Một số vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại - Pdf 34

Trường Đại học Luật Hà Nội
A.

MỞ ĐẦU.

Về mặt nguyên tắc chung, khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ
thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại,
pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án. Các nhà làm luật đã xác lập một khả năng, điều kiện để
người bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không, tạo điều kiện cho
người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội
của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh
thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với người bị hại. Quyền yêu cầu
khởi tố vụ án hình sự của người bị hại được quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2003.
B.

NỘI DUNG.

I, Một số vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại.
1. Khái niệm.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một quan điểm mới
của Đảng và Nhà nước ta, được quy định lần đầu tiên trong BLTTHS năm 1988.
BLTTHS hiện hành chưa đưa ra định nghĩa pháp lí của khái niệm khởi tố vụ án
hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Khoản 1 Điều 105 BLTTHS năm 2003
quy định: “Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều
104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ

của người bị hại.
2.1, Cơ sở lý luận.
Với quan điểm duy vật về lịch sử, triết học Mác-Leenin nói riêng và chủ
nghĩa Mác-Lênin nói chung đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về quyền con
người, khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa các quyền tự do cơ bản với các điều
kiện và biện pháp bảo đảm thực hiện quyền con người trong thực tế.
Xuất phát từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân. Điều 71 Hiến pháp Nước CHXHCNVN năm 1992 sửa đổi,
bổ sung năm 2001 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
Ngoài ra, xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của BLTTHS là nguyên tắc “bảo
đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự” (Điều 3 BLTTHS 2003);
nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” (Điều 4
BLTTHS 2003); nguyên tắc “bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của công dân” (Điều 7 BLTTHS2003). Quyết định khởi tố vụ án hình sự
cũng là sự cụ thể hóa các nguyên tắc trên.
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

2


Trường Đại học Luật Hà Nội
Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại còn xuất
phát từ mối quan hệ của các giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và các giai đoạn
khác của quá trình tố tụng. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu làm cơ sở
cho các hoạt động tố tụng tiếp theo theo quá trình giải quyết vụ án hình sự.
2.2, Cơ sở thực tiễn.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại xuất phát từ tính chất
của vụ án và từ lợi ích của người bị hại.
- Xét về tính chất: Các tội quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003

Ngoài ra, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại còn mang ý
nghĩa khác, thể hiện sự cảm thông với những đau đớn mất mát của người bị hại,
hạn chế việc người bị hại có thể phải chịu thêm những tổn thương về mặt tinh
thần trong trường hợp khởi tố vụ án hình sự. Ngoài ra, một số trường hợp còn
giữ bí mật đời tư và danh dự cho người bị hại. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của người bị hại còn khuyến khích hòa giải trong dân, giữ gìn tình cảm xóm
làng, anh em, họ hàng. Qua đó, còn có thể giảm bớt các vụ phạm tội phải xét xử
tại Tòa án, giảm bớt áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
II. Quy định của pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của người bị hại.
1.

Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.

1.1, Chủ thể.
a. Người bị hại.
Người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm;
đồng thời, người bị hại cũng là người biết rõ các tình tiết của sự việc. Sự tham
gia của người bị hại vào quá trình giải quyết vụ án là cần thiết. Vì vậy, pháp luật
dành cho họ những quyền và đồng thời quy định một số nghĩa vụ nhất định
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, cũng như tạo điều kiện
thuận lợi cho việc giải quyết vụ án.
Theo khoản 2 Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định về những quyền của
người bị hại. Ngoài ra theo quy định tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS người bị hại
còn có nghĩa vụ có mặt khi nhận được giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố
tụng và nghĩa vụ khai báo.
Ngoài ra các quyền và nghĩa vụ cơ bản trên, người bị hại còn có một
quyền đặc thù là quyền yêu cầu khởi tố tố vụ án hình sự. Đây là quyền đặc thù
của người bị hại, vì trong các chủ thể tham gia tố tụng chỉ có người bị hại mới
có quyền này. Nếu người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm

hợp sau:
- Khoản 1 Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác.
- Khoản 1 Điều 105: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
- Khoản 1 Điêu 106: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Khoản 1 Điều 108: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác.
- Khoản 1 Điều 109: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.
- Khoản 1 Điều 111: Tội hiếp dâm.
- Khoản 1 Điều 113: Tội cưỡng dâm.
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

5


Trường Đại học Luật Hà Nội
- Khoản 1 Điều 121: Tội làm nhục người khác.
- Khoản 1 Điều 122: Tội vu khống.
- Khoản 1 Điều 131: Tội xâm phạm quyền tác giả.
- Khoản 1 Điều 171: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS năm 1999. Theo luật sửa đổi, bổ sung BLHS, Điều 131 BLHS năm
1999 đã bị bãi bỏ, thay vào đó tội xâm phạm đến quyền tác giả và quyền liên
quan được quy định bổ sung ở Điều 170a; đồng thời Điều 171 BLHS năm 1999
cũng đã được sửa đổi.
So với BLTTHS năm 1988, quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của người bị hại đã được mở rộng thêm 6 trường hợp lên 11 trường hợp.

diện trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản ghi
rõ nội dung yêu cầu khởi tố và yêu cầu họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản. Biên
bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay cho Cơ quan điều tra để xem
xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.
c. Thời điểm.
Đối với những vụ án về các tội phạm quy định tại Điều 105 BLTTHS năm
2003, nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền không
được khởi tố vụ án. Trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên,
chưa đủ năng lực hành vi hoặc là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất mà không thể hiện được ý chí của mình thì người đại diện hợp pháp của họ
có quyền yêu cầu khởi tố vụ án.
Để ra quyết định khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành
kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, xác định dấu hiệu của tội phạm và
yêu cầu khởi tố của người bị hại. Yêu cầu khởi tố của người bị hại được thể hiện
qua đơn yêu cầu của họ hoặc ý kiến ở biên bản ghi lời khai.
2.

Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp khởi tố vụ

án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
Theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong trường hợp
người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án
phải được đình chỉ.
Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu
cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã
yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án vẫn có thể
tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ
trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Có thể thấy, khi người bị hại có yêu cầu khởi tố và vụ án đã được điều tra,

cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của
họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với
vụ án; thứ hai, quy định rõ người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có
quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
III, Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
1.

Một số hạn chế.

- Về các trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại:

Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

8


Trường Đại học Luật Hà Nội
Trong BLTTHS năm 2003 quy định 11 tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu
của người bị hại và đều thuộc khoản 1 của các điều : 104, 105, 106, 108, 109,
111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS.
Thực tiễn cho thấy có những hành vi thuộc một số loại tội lẽ ra nên trao
cho người bị hại quyền yêu cầu khởi tố nhưng luật lại không quy định. Cụ thể
như:
+ Trong các tội xâm phậm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con
người, có tội đe dọa giết người, tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (giống như tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chỉ khác chủ thể là
người có chức vụ, quyền hạn và phạm tội trong lúc thi hành công vụ) vì vậy, nên

yêu cầu khởi tố. Trong thực tế khi áp dụng quy định này đã nảy sinh những
vướng mắc ở một số trường hợp. Chẳng hạn, 2 người đánh nhau người bị hại tỷ
lệ thương tật 15% thuộc khoản 1 Điều 104 BLHS, trong quá trình điều tra, người
bị hại (gần đủ 18 tuổi) không yêu cầu xử lí nhưng cha của người bị hại (đại diện
hợp pháp của người bị hại) lại yêu cầu xử lí.
- Về hình thức thể hiện của yêu cầu khởi tố:
BLTTHS 2003 không quy định hình thức yêu cầu khởi tố là gì nhưng
thông thường yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp
của người bị hại được thể hiện trong đơn hoặc họ trực tiếp trình bày (sau đó
được lập thành biên bản ghi ý kiến hoặc biên bản ghi lời khai). Trong khoa học
pháp lí cũng như thực tiễn áp dụng thì cả hai trường hợp trên, yêu cầu đều được
chấp nhận và có giá trị pháp lý như nhau. Tuy nhiên, hiện nay còn có sự nhận
thức chưa thống nhất, cho rằng hình thức yêu cầu khởi tố do người bị hại trực
tiếp trình bày có mặt hạn chế là dễ bị làm sai lệch hoặc bị người bị hại phủ nhận.
Trong thực tế các trường hợp trên không nhiều nhưng không phải không
xảy ra. Vì vậy, nên có quy định về hình thức yêu cầu khởi tố theo hướng người
bị hại phải thể hiện yêu cầu khởi tố trong đơn yêu cầu, trừ trường hợp không
biết chữ hoặc có lý do chính đáng mà họ không thể viết đơn được thì có thể trực
tiếp trình bày và nội dung yêu cầu đó phải được lập thành biên bản.
- Về trường hợp rút đơn yêu cầu khởi tố tại phiên tòa:
Tại khoản 2 điều 105 BLTTHS 2003 quy định: “ Trong trường hợp người
đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải
được đình chỉ”, trừ trường hợp “có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố
rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy
người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”.
Như vậy, BLTTHS chỉ quy định về trường hợp người đã yêu cầu khởi tố
có yêu cầu từ trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, còn trường hợp người đã yêu
cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố rút yêu cầu tại phiên tòa thì chưa có quy định xử
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

2. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình
sự theo yêu cầu của người bị hại.
Thứ nhất, về quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp người
bị hại là người có nhược điểm về thể chất và tâm thần: Theo quy định tại khoản
1 Điều 105, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất không thể trực tiếp
thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án
trước đó mà phải thông qua người đại diện. Thực tiễn, có những trường hợp
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

11


Trường Đại học Luật Hà Nội
một người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nhưng khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của họ chỉ bị hạn chế một phần, nghĩa là họ vẫn có khả
năng nhận thức nhất định về hậu quả của việc khởi tố hay không khởi tố vụ án
cũng như ảnh hưởng của việc khởi tố vụ án đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín
của mình. Trong khi đó, luật tố tụng hình sự lại "tước" quyền yêu cầu khởi tố vụ
án hình sự mang tính chất trực tiếp của họ mà buộc phải thực hiện thông qua
người đại diện, mặc dù họ hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức để tự thực hiện
quyền này, đó rõ ràng là điều bất hợp lý. Vấn đề sẽ càng trở nên phức tạp hơn
nếu quan điểm giữa người bị hại và người đại diện của họ không đồng nhất với
nhau trong việc có yêu cầu khởi tố vụ án hay không hoặc có rút yêu cầu khởi tố
vụ án hay không. Vì vậy, cần phải sửa đổi Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự
theo hướng không phải mọi trường hợp người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất đều phải thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thông qua người
đại diện hợp pháp. Chỉ những trường hợp người bị hại bị bệnh làm mất khả năng
nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì mới phải thực hiện quyền này qua người
đại diện, các trường hợp khác họ có thể tự mình yêu cầu khởi tố vụ án hoặc rút
yêu cầu khởi tố vụ án bình thường. Vì vậy, theo đó luật nên quy định cụ thể và

tục xử lý vụ án hình sự hay không. Không thể cho rằng do sai lầm của cơ quan
tiến hành tố tụng mà tước quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của họ, bởi
quyền này đã được luật quy định và có liên quan mật thiết đến lợi ích về mặt
tinh thần hoặc danh dự, nhân phẩm của họ. Ngược lại, nếu vụ án được khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại nhưng quá trình điều tra xác định tội phạm đã khởi
tố không đúng với hành vi tội phạm xảy ra và cần thay đổi quyết định khởi tố vụ
án, nhưng tội phạm mới khởi tố này không thuộc trường hợp quy định tại Điều
105 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nghĩa là khởi tố vụ án không cần yêu cầu của
người bị hại; trong trường hợp này, xét về bản chất đây là tội phạm thông
thường, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án chỉ là nhằm xác định lại đúng tội
danh của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, vụ án lúc này cần phải được tiến
hành theo thủ tục thông thường, các điều kiện về yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại không còn tồn tại nữa, do đó người bị hại không
có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trước đó.
- Thứ tư, nghiên cứu để mở rộng hơn nữa phạm vi các tội mà cơ quan có
thẩm quyền chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Nên mở rộng đối
với các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm và chỉ áp
dụng đối với các tội ít nghiêm trọng.
+Trường hợp một người gây thương tích cho nhiều người và đều thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 điều 104 BLHS nhưng chỉ có một người có yêu
cầu khởi tố. Cần sớm có hướng dẫn cụ thể để giúp các địa phương tháo gỡ
vướng mắc.

Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

13


Trường Đại học Luật Hà Nội
+ Trong các tội xâm phạm sức khỏe, nhất là đối với tội cố ý gây thương

sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (khoản 1
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

14


Trường Đại học Luật Hà Nội
Điều 105); tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” (khoản 1 Điều 106); tội “vô ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (khoản 1 Điều
108); tội “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do
vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính” (khoản 1 Điều 109); tội
“cưỡng dâm” (khoản 1 Điều 113).
Khoản 3 Điều 51 BLTTHS năm 2003 còn quy định: “Trong trường hợp
vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ
luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lợi buộc
tội tại phiên tòa”.
Những quy định về các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của
người bị hại trong BLTTHS năm 2003 đánh dấu bước tiến bộ về kỹ thuật lập
pháp tố tụng hình sự nước ta theo hướng phân định rõ hơn những vụ án công tố
và những vụ án tư tố. Tuy nhiên, trong Bộ luật này vẫn chưa đưa ra được định
nghĩa pháp lí của khái niệm tư tố và chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đối
với những vụ án tư tố. Vì vậy, pháp luật cần hoàn thiện hơn nữa những quy định
về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại nhằm bảo đảm áp dụng
linh hoạt vào giải quyết các vụ án cụ thể trên thực tế.
C.

KẾT LUẬN.

Để hạn chế những trường hợp khi có tội phạm xảy ra, việc khởi tố vụ án


Vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại / Nguyễn Hải

Ninh // Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội , Số 6/2010.
5.

Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự

theo yêu cầu của người bị hại / Nguyễn Đức Thái // Tạp chí Kiểm sát. Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Số 09/2009.
6.

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại - những vấn đề lý

luận và thực tiễn : Khoá luận tốt nghiệp / Trương Thị Hồng Nhung; Người
hướng dẫn: ThS. Hoàng Văn Hạnh . - Hà Nội, 2010 .
7.

http//www.tailieu.vn

Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật tố tụng hình sự

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status