Câu hỏi : Thực trạng hiến xác, hiến bộ phận cơ thể ở Việt Nam hiện nay
BÀI LÀM
I. LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay vấn đề về hiến xác, hiến bộ phận cơ thể khi chết là một vấn đề
không còn xa lạ đối với người dân Việt Nam. Cùng với những tiến bộ khoa
học kĩ thuật hiện đại cũng như tư tưởng đổi mới của con người, nhằm phục
vụ cho việc nghiên cứu khoa học hiến xác, hiến bộ phận cơ thể là một trong
những đóng góp đó. Ở các nước phương tây thì vấn đề này đã được sự đồng
thuận từ người dân cũng như chính sách pháp luật của nhà nước. Nhằm tạo
hành lang pháp lý thuận lợi cho việc lấy, ghép mô; bộ phận cơ thể và tạo
nguồn cung cấp mô, tạng dồi dào phục vụ cho việc cứu chữa người bệnh và
nghiên cứu khoa học, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật
điều chỉnh về việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người mà tiêu biểu là Luật
Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006, trong đó có
quy định cụ thể về điều kiện hiến xác; bộ phận cơ thể khi còn sống cũng như
điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Tuy nhiên, thực tiễn thực
hiện việc hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể cho thấy pháp luật về vấn đề này
còn khá nhiều điểm bất cập, đặc biệt là trong các quy định về điều kiện hiến
mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu,
hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau
khi chết có cân nhắc, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài là một nhu cầu cấp
thiết.
1
II. NỘI DUNG
1. Quy định của pháp luật về hiến xác ,hiến bộ phận cơ thể
Nhằm tạo một hành lang pháp lí cho việc thực hiện hiến xác, hiến bộ phận
quyền và điều kiện đối với người hiến mô, bộ phận cơ thể mà chỉ quy định
trong những trường hợp nào “thầy thuốc” (ở đây mà cụ thể là cơ sở y tế có
thẩm quyền) được tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống hoặc
sau khi chết. Và từ những quy định ở khoản 1 Điều 30, chúng ta có thể thấy
Luật quy định về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết cần một
trong hai điều kiện sau:
thứ nhất, phải có sự sự đồng ý của thân nhân người chết, trong trường
hợp người chết không có di chúc để lại;
thứ hai, trường hợp người chết có di chúc để lại (khoản 2 Điều 30
BVSKND.
Bên cạnh đó, Luật này cũng có quy định về điều kiện của việc ghép mô, bộ
phận cơ thể (tức là điều kiện với người nhận mô, bộ phận cơ thể để chữa
bệnh) là phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc người giám hộ của người
bệnh chưa thành niên (khoản 2, Điều 30).
Tuy nhiên, ở đây, luật mới chỉ quy định rất chung về điều kiện đối với người
hiến mô, bộ phận cơ thể nói chung cũng như điều kiện hiến mô, bộ phận cơ
thể sau khi chết nói riêng. Khoản 2 Điều 30 chủ yếu nhấn mạnh đến tính tự
nguyện của người hiến hoặc gia đình họ trong việc hiến mô, bộ phận cơ thể
(tức là chỉ quy định điều kiện về ý chí) mà không có một quy định nào điều
kiện về độ tuổi, về sức khoẻ đối với người hiến, về năng lực nhận thức của
họ… Theo chúng tôi, khoản 2 Điều 30 của Luật BVSKND chỉ là một quy
định mang tính chất kỹ thuật để giúp các cơ sở y tế tiến hành việc lấy ghép
mô, bộ phận cơ thể được thuận lợi hơn trong một số trường hợp cần thiết
như đã nêu ở trên. Mặt khác, chúng ta cũng thấy quyền hiến mô, bộ phận cơ
3
thể người thời kỳ này chưa được thừa nhận nên chưa thể có được một quy
định đầy đủ về điều kiện mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống cũng như
điều kiện đối với người hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết.
bệnh hoặc nghiên cứu khoa học mà thực tế trong những năm vừa qua là việc
sử dụng mô (giác mạc, kết mạc) để chữa trị cho người bệnh; sử dụng bộ
phận cơ thể, xác tử thi vô thừa nhận phục vụ cho việc giảng dạy tại các
Trường y. Tuy nhiên, cả Luật BVSKND cũng như Điều lệ Khám chữa bệnh
và phục hồi chức năng đều chưa có quy định cụ thể về điều kiện đối với
người hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết như: chưa quy định về vấn đề
hiến xác, liệu có cần quy định về độ tuổi với người hiến để lại di chúc hay
không? Điều kiện về sức khoẻ, điều kiện về năng lực nhận thức hay liệu có
bắt buộc cần phải có sự đồng ý của gia đình trong trường hợp người hiến để
lại di chúc sau khi chết, nếu cần có sự đồng ý của gia đình thì sự đồng ý này
chỉ cần đồng ý bằng lời nói hay phải bằng văn bản, trong trường hợp người
hiến xác, bộ phận cơ thể cho giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học thì trình tự
thủ tục thế nào… Do đó, thực tế các cơ sở y tế vẫn còn nhiều khó khăn trong
việc nhận mô, bộ phận cơ thể người đối với trường hợp người hiến sau khi
chết. Mặt khác, các văn bản trên cũng mới chỉ quy định về việc hiến mô, bộ
phận cơ thể sau khi chết nhằm mục đích chữa bệnh, chứ chưa có một quy
định nào về hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết nhằm mục đích
nghiên cứu khoa học, nên vấn đề này thực tế xảy ra các cơ sở y tế rất khó
giải quyết. Ví dụ, một người làm đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể của
mình sau khi chết phục vụ cho mục đích cứu chữa người bệnh, tuy nhiên lúc
anh ta chết, cơ sở y tế có thẩm quyền mới phát hiện ra anh ta bị HIV… thì
cơ sở y tế có được nhận mô, bộ phận cơ thể đó cho mục đích khoa học
không?
b. Bộ luật Dân sự năm 2005
5
Phải nói rằng, việc thừa nhận và quy định quyền hiến mô, bộ phận cơ thể,
gắn liền với việc thừa nhận và quy định các điều kiện hiến mô, bộ phận cơ
thể. Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể được thừa nhận là cơ sở cũng như căn
hoàn toàn có thể thực hiện được ở nước ta. Mà một trong những người tiên
phong cho nền y học nước ta hoạt động ghép tim, ghép thận và ghép gan là
Giáo sư Tôn Thất Tùng một giáo sư đã đóng góp rất lớn cho nền y học toàn
thế giới. Cho đến ngày nay thì hoạt động lấy, ghép mô bộ phận cơ thể người
trở nên phổ biến và ngày càng phát triển. Theo số liệu thống kê, nhu cầu
được hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở nước ta là rất lớn và ngày
càng gia tăng. Cụ thể là, cả nước có khoảng 5000 – 6000 người suy thận
mãn cần được ghép thận. Con số 1500 người được chỉ định ghép gan nhưng
không có nguồn cho nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng nguy hiểm
đến tính mạng ở 05 bênh viện lớn cả Hà Nội đã phần nào phản ánh được
thực trạng hiện nay. Không chỉ là ghép thận, ghép gan, số bệnh nhân cần
phải ghép giác mạc cũng ngày càng tăng. Đến nay có khoảng hơn 5.000
người bệnh đang chờ được ghép giác mạc. Riêng tại Viện Mắt Trung ương,
mỗi năm nhu cầu ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên. Từ năm 1985 đến
nay, Viện mới chỉ ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103 ca,
năm 2005 ghép được 150 ca. Số giác mạc được dùng để ghép chủ yếu lấy từ
nguồn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (khoảng 50-100
giác mạc/năm), số còn lại được lấy từ bệnh nhân bị bỏ nhãn cầu do chấn
thương và các nguyên nhân khác mà giác mạc có đủ tiêu chuẩn sử
dụng.Trước nhu cầu cấp bách trên, ngay từ năm 1992, Nhà nước đã đầu tư
cơ sở vật chất, phương tiện, cán bộ nên cho đến nay, Việt Nam đã có 10
bệnh viện có đủ khả năng và điều kiện ghép thận và đã tiến hành thí điểm
việc ghép thận, gan. Tính đến 20/03/2006, các bệnh viện trên đã ghép thành
7
công được 161 ca, trong đó có 158 ca ghép thận và 04 ca ghép gan. Tất cả
các ca ghép này đều lấy thận, gan của người sống là cha, mẹ, anh, chị, em
trong gia đình, cùng huyết thống, có các chỉ số sinh học tương đương, chưa
có trường hợp nào lấy bộ phận cơ thể người hiến sau khi chết. Những thành
cơ thể người khi sống và ngay cả khi chết. Các cán bộ y tế phải giải thích
cho mọi người biết được lợi ích của việc hiến xác và bộ phận cơ thể người.
Từ đó, người dân sẽ hiểu hơn và nhìn nhận vấn đề này một cách tích cực
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần phải đầu tư hệ thống trang thiết bị y
tế hiện đại, để đảm bảo cho việc lấy, ghép bộ phận cơ thể được an toàn và
hiệu quả hơn. Đồng thời, nước ta phải có chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ,
y bác sỹ để nâng cao trình độ chuyên môn trong hoạt động này. Đặc biệt
khuyến khích việc cho các y bác sỹ có trình độ chuyên môn sang các nước
có nền y học phát triển để học hỏi kinh nghiệm ở các nước đó góp phần phát
triển nền y học nước nhà trong lĩnh vực giải phẫu.
Mặt khác, nhà nước mà trực tiếp là Bộ y tế lập kế hoạch xây dựng
ngân hàng mô tạng trong tương lai gần nhằm đáp ứng đủ, kịp thời hơn nhu
cầu của người ghép tạng bất cứ thời điểm, tình huống nào. Tuy nhiên khi lập
ngân hàng mô đòi hỏi nhà nước phải có sự kiểm soát chặt chẽ để tránh tình
trạng thực hiện với mục đích thương mại.
Đẩy mạnh xây dựng một cơ chế tài chính nhằm thay thế dần việc đài
thọ cho nhà nước bởi vì khi tiến hành cấy, ghép bộ phận cơ thể. Bởi vì khi
nhiều người tham gia vào việc hiến, cấy ghép bộ phận cơ thể thì nhà nước
không thể bao cấp được hết. Vấn đề này ở một số nước như Anh, Pháp, Đức
những chi phí về tài chính sẽ được các công ty bảo hiểm thanh toán toàn bộ.
Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề này còn khó khăn do nền kinh tế nước ta còn
đang phát triển, đời sốn nhân dân mới chỉ được cải thiện mà chi phí cho việc
9
cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể là rất lớn. Mặt khác, nước ta cũng chưa có loại
bảo hiểm chuyên về vấn đề này. Nếu như chỉ trông chờ vào sự đài thọ của
nhà nước thì không thể. Nên chúng ta phải có cách thu hút chi phí bằng cách
khác. Chẳng hạn như :
+ Các hãng bảo hiểm có uy tín nên mở loại hình bảo hiểm về vấn đề
mới nên cũng còn tồn tại nhiều bất cập, vì vậy tiếp tục nghiên cứu, hoàn
thiện các quy định pháp luật về quyền hiến mô, bộ phận cơ khi còn sống
cũng như hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết đang là một nhu cầu cấp
thiết. Cấy ghép là một trong những thành tựu kì diệu nhất của y học hiện đại.
Tuy nhiên điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào lòng hảo tâm của người hiến
tặng và các thành viên trong gia đình họ, những người sẵn lòng trao tặng
một phần cơ thể để cứu sống người khác. Vì vậy rất cần những người có tấm
lòng hảo tâm để có thể cứu sống những người khác, đóng góp vào nền y học
của loài người, người dân Việt Nam cần nhận thức đây là một hoạt động có
ý nghĩa rất lớn đến sự sống còn của con người.
11