07. Trong đó, sản lượng của Braxin sẽ đạt 32.1 triệu tấn, tăng 650 ngàn tấn;
Ấn Độ 31.8 triệu tấn, tăng 1.1 triệu tấn; Trung Quốc 13.9 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn;
và Thái Lan 7.2 triệu tấn, tăng 480 ngàn tấn. Sản lượng của EU - 27 dự báo sẽ chỉ
tăng 40 ngàn tấn, đạt 17.49 triệu tấn.
Tổng mức tiêu dùng đường toàn cầu dự báo sẽ đạt 155 triệu tấn, tăng 5.6
triệu tấn so với năm 2006/07.
Tổng xuất khẩu đường trên thế giới năm 2007/08 dự báo đạt 50.8 triệu tấn,
tăng 1 triệu tấn so với năm 2006/07. Trong đó, xuất khẩu của Braxin sẽ đạt 20.6
triệu tấn, giảm 250 ngàn tấn so với năm 2005/06 do giá tương đối thấp so với chi
phí sản xuất, phí vận chuyển cao, cạnh tranh của Ấn Độ tại thị trường Cận Đông
và nhu cầu sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol) ở trong nước cao. Xuất khẩu
của Thái Lan sẽ đạt 5.3 triệu tấn, tăng 200 ngàn tấn; và xuất khẩu của Ấn Độ sẽ
đạt 3 triệu tấn, tăng 1.2 triệu tấn so với năm 2006/07. Trong khi đó, xuất khẩu
đường của Ôxtrâylia sẽ giảm 200 ngàn tấn trong năm 2007/08 đạt 3.7 triệu tấn.
Tổng dự trữ đường thế giới cuối niên vụ 2007/08 dự báo đạt 46.6 triệu tấn,
tăng 5.1 triệu tấn so với cuối niên vụ 2006/07
Thứ tư, tình hình thế giới có nhiều biến động về chính trị,xã hội. Tình hình
xung đột vũ trang đang gia tăng ở nhiều nước, nhiều khu vực vẫn còn tình trạng
đấu tranh quyết liệt nhất là khu vục Trung Đông, nạn đói ở Châu Phi vẫn đang
hoành hành, do đó cần phải có một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm để dự
trữ và viện trợ cho những nước này. Đây chính là nguồn nhu cầu lớn đối với các
nước xuất khẩu nông sản.
1.4.2. Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.4.2.1. Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP)
Xuất khẩu các loại hàng hóa nói chung, xuất khẩu hàng nông sản nói riêng
và sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xuất khẩu đóng vai
trò quan trọng hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thể hiện
Tuy nhiên, mức độ tác động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông
nghiệp còn bấp bênh, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Sản phẩm của nông nghiệp bao gồm nông sản, thủy sản và lâm sản, trong
đó nông sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy ta xem xét vai trò của xuất khẩu hàng
nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp qua các vấn đề sau :
Một là, xuất khẩu hàng nông sản tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất
nông nghiệp.
Khi xuất khẩu nông sản tăng, khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày
càng lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp.
Mặt khác, khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất,
từ đó họ có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng xuất lao động, tăng
chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.
Hai là, xuất khẩu góp phần giải quyết tốt vấn đề công ăn, việc làm.
Một trong những đặc điểm rất quan trọng của Việt Nam và một số nước đang
phát triển khác là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh, từ đó việc làm luôn là
vấn đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết được tình trạng này
phải tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp để
mở rộng quy mô ngành sản xuất nông sản, từ đó tạo thêm việc làm cho người lao
động. Mặt khác, xuất khẩu nông sản tăng kéo theo sự phát triển của ngành công
nghịêp chế biến, công nghịêp phục vụ nông nghịêp, từ đó lao động bổ sung tăng
lên.
Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm phấn
khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghịêp) sẽ làm việc ngay tại
quê hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra các khu công nghiệp,
thành thị để kiếm việc làm.
Ba là, xuất khẩu hàng nông sản góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực trong nông nghiệp.
Nguồn lực trong nông nghịêp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao
động, kinh nghiệm sản xuất…Mỗi quốc gia đều có những cách thức khác nhau
trong việc sử dụng các nguồn lực của mình sao cho có hiệu quả nhất và tận dụng
quốc gia có phát huy được mối quan hệ này hay không còn phụ thuộc rất lớn vào
tình hình cụ thể của quốc gia đó và tăng trưởng nông nghiệp không chỉ chịu tác
động của một nhân tố đó là xuất khẩu nông sản.
Thực tế, trong những năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những
bước chuyển mình, tạo ra sự thay đổi lớn trong sản xuất, cơ cấu, chất lượng, giá
cả sản phẩm và uy tín của nông sản trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể nhìn
nhận sự thay đổi đó thông qua số liệu ở bảng 1.
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản
(%)
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng trưởng XKNS 11.5 26.6 61.5 26.5 24.5
Tốc độ tăng trưởng NN 3.62 4.36 4.04 3.4 3.25
Nguồn: Niên giám thống kê
Từ bảng 1 có thể thấy, trong giai đoạn từ năm 2003-2006 xuất khẩu nông
sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11.5% năm 2003 lên 26.6%
năm 2004 và 61.5% năm 2005. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng trưởng
nông nghiệp cũng tăng đều đặn từ 3.62% năm 2003 lên 4.04% năm 2005. Riêng
năm 2006 và năm 2007, kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng gặp
nhiều khó khăn do thời tiết, khí hậu, thiên tai không thuận lợi. Đó là hạn hán, bảo
số 1 (Chin chu), bão số 6 (xang sane), lốc xoáy, mưa đá, dịch cúm gia cầm, dịch
lở mồm long móng…nhất là đợt không khí lạnh cuối năm 2007 và đầu năm 2008
đã gây ảnh hưởng rất lớn và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng. Điều này làm
cho việc sản xuất và xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn
đến nông nghiệp Việt Nam vì nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của
điều kiện tự nhiên. Kết quả tốc độ tăng trưởng nông sản chỉ đạt 26.5% năm 2006,
24.5% năm 2007 và nông nghiệp cũng chỉ đạt 3.4% năm 2006, 3.25% năm 2007.
Nhưng đạt được kết quả này cũng đã thể hiện sự phấn đấu hết sức mình của
người dân nhằm đạt được mục tiêu năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 8.5%.
Như vậy, xuất khẩu hàng nông sản có mối vai trò quan trọng với tăng trưởng
nông nghiệp, sự biến động của xuất khẩu hàng nông sản sẽ kéo theo sự biến
kinh tế, xã hội.
Kinh tế tập thể được tổ chức lại theo luật hợp tác xã mới, nhiều hợp tác xã
hoạt động có hiệu quả. Một số mô hình liên kết giữa hợp tác xã nông nghiệp với
các cơ sở chế biến đã ra đời, thu hút được nhiều lao động ở thành thị và nông
thôn.
Khu vực kinh tế tư nhân trong nước được hình thành và ngày càng mở rộng
phạm vi hoạt động trong nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội.
Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất
giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong nước đang phat triển trong một số
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có bước phát triển khá, tạo
thêm một số mặt hàng mới, thị trường mới, tăng thêm sức cạnh tranh của sản
phẩm.
Cơ cấu ngành kinh tế đã từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành. Tăng tỷ trọng các
ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư
nghiệp.
Bảng 3: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế (%)
Cơ cấu ngành kinh tế 2003 2004 2005 2006 2007
Công nghiệp, xây dựng 39.47 40.2 41.0 41.5 41.8
Nông, lâm, ngư nghiệp 22.54 21.8 20.9 20.34 20
Dịch vụ 37.99 38.0 38.1 38.16 38.2
Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê và tạp chí thương mại
Cơ cấu vùng kinh tế gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các
vùng lãnh thổ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm đang đựợc xây dựng và
hình thành theo hướng phát huy thế mạnh của từng vùng, làm cho bộ mặt kinh tế,
xã hội ở các địa phương, các vùng đều có những thay đổi tích cực.
1.4.2.5. Tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm phát
triển
Nông nghiệp nước ta có vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế. Dù tỷ
cấp sản xuất và trợ cấp xuất khẩu; Tăng mức độ mở của thị trường hay nói cách
khác là tăng sự tiếp cận thị trường. Vì vậy, khi gia nhập WTO, nước ta cũng phải
thực hiện những cam kết trên.
2.1.1. Về các cam kết cắt giảm trợ cấp
Đối với trợ cấp xuất khẩu: nước ta cam kết bãi bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu
cho hàng nông sản khi được chính thức kết nạp vào WTO. Tuy nhiên, chúng ta
vẫn được bảo lưu quyền thụ hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho một
nước đang phát triển trong lĩnh vực này trong một thời gian nhất định.
Đối với trợ cấp sản xuất trong nước: Theo thong báo của Việt Nam cho
WTO, tổng mức hỗ trợ sản xuất trong nước (Total AMS) giai đoạn cơ sở 1999-
2001 là 3961.59 tỷ VNĐ/năm. Các chính sách hỗ trợ của chúng ta đa phần nằm
trong diện “hộp xanh” và “chương trình phát triển” dành cho các nước đang phát
triển tầm trung bình. Đây là những nhóm được tự do áp dụng. Tuy nhiên, trong
một số năm tới, ngân sách nước ta cũng chưa đủ sức để hỗ trợ cho nông nghiệp
ở mức này.
Ở nhóm hỗ trợ “hộp đỏ” nước ta vẫn được phép trợ cấp tối đa 10% giá trị
sản lượng hàng nông sản. Về nguyên tắc, những cam kết về việc loại bỏ trợ cấp
đối với sản xuất hàng nông sản không ngăn cản Việt Nam tiếp tục hỗ trợ cho
ngành sản xuất nông sản của nước ta. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế và ngân
sách của nhà nước còn hạn hẹp nhưng chúng ta hoàn toàn không phải dể dàng
áp dụng được đầy đủ các yêu cầu của Hiệp định nông nghiệp.
2.1.2. Về các cam kết mở cửa thị trường hàng nông sản
Trong tiến trình đàm phán song phương với 28 đối tác và đàm phán đa
phương về mở cửa thị trường, Việt Nam đã cam kết giảm thuế nông sản 20% so
với mức thuế ưu đãi tối huệ quốc.(MFN) hiện hành, tức là từ mức 23.5% như hiện
nay xuống còn 20.9% (tính theo mức thuế trong hạn ngạch của một số mặt hàng)
trong vòng từ 5 đến 7 năm tới. Mức độ giảm có sự khác nhau giữa các sản phẩm
hoặc nhóm sản phẩm. Khái quát chung là các sản phẩm chế biến hiện có mức
thuế cao (40% - 50%) thì bị yêu cầu giảm nhiều hơn so với nông sản thô.
Những nhóm hàng cụ thể phải giảm nhiều là thịt, sữa, rau quả chế biến, thực
Đã rang và khử chất ca
- phê - in
Chưa xay 40 30 2011
Đã xay 40 30 2011
Loại khác 40 30 2011
Chè xanh
Nguyên cánh 40
Loại khác 40
Hạt tiêu Chưa xay hoặc
nghiền
Trắng
30 20 2010
Đen 30 20 2010
Đã xay hoặc nghiền
Trắng 30 20 2010
Gạo thơm
Nguyên hạt 40
Không quá 5% tấm 40
Trên 5% - 10% tấm 40
Loại khác 40
Gạo nếp 40
Loại khác 40
Ngô
Ngô giống 0
Loại khác đã rang
30
Các loại quả
Táo 24 10 2010
Dưa hấu 40 30 2010
Quả nhãn 40 30 2010