Nghiên cứu một số các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU ảnh hưởng đến việc xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam - Pdf 23

A, MỞ ĐẦU
EU là một thị trường rộng lớn gồm 27 quốc gia thành viên, có diện tích 4
triệu km2, dân số 456 triệu người, GDP gần 13.000 tỷ USD (chiếm 27% toàn
thế giới). Kim ngạch ngoại thương 1.400 tỷ USD/năm (chiếm 20% toàn thế
giới, nếu tính cả buôn bán nội khối thì tổng kim ngạch mậu dịch lên tới 3.100
tỷ USD (chiếm 41,5% toàn thế giới). XK dịch vụ chiếm 43,8% toàn thế giới,
đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% và nhận đầu tư từ nước ngoài chiếm 20%
toàn thế giới.
Tháng 11/1990, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu thiết lập quan hệ ngoại
giao. Ngày 17/7/1995, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu ký Hiệp định hợp
tác. Tháng 1/1996, Ủy ban châu Âu (EC) lập Phái đoàn đại diện thường trực
và cử Đại sứ - Trưởng Phái đoàn tại Hà Nội.
Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - EU: Ngày 14/6/2005, Chính phủ đã
phê duyệt Đề án Tổng thể quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu và Chương
trình Hành động của Chính phủ về phát triển quan hệ Việt Nam - Liên minh
châu Âu đến 2010 và định hướng tới 2015. Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông
Nam Á chủ động có chiến lược tổng thể về hợp tác với EU và EU là đối tác
đầu tiên, duy nhất mà Việt Nam có chiến lược phát triển quan hệ. Cho tới nay
đã có 2 cuộc họp về triển khai Đề án giữa Lãnh đạo các Bộ, ngành của Việt
Nam với Đại sứ các nước EU tại Hà Nội.
Ngày 29/3/2007, Uỷ ban châu Âu đã thông qua Chiến lược Hợp tác với
Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2013 với ngân sách 304 triệu Euro. Nội
dung hỗ trợ tập trung vào hai lĩnh vực chính: hỗ trợ việc thực hiện Kế hoạch
Phát triển Kinh tế Xã hội của Việt Nam (SEDP) và hỗ trợ ngành y tế. Ngoài
ra, các lĩnh vực cũng được đưa vào nội dung Chiến lược hợp tác gồm: Trợ
giúp liên quan đến thương mại và Hỗ trợ đối thoại chiến lược EC - Việt Nam.
Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (12/2006), EU cam kết tài
1
trợ 720 triệu Euro cho năm 2007, thể hiện mức cam kết tiếp tục tăng cho Việt
Nam.
Kể từ năm 1995 đến nay, quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước

xuất khẩu vào thị trường các nước trong khối EU.
Với 27 quốc gia thành viên, EU là một thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn
nhất thế giới. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những thị trường khó tính với
nhiều tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chặt chẽ được lập ra áp dụng cho hàng hóa
nhập khẩu.
Đối với mỗi một mặt hàng, thị trường châu Âu đều có những tiêu chuẩn áp
dụng riêng, chẳng hạn như: mặt hàng rau quả tươi yêu cầu đạt chứng chỉ chất
lượng GAP, mặt hàng thủy sản phải đạt chứng nhận chất lượng của Cục Quản
lý an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (NAFIQUAVED) cấp, mặt hàng lâm sản,
đồ gỗ khi xuất vào thị trường châu Âu phải có chứng chỉ rừng FSC (Forest
Stewardship Council - Hội đồng Quản lí rừng Quốc tế).Cũng chính vì những
quy định này mà trong vụ cà phê 2005-2006, trong đợt kiểm tra tại 10 cảng
khác nhau ở Châu Âu và trong số 1.485.750 bao cà phê bị loại của 17 nước và
vùng lãnh thổ xuất khẩu, có đến hơn 72% là cà phê xuất xứ từ VN.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là cần phải nghiên
cứu các quy định và tiêu chuẩn về môi trường của EU đối với nhập khẩu hàng
nông sản; xác định khả năng đáp ứng các yêu cầu của EU về môi trường của
hàng nông sản Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp đáp ứng các quy định
và tiêu chuẩn môi trường đối với hai nhóm hàng này nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU.
Hơn nữa, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới
với việc thực thi các cam kết quốc tế về thương mại và môi trường. Hội nhập
với thương mại thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong việc mở rộng
3
thị trường xuất khẩu, nhưng cũng phải chấp nhận sự cạnh tranh hết sức gay
gắt với các nước khác. Một trở ngại đặt ra cho xuất khẩu của ta trong tương
lai là khi các hàng rào thương mại được bãi bỏ thì sức cạnh tranh của hàng
hoá Việt Nam trong buôn bán quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc đáp ứng
các tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là các tiêu chuẩn môi trường. Đối với các
nước đang phát triển như Việt Nam thì “hàng rào xanh” trong buôn bán quốc

- Phạm vi: Các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập
khẩu hàng nông sản và thực trạng xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam
vào thị trường EU dưới tác động của các quy định EU về môi trường.
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia làm ba phần chính:
Phần thứ nhất: Giới thiệu một số quy đ ịnh và tiêu chuẩn môi trường của
EU ảnh hưởng tới việc xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Phần thứ hai: Khả n ă ng đ áp ứng các quy đ ịnh và tiêu chuẩn môi trường
của EU đ ối với một số mặt hàng nông sản Việt Nam
Phần thứ ba: Các giải pháp đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn EU về môi
trường đối với hàng nông sản của Việt Nam nhằm nâng cao sức cạnh tranh và
đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU
Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Tìm hiểu các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với nhập
khẩu hàng nông sản.
- Khảo sát thực tế ở một số doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng nông,
thuỷ sản xuất khẩu sang EU về việc thực hiện các quy định môi trường của
EU.
5
- Thu thập tài liệu, số liệu về xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang
thị trường EU giai đoạn 2006 – 2008, và có sự so sánh với số liệu các năm
trước đó; Phân tích và tổng hợp tài liệu, số liệu.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc đáp ứng các quy
định môi trường của EU khi xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường này.
- Xin ý kiến chuyên gia.
- Viết báo cáo khoa học.
B. PHẦN THÂN
Chương I. GIỚI THIỆU MỘT SỐ QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI
TRƯỜNG CỦA EU ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
CỦA VIỆT NAM

ngừa hoặc loại trừ một mối nguy thực phẩm hoặc giảm nó đến mức chấp
nhận được. Một điều “ phải làm ”.
Điểm chất lượng tới hạn: Critical Quality point (CQP)
Một bước mà ở đó một mối nguy chất lượng, nghề nghiệp, môi trường
hoặc an toàn và sức khỏe nghề nghiệp có thể được ngăn ngừa, loại trừ hoặc
làm giảm xuống mức có thể chấp nhận được. Một điều “ cần phải làm ”.
Giới hạn tới hạn:Critical limit (CL)
Một dung sai qui định (một đặc tính kỹ thuật) cho một phương pháp
kiểm soát mà nó không thể bị vượt quá nếu mối nguy được kiểm soát tại
7
bước quan trọng trong quá trình – các giới hạn của kiểm soát.
việc kiểm soát tính nghiêm trọng của các mối nguy cho an toàn thực
phẩm trong dây chuyền chế biến thực phẩm.
Phân tích mối nguy
Quá trình thu thập và đánh giá các thông tin về các mối nguy và các điều
kiện đưa đến để họ quyết định điểm nào là mối nguy trầm trọng cho an toàn
thực phẩm và do đó phải xử lý theo kế hoạch HACCP.
Các nguyên t
ắc
:
Bảy nguyên tắc của HACCP
Nguyên tắc 1: Phân tích mối nguy và xác định các biện pháp phòng ngừa
Mối nguy là các yếu tố hoặc tác nhân sinh học, hoá học và vật lý có thể
làm cho thực phẩm không an toàn khi sử dụng. Phân tích mối nguy là bước cơ
bản của hệ thống HACCP. Để thiết lập các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả
các mối nguy về an toàn thực phẩm, điều mấu chốt là phải xác định được tất
cả các mối nguy đáng kể và các biện pháp phòng ngừa chúng.
Để nhận biết được các mối nguy cụ thể ở mỗi công đoạn nhất định (của
quá trình chế biến) hoặc ở một trạng thái vật chất nhất định (nguyên vật liệu,
thành phần) chúng ta cần đánh giá mức độ quan trọng của mối nguy đó để xác

Ngưỡng tới hạn là một chuẩn mực nhằm xác định ranh giới giữa mức chấp
nhận được và mức không thể chấp nhận. Mỗi CCP phải có một hoặc nhiều
giới hạn tới hạn cho mỗi mối nguy đáng kể. Khi vi phạm giới hạn tới hạn,
phải tiến hành hành động sửa chữa để đảm bảo an toàn thực phẩm. Trong
nhiều trường hợp, giới hạn tới hạn có thể không rõ ràng hoặc không có, do
vậy vẫn phải tiến hành thử nghiệm hoặc thu thập thông tin từ các nguồn như
các tài liệu khoa học, các hướng dẫn, quy định của cơ quan có thẩm quyền,
9
các chuyên gia hoặc các nghiên cứu thực nghiệm. Nếu không có các thông tin
cần thiết để xác định ngưỡng tới hạn thì cần phải chọn trị số an toàn. Cở sở và
tài liệu tham khảo để thiết lập ngưỡng tới hạn phải là một phần của tài liệu hỗ
trợ cho kế hoạch HACCP.
Nguyên tắc 4: Thiết lập hệ thống giám sát CCP
Hệ thống giám sát là các hoạt động được tiến hành một cách tuần tự và
liên tục bằng việc quan trắc hay đo đạc các thông số cần kiểm soát để đánh
giá một điểm CCP nào đó có được kiểm soát hay không. Hệ thống giám sát
phải được xác định một cách cụ thể như: giám sát cái gì? Giám sát các
ngưỡng tới hạn và các biện pháp phòng ngừa như thế nào? Tần suất giám sát
như thế nào và ai sẽ giám sát.
Nguyên tắc 5: Xác lập các hành động khắc phục
Khi vi phạm các ngưỡng tới hạn tại các CCP phải thực hiện các hành động
khắc phục ngay. Các hành động khắc phục được tiến hành nhằm khôi phục sự
kiểm soát của quá trình, xử lý các sản phẩm vi phạm trong thời gian xảy ra sai
lệch và xác định cách xử lý an toàn các sản phẩm đã bị ảnh hưởng. Thường
thì các hành động khắc phục dự kiến trong kế hoạch HACCP sẽ được kiểm
chứng hiệu quả của nó trong thực tế khi khắc phục sự vi phạm và sau đó sẽ
được điều chỉnh các hành động khắc phục trong kế hoạch HACCP nhằm đảm
bảo hợp lý và hiệu quả hơn.
Nguyên tắc 6: Thiết lập hệ thống tài liệu, hồ sơ cho chương trình HACCP
Lưu trữ và kiểm soát hồ sơ là một nhiệm vụ quan trọng của chương trình

- Giúp chứng minh sự chuyên cần.
Thêm vào việc đáp ứng các luật định và các quy tắc đạo đức để sản xuất ra
các thực phẩm an toàn khi ăn. HACCP có rất nhiều lợi thế không những dành
cho khách hàng mà còn dành cho ngành công nghiệp và chính phủ. Một số
11
người ở các doanh nghiệp cảm thấy rằng HACCP đang gây áp lực lên họ bởi
các khách hàng của họ nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng có rất nhiều lợi ích.
Dưới đây là các ví dụ về các lợi ích có được khi thực hiện chương trình
HACCP
 HACCP có thể áp dụng trong toàn bộ dây chuyền thực phẩm từ người
sản xuất cho tới người tiêu thụ cuối cùng.
 Một chương trình HACCP khi được thiết kế và thực hiện phù hợp sẽ
làm giảm một cách đáng kể những cơ hội bị nhiễm vi sinh, hoá chất và vật lý
từ khách hàng.
 HACCP làm giảm nhu cầu thử nghiệm sản phẩm cuối bằng việc nhận
diện các mối nguy gắn liền với các yếu tố đầu vào của quá trình sản phẩm và
phương pháp kiểm soát mà có thể giám sát để giảm thiểu hoặc loại trừ các
mối nguy.
 Các nguyên tắc HACCP có thể áp dụng được cho các khía cạnh khác
của chất lượng thực phẩm và các yêu cầu luật định.
 HACCP có thể làm giảm các quy định liên quan (và do đó là chi phí)
bằng cách lập lại các kiểm tra trên dây chuyền với các cuộc đánh giá định kỳ.
 Vì HACCP cải thiện năng lực để phát hiện chất lượng sản xuất tồi trong
quá trình sản xuất những sản phẩm đó có thể được thực hiện trước khi gia
tăng giá trị. Các nguồn lực được tiết kiệm và sản phẩm hư hỏng không bị sản
xuất ra. Năng suất được cải tiến.
 HACCP có khả năng giúp thay đổi chẳng hạn như những ưu điểm trong
nguyên vật liệu, thiết bị và thiết kế nhà xưởng, các quy trình và phát triển kỹ
thuật
 HACCP cải tiến mối quan hệ giữa các nhà cung cấp và khách hàng. Nó

thực, thực phẩm, thức uống các loại có sử dụng các chất bảo quản, chống
mốc..., mỹ phẩm, dược phẩm, thuốc lá. Đặc biệt là các đồ nông sản xuất khẩu
có sử dụng hoá chất để bảo quản.
13
REACH là quy định khung mới của EU liên quan đến 103.000 loại hóa
chất khác nhau. Đó là tập hợp chữ viết tắt: Registration (đăng ký), đánh giá
(Evalution) và cấp phép lưu hành (Authorisation), hóa chất (Chemicals)
Quy định này nhằm cải thiện việc bảo vệ sức khỏe con người và môi
trường, tăng cường tính cạnh tranh và nâng cao khả năng đổi mới của ngành
hóa chất EU (dự kiến sẽ có tới 20% loại hóa chất trên thị trường EU có thể bị
ngưng sản xuất hay sử dụng). REACH đặc biệt quan tâm đến các sản phẩm sử
dụng các loại hóa chất gây lo ngại cao như: chất sinh ung thư, chất gây đột
biến tế bào, chất ảnh hưởng đến sinh sản, các hóa chất bền bỉ, sinh tụ và độc
hại, các hóa chất quá bền, quá sinh tụ...
Trong thực tế, hệ thống pháp lý hiện hành của EU về lĩnh vực này gồm 40
chỉ thị và quy định khác nhau, với REACH, 100.000 hóa chất hiện hành và
3.000 loại hóa chất mới sẽ được đề cập, phân loại, hướng dẫn thống nhất theo
một quy trình 5 bước và những cấm đoán cũng như những ngoại lệ.
REACH thật sự là một đạo luật có tầm ảnh hưởng sâu rộng mà các doanh
nghiệp công nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu cần tìm hiểu.
Có thể nói Reach (đăng ký, đánh giá, cấp phép và hạn chế về hóa chất)
và hướng dẫn RoHS (các hạn chế về hóa chất độc hại) là hai trong những điều
luật quan trọng nhất và phức tạp của Nghị viện châu Âu
Reach là một quy định cao nhất trong quản lý hóa chất của EU có phạm vi
điều chỉnh rộng liên quan đến nhiều ngành công nghiệp. Hướng dẫn RoHS thì
tập trung sâu hơn vào các thiết bị điện, điện tử, hạn chế việc sử dụng 6 hóa
chất chủ yếu gồm chì, thuỷ ngân, Catmi, Hexora (Chrome 6), Polybrominated
(PBB) và Polybrominated Diphenyl Ethers ( PBDE).
Mục đích của hai điều luật này EU đưa ra là nhằm quản lý, ngăn chặn các
tác động của hóa chất có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi

- Ngôn ngữ: Nhãn phải được ghi rõ ràng, dễ hiểu bằng tiếng Pháp. Nếu có
từ hay chữ viết tắt nước ngoài phải được luật của Pháp hay luật quốc tế chấp
nhận.
- Tên: Ghi rõ tên sản phẩm là gì. Ví dụ "dầu ôliu"
- Thương hiệu: Bất kỳ tên, biểu tượng hay ký hiệu có liên quan tới
sản phẩm đều phải có ngoài bao bì, trên nhãn hoặc nắp chai. Nhãn hiệu và
thương hiệu được đăng ký chỉ dành cho nhà sản xuất sử dụng.
- Thành phần: Mọi thành phần hay chất liệu làm nên sản phẩm đều
phải được liệt kê trên nhãn, mác.
- Hướng dẫn sử dụng: Phải giải thích cặn kẽ sản phẩm được sử dụng như
thế nào.
- Thời hạn: Cần ghi rõ ngày sản xuất, hạn sử dụng.
- Tên và địa chỉ cụ thể của nhà sản xuất.
- Đặc điểm kỹ thuật,
- Giá: Giá (bao gồm mọi loại thuế) phải được ghi trên mọi sản phẩm đóng
gói sẵn, trừ khi chúng được bán theo đơn đặt hàng.
- Mã vạch.
Sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo phương pháp hữu cơ là sản
phẩm nông nghiệp có tính bảo vệ môi trường cao, hay còn gọi là sản phẩm
nông nghiệp thân thiện với môi trường. Có nghĩa là nông, thủy sản được nuôi
trồng theo phương pháp hữu cơ, có nguồn gốc hữu cơ, vì vậy thuộc “Chương
trình nhãn hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ”. Chương trình này được
áp dụng cho tất cả nông, thủy sản được sản xuất trong khối EU và nhập khẩu
từ các nước phát triển. Các nhãn hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ
đang nhanh chóng trở nên phổ biến ở thị trường EU.
Hiện nay có rất nhiều dấu tiêu chuẩn quốc gia khác nhau. Ở Đức, các hiệp
hội người trồng trọt khác nhau sử dụng các biểu tượng khác nhau. Ở Thụy
16
Điển, nhãn hiệu sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ là KRAV. Hà Lan sử dụng
dấu tiêu chuẩn EKO.

sản phẩm gắn liền với xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm. Mẫu mã,
bao bì hàng nông sản của Việt Nam vẫn còn quá sơ sài, đơn điệu. Muốn hàng
nông sản Việt Nam có khả năng cạnh tranh tại thị trường EU, các doanh
nghiệp cần tăng cường đầu tư cho việc xây dựng thương hiệu hàng nông sản,
coi trọng đăng ký thương hiệu, thiết kế nhãn mác và mẫu mã, bao bì cho sản
phẩm, liên kết với người sản xuất nguyên liệu đăng ký xuất xứ hàng hóa, đảm
bảo các chứng chỉ cần thiết khi xuất khẩu vào thị trường EU. Thương hiệu
không chỉ là của doanh nghiệp mà còn là của cả nhà nông. Cần liên kết với
nông dân, trong đó nông dân có trách nhiệm đảm bảo chất lượng và được
chung chia lợi nhuận từ doanh nghiệp.
4. Yêu cầu về đóng gói bao bì
4.1. Các quy định trong sản xuất bao bì
Quy định mực in: Điều luật áp dụng cho mực in bao bì
Trong các lĩnh vực sản xuất khác, việc sử dụng các chất liệu và các
phụ liệu nào đó hoặc là được chấp thuận hoặc là bị nghiêm cấm. Nhưng mực
in và vec-ni thì phức tạp hơn rất nhiều. Không có những phê chuẩn chính thức
nào về các chất liệu có trong vật liệu dùng cho bao bì mặc dù những quy của
định pháp luật được áp dụng thì hết sức rộng và đa dạng liên quan đến các
chất tiếp xúc với thực phẩm.
Chỉ thị số 86/109/EEC của các nước Châu âu, liên quan đến chất liệu tiếp
xúc với thực phẩm thì mang tính quyết định về sản phẩm bao bì làm từ những
vật liệu chứa các chất như vậy. Chỉ thị này đề cập đến bao bì một một cách
khái quát, bất kể đến cấu trúc và quy trình sản xuất. Hơn nữa, vật liệu làm bao
bì trên thực tế (giấy, bìa cứng, nhựa và kim loại), chất kết dính, chất phủ, các
18
loại vec-ni và mực in cũng bị kiểm soát bằng Chỉ thị hoặc bằng luật pháp của
các nước thuộc Châu Âu (và Thụy Sĩ) bắt nguồn từ Chỉ thị này.
Ngoài khung luật nêu trên, một số các luật định chi tiết hơn quy định về
điều luật liên quan đến sự tiếp xúc giữa vật liệu bao bì và thực phẩm, chẳng
hạn như Chỉ thị của các quốc gia Châu Âu về nhựa số 90/128/EEC.

Chỉ thị này đề ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa tạo ra chất thải bao bì, tái sử
dụng bao bì, tái chế và giảm phần vứt bỏ/tiêu huỷ cuối cùng của chất thải đó.
Chỉ thị cũng quy định mức tối đa kim loại nặng chứa trong bao bì và mô tả
những yêu cầu cụ thể trong sản xuất và cấu thành bao bì. Chỉ thị áp dụng cho
tất cả các loại bao bì và chất thải bao bì dùng trong ngành công nghiệp,
thương mại, văn phòng, cửa hàng, dịch vụ, hộ gia đình hoặc ở bất kỳ nơi nào
khác bất kể dùng nguyên liệu gì.
Có nhiều hình thức khác nhau để thực thi Chỉ thị trong các nước thành
viên EU. Trong số các chương trình đang hoạt động thì chương trình chất thải
bao bì được biết đến nhiều nhất ở châu Âu là hệ thống “Grune Punkt” hay “
Green Dọt” của Đức.
Ngành sản xuất bao bì của EU trước những thách thức mới về
bảo vệ môi trường
Bao bì được thiết kế tốt đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và
phân phối vì chúng giúp ngăn ngừa và giảm bớt các loại rác thải khác.
Mặc dù vậy, hầu hết các bao bì cuối cùng rồi cũng thành rác và phần lớn
trong số đó được chôn lấp tại các bãi rác.
Các quá trình sản xuất, xử lý và chôn lấp rác thải đều có thể làm hại
môi trường, không chỉ vì các vấn đề liên quan đến việc chôn lấp, đốt hay
các cách xử lý khác, v.v... mà còn do nhiều lý do. Mỗi năm, riêng nước
Anh tiêu thụ hết khoảng 600 triệu tấn nguyên liệu, 570 tấn trong số đó bị
lãng phí dưới dạng rác thải.
20
Hiện nay, các quá trình tiêu thụ và sản xuất bền vững để tiết kiệm tài
nguyên và tăng cường sử dụng lại hoặc tái chế là mục tiêu then chốt
trong kế hoạch xây dựng một xã hội bền vững hơn của các nước châu
Âu. Nghĩa là mọi loại bao bì đều phải được sản xuất, sử dụng và thải bỏ
dưới những điều luật nghiêm ngặt.
Tại Anh, các công ty tham gia sản xuất, xử lý, kinh doanh bao bì sẽ
phải tuân thủ những quy định pháp lý ngày càng chặt chẽ hơn. Cụ thể là

quan trọng để xác định chất lượng của sản phẩm, do đó nó thể hiệu cả sản
phẩm và bảo vệ sản phẩm.
Đóng gói và ghi nhãn là những yếu tố rất quan trọng khi sản phẩm được
các siêu thị bán lẻ hoặc tại các cửa hàng bán lẻ khác
Bên cạnh vận chuyển, các vấn đề về môi trường đóng một yếu tố trong
đóng gói. Theo luật về môi trường (tái sử dụng, tái chế các vật liệu đóng
gói) và các chất độc, một vài quy định cần phải tuân thủ khi sử dụng vật
liệu đóng gói.
Các điểm bắt đầu để xác định vật liệu thích hợp
cho đóng gói:

Trọng lượng của sản phẩm

Kích cỡ của sản phẩm

Số lượng sản phẩm được gói trong một gói
carton

Tình trạng sức khỏe

Mùi

Khả năng xếp chồng

Hình dáng bên ngoài

Tiện lợi trong xử lý
22

Các vấn đề về môi trường

xanh.
Ngoài nhãn sinh thái do một cơ quan đứng ra cấp, còn có một loại nhãn
khác do nhà sản xuất tự gắn lên sản phẩm của mình như một hình thức
quảng cáo với người dùng. Ta thấy có tủ lạnh dán nhãn "Không có CFC"
(CFC là một loại hợp chất gây phá huỷ tầng ozone) hoặc có loại pin ghi
"Không có thuỷ ngân".
Cả hai loại nhãn trên, nhãn sinh thái và nhãn do nhà sản xuất tự dán, đều
gọi chung là nhãn môi trường.
Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn để đánh giá khía cạnh môi trường của sản phấm của Nhãn
sinh thái được quy định trong các hệ thống tiêu chuẩn ISO 14024:1999, ISO
14021:1999 và ISO 14025:2000.
ISO 14024 (Nhãn loại I/ Công bố môi trường kiểu I): Việc dán nhãn phải
được bên thứ ba công nhận (không phải do nhà sản xuất hay các đại lý bán lẻ
thực hiện), dựa trên phương pháp đánh giá chu trình sống của sản phẩm (Chu
trình sống là các giai đoạn kế tiếp và liên kết với nhau của một hệ thống sản
24
phẩm, từ khi tiếp cận nguyên liệu thô hoặc từ khi phát sinh của các nguồn tài
nguyên thiên nhiên cho đến khi thải bỏ cuối cùng).
ISO 14021 (Nhãn loại II/ Công bố môi trường kiểu II): Do nhà sản xuất
hoặc các đại lý bán lẻ tự nghiên cứu, đánh giá và công bố cho mình, đôi khi
còn được gọi là “Công bố xanh”, có thể công bố bằng lời văn, biểu tượng
hoặc hình vẽ lên sản phẩm do nhà sản xuất hoặc các đại lý bán lẻ quyết định.
Công bố loại này phải đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể như: phải chính
xác và không gây nhầm lẫn, được minh chững và được kiểm tra, xác nhận,
tương ứng với sản phẩm cụ thể và chỉ được sử dụng trong hoàn cảnh thích
hợp hoặc đã định, không gây ra sự diễn giải sai
ISO 14025 (Nhãn loại III/ Công bố môi trường kiểu III): Bao gồm các
thông tin định lượng về sản phẩm dựa trên đánh giá chu trình sống của sản
phẩm. Mục đích chính là cung cấp dữ liệu môi trường được định lượng và có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status