ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các giai đoạn tố tụng khác nhau thì vai trò của các hoạt động tâm lý cũng
khác nhau. Nó phụ thuộc vào nhiệm vụ mà giai đoạn đó phải thực hiện. Trong phạm vi
bài tiều luận dưới đây sẽ giúp chúng ta hiều rõ hơn về một hoạt động tâm lý cụ thể đó
là hoạt động giáo dục trong các giai đoạn tố tụng. Việc nghiên cứu vai trò của hoạt
đông giáo dục giúp chúng ta có hiểu biết cụ thể, toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề
này về lý luận và thực tiễn.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRONG
HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP.
1. Khái niệm hoạt động giáo dục.
Hoạt động giáo dục là quá trình tác động có hệ thống và có mục đích đến tâm
lý người bị giáo dục,để luyện tập cho họ những thói quen cũng như những phẩm
chất tâm lý mà người giáo dục mong muốn.
2. Mục đích của hoạt động giáo dục trong hoạt động tư pháp
Thứ nhất là tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,đồng thời tăng cường ý
thức pháp luật cho mọi công dân;
Thứ hai,phòng ngừa hành vi phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật;
Thứ ba là giáo dục,cải tạo và cảm hóa người phạm tội. Đây là mục tiêu
chủ yếu của hoạt động giáo dục trong hoạt động tư pháp.
3. Đặc điểm của hoạt động giáo dục trong hoạt động tư pháp.
Thứ nhất,hoạt động giáo dục trong các giai đoạn tố tụng luôn luôn được
thực hiện trong khuôn khổ nhất định.
Thứ hai,hoạt động giáo dục do các cán bộ tư pháp thực hiện nhằm tác
động đến tâm lý của người tham gia tố tụng;
Thứ ba,hoạt động giáo dục được tiến hành thông qua các giai đoạn tố
tụng.
Thứ tư,khi tiến hành hoạt động giáo dục,các cán bộ tư pháp thường sử
dụng những phương pháp tâm lý tư pháp.
1
2
hậu quả đã gây ra… Ở đây sự đấu tranh của điều tra viên có tác động, ảnh hưởng rất
lớn đến bị can. Sự tác động này theo hướng làm khơi dậy trong bị can cảm xúc về tội
lỗi của mình. Sự đối xử công bằng, lịch sự và nhân đạo của điều tra viên sẽ kích thích
sự suy nghĩ của bị can về lỗi của mình, sẽ làm cho họ phân tích đúng đắn những sai
lầm của mình, vạch ra những phẩm chất tiêu cực mà mình mắc phải, đồng thời suy
nghĩ đúng về hình phạt mà Toà án sẽ áp dụng đối với họ. Tuy nhiên, trong quá trình
phân tích hành vi phạm tội của bị can, điều tra viên cần chú ý thận trọng khi rút ra kết
luận về tính chất nghiêm trọng của tội phậm, về nguyên nhân tội phạm, động cơ phạm
tội của họ.
Giáo dục thông qua việc đấu tranh với bị can được thể hiện cụ thể ở việc điều tra
viên có thể công khai tranh luận về các tình tiết của vụ án, song cũng có thể bí mật nêu
ra các câu hỏi và giải đáp các câu hỏi của nhau. Thông thường là bị can tự đấu tranh
với bản thân họ, điều quan trọng là điều tra viên phải nắm bắt được các trạng thái này
để tạo cho “con người chân chính” trong bị can chiến thắng. Để tác động giáo dục đối
với bị can, điều tra viên còn có thể thông qua những sự việc, hiện tượng và các nguồn
thông tin khác. Bởi vì nhiều khi sự thuyết phục của điều tra viên lại không đem lại kết
quả, song nếu điều tra viên biết sử dụng những sự việc, thông tin có giá trị thuyết phục
đối với bị can thì sẽ có những chuyển biến tốt hết sức bất ngờ.
Vấn đề kích thích và khơi dậy lòng tự trọng và nguyện vọng tự giáo dục của bị
can là một quá trinh phức tạp xong có thể thực hiện được. Trong bất kỳ quá trình cảm
hoá nào, sự giáo dục cũng có hai bước phát triển – quá trình cung cấp tri thức, kinh
nghiệm, thói quen; quá trình tự giáo dục một cách tích cực, sáng tạo sử dụng các tri
thức, kinh nghiệm và thói quen mới. Nếu như không có quá trình cải tạo thì không thể
đạt được mục đíc giáo dục. Dưới sự tác động tích cực của điều tra viên trong bị can
dần dần trỗi dậy ý thức mong muốn tự giáo dục. Biểu hiện rõ nét nhất là sự thành khẩn
nhìn nhận tội lỗi và nghiêm khắc tự phê phán hành vi của bản thân. Biểu hiện tích cực
nhất là lòng mong muốn được tự giáo dục chính là việc bị can trực tiếp trình bày với
Toà án thể hiện ở tính chất cụ thể, trực tiếp khi xét xử, nó tác động vào nhận thức của
những người tham dự phiên toà về các chứng cứ cho dù mỗi chứng cứ đó có thể gây
xúc động,tích cực hoặc tiêu cực.
Phiên toà có tính chất giáo dục đối những người tham gia tố tụng và tiến hành tố
tụng nói riêng mà còn đối với mọi công dân. Hoạt động giáo dục của Toà án thực hiện
trong phiên toà và ngoài phiên toà. Hoạt động giáo dục của Toà án ngoài phiên toà
được thể hiện bằng cách thẩm phán trò chuyện với bị cáo, với nhân thân của họ, với
người dại diện của cơ quan, tổ chức và đồng thời được thực hiện trong lời phát biều
công khai về kế hoạch sắp tới. Hoạt động giáo dục trong phiên toà được thực hiện bởi
cá nhân thẩm phán, bởi hội đồng xét xử và những người tham gia xét xử như kiểm sát
viên, luật sư… cụ thể:
* Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử , Toà án không chỉ lập kế hoạch nhận thức
trong giai đoạn xét hỏi mà còn lập kế hoạch thực hiện tác động giáo dục. Vì vậy, có thể
mời thêm người làm chứng, đại diện đoàn thể xã hội, nghiên cứu điều kiện sống và
điều kiện giáo dục của bị cáo…để thực hiện mục đích nói trên.
* Trong giai đoạn xét xử, đặc điểm của những phương pháp tác động giáo dục là
cùng một lúc phải tác động đến cả bị cáo và tất cả những người có mặt tại phiên toà.
Thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư phải luôn ý thức đước rằng mọi hoạt động của họ
phải đảm bảo cả chức năng giáo dục. Họ phải tác động đến cả bị cáo, thức tỉnh trong bị
cáo cảm nhận được lỗi lầm và mong muốn được sử chữa lỗi lầm đó. Họ cần phải tác
động đến tất cả những người có mặt tại phiên toà hình thành cho họ ý thức tôn trọng
pháp luật, chỉ ra cho họ biện pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, củng cố
tâm lý cần thiết cho họ.
Tác động giáo dục của Toà án thể hiện cả khi tuyên án. Vì lẽ đó mà bản án của
Toà án tuyên phải đúng, đáp ứng với những yêu cầu của pháp luật đó là hình phạt phải
phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân cách của bị
5
quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân, hoạt động giáo dục cá nhân phạm nhân được thể
hiện rõ ràng. Đây là chức năng giáo dục đặc biệt. Chức năng giáo dục đặc biệt này
được thể hiện qua những nét đặc trưng cơ bản dưới đây của hoạt động giáo dục:
Thứ nhất, ở giai đoạn giáo dục, cải tạo phạm nhân phương pháp giáo dục đặc thù
được vạch ra rõ ràng. Đây chính là quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân có những
thói quen và những phẩm chất tiêu cực nhất định. Muốn giáo dục cho họ những phẩm
chất tích cực thì phải loại bỏ ở họ những phẩm chất tiêu cực đó.
Thứ hai, điều kiện giáo dục đặc biệt, có sự kiểm tra xã hội nghiêm khắc, ngặt
nghèo, đó là phạm nhân phải sống cách ly khỏi xã hội và phải chấp hành chế độ của
trại. Quá trình giáo dục phải luôn luôn kết hợp với thuyết phục và cưỡng chế. Trong
điều kiện giáo dục đặc biệt ở trại thì yếu tố cưỡng chế giữ vai trò quan trọng hơn cả.
Chế độ của trại tạo điều kiện làm thay đổi những nhu cầu, thói quen xấu và phẩn chất
nhân cách tiêu cực của phạm nhân… Xuất hiện mối quan hệ bất bình đẳng một cách rõ
rệt giữa Ban giám thị trại và phạm nhân. Quan hệ bất bình đẳng này do pháp luật quy
định. Pháp luật quy định Ban giám thị trại giam được quyền kiểm tra, giám sát các
phạm nhân trong cuộc sống, lao động, dạy nghề và giao tiếp; đối với các phạm nhân bị
hạn chế thì hoạt động giáo dục được thể hiện thông qua sự tác động của chính quyền
xã, phường, trị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi trước đây phạm nhân cư trú hoặc làm
việc.
Thứ ba, cải tạo trong trại được tiến hành trong nhóm các phạm nhân, trong nhóm
luôn luôn tồn tại những phẩm chất tâm lý tiêu cực nhất định vì họ là những người
phạm tội. Do đó, khi tiến hành hoạt động giáo dục, cải tạo, ban giám thị trại phải luôn
luôn cân nhắc những mâu thuẫn trong giáo tiếp giữa các phạm nhân. Điều đó đòi hỏi
ban giám thị trại phải chuẩn bị và sử dụng các phương pháp tác động đặc thù với mục
đích giáo dục, cải tạo, và các phương pháp phải được sử dụng thường xuyên trong các
hoàn cảnh cụ thể được tạo ra trong nhóm phạm nhân. Muốn cải tạo phạm nhân thì phải
đồng thời tiến hành cải tạo cả nhóm các phạm nhân khác. Ở đây tác động giáo dục phải
7
nguồn tin, tài liệu cần thiết cho vụ án. Từ đó mà sẽ xây dựng được mô hình phạm tội,
cũng như hành vi của người phạm tội. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở hoạt động nhận
thức và thiết kế đơn thuần này thì có thể khẳng định rằng hoạt động điều tra chưa thể
hoàn thiện. Sự hiệu quả trong điều tra chỉ có khi điều tra viên tiến hành các hoạt động
trên hướng đến việc giáo dục bị can, khiến họ tranh đấu với chính bản thân mình và
thành khẩn khai báo, hướng đến việc giáo dục các chủ thể khác tham gia tố tụng giúp
họ có được tâm lý tốt, niềm tin vào sự công bằng, đúng đắn của pháp luật. Mỗi hoạt
động của điều tra viên trong cử chỉ, lời nói...đều phải hướng đến chức năng giáo dục
ban đầu. Đây cũng là việc giúp cho những người tham gia tố tụng và đặc biệt là bị can
có được tâm lý ổn định cần thiết đối diện với những hành vi mà mình gây ra, từ đó tích
cực cải tạo trở thành con người mới. Vì vậy trong giai đoạn này, giáo dục không phải
chức năng chính nên cũng không phải hoạt động chính, chủ đạo, trung tâm. Nó chỉ
đóng vai trò quan trọng, cần thiết, là cơ sở để thực hiện các hoạt động giáo dục tiếp
theo.
Trong giai đoạn xét xử: Để Tòa án có thể ra được những quyết định tố tụng
khách quan và đúng pháp luật, xử phạt đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và
không xét xử và làm oan sai người vô tội. Đặc biệt khiến bị cáo tâm phục khẩu phục,
nhận ra những sai lầm trong hành vi lệch lạc của mình và chấp nhận thay đổi chính
mình thì những người tiến hành tố tụng cũng cần đặt hoạt động giáo dục là một chức
năng hướng đến sau cùng và không thể thiếu. Tuy không giữa vai trò chủ đạo thay cho
hoạt động thiết kế được nhưng hoạt động giáo dục vẫn đóng một vai trò quan trọng và
rất cần thiết trong quá trình xét xử. Xét cho cùng hoạt động xét xử của Toà án chỉ
mang lại hiệu quả khi giáo dục được một phần đối với bị can cũng như các cá thể khác
liên quan. Nếu xét xử không kèm theo giáo dục thì đó chỉ thể hiện những chế tài hình
sự cứng nhắc mà chưa thấy mục đích cao cả, nhân đạo của nhà nước ta hướng đến.
9
Trong giai đoạn cải tạo và giáo dục phạm nhân: mục đích cuối cùng của giai
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tâm lí học tư pháp, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, 2006.
2. Chu Liên Anh, Giáo trình tâm lí học tư pháp, Viện đại học mở, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2009.
3. Chu Liên Anh, Dương Thị Loan, Giáo trình tâm lí học tư pháp, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 2010.
4. Chu Liên Anh, Dương Thị Loan, Tâm lí học tư pháp - Hướng dẫn trả lời lí
thuyết, giải bài tập tình huống và trắc nghiệm, Nxb. Chính trị - hành chính, Hà
Nội, 2010.
5. Nguyễn Hồi Loan, Đặng Thanh Nga, Giáo trình tâm lí học pháp lí, Nxb. Đại
học quốc gia Hà Nội, 2004.
11
MỤC LỤC
Contents
Contents............................................................................................................................................................12
12