BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
NGUYỄN QUANG DIỆN
XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015 - 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
NGUYỄN QUANG DIỆN
XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015 – 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng đời sống văn
hóa, nếp sống văn minh……………………………………………………………....10
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng khu phố văn hóa…………...12
1.4. Các tiêu chuẩn công nhận danh hiệu Khu phố văn hóa trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh……………………………………………………………………..17
1.5. Kinh nghiệm xây dựng khu phố văn hóa của một số quận, huyện trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh và bài học kinh nghiệm cho quận 1…………………….19
1.5.1. Kinh nghiệm của một số quận, huyện…………………………………………19
1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho quận 1…………...……………………………….....25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1…………………………………………………………….27
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN 1 GIAI ĐOẠN 2000 – 2014……………………………………………28
2.1. Tổng quan về tình hình xây dựng khu phố văn hóa tại Thành phố Hồ Chí
Minh………………………………………………………………..………………….28
2.1.1. Tình hình xây dựng khu phố văn hóa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh…...…...28
2.1.2. Kết quả đạt được và hạn chế của quá trình xây dựng khu phố văn hóa tại
Thành phố Hồ Chí Minh……………………………………………………………..30
2.2. Thực trạng việc xây dựng khu phố văn hóa trên địa bàn Quận 1 giai đoạn
2000 - 2014…………………………………………………………………………….38
2.2.1. Đặc điểm tình hình chung…………………………………………………..…38
2.2.2. Xây dựng gia đình văn hóa…………………………………………………….42
2.2.3. Xây dựng khu phố văn hóa…………………………………………………….44
2.2.4. Khảo sát ý kiến của người dân về việc xây dựng khu phố văn hóa, phường văn
minh đô thị tại địa bàn quận 1………………………………………………………..57
2.2.5. Kết quả đạt được, những vấn đề hạn chế và nguyên nhân……………….…..58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2…………………………………………………………….65
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1 GIAI ĐOẠN 2015 – 2025……………………….66
hiện nay, quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra ngày càng mạnh trên quy mô cả
nước nói chung và đặc biệt ở hai thành phố lớn nhất là Thủ đô Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh. Một trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa chiến lược là vấn
đề xây dựng và phát triển văn hóa đô thị, môi trường văn hóa đô thị được định hình
và ổn định là điều kiện hình thành nếp sống văn hóa có giá trị và bản sắc riêng tại
các vùng đô thị lớn.
Ngay từ đầu năm 1943, khi chưa giành được chính quyền, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã có “Đề cương văn hóa Việt Nam” và xác định rằng văn hóa một trong
ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) của cách mạng Việt Nam. Ngày 03/9/1945
trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình
bày 6 nhiệm vụ cấp bách của nước Việt Nam mới trong đó có 2 nhiệm vụ thuộc văn
hóa, đó là “Cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt”, “Giáo dục lại nhân dân, làm
cho dân ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị trung tâm, tiên phong về nhiều mặt
trên cả nước, là nơi hội tụ và giao thoa các vùng văn hóa trong nước và cả quốc tế,
là một thành phố đông dân với gần 10 triệu dân và hơn 2 triệu người nhập cư sinh
sống và làm việc trên địa bàn. Thành phố hiện có 24 quận - huyện, 322 phường - xã
- thị trấn và 1.975 ấp - khu phố. Từ khi Thông tư 04/TT-MTTW ngày 03 tháng 5
năm 1995 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” mà tên gọi đầu tiên là “Toàn dân đoàn
kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”. Sau gần 20 năm thực hiện cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đã có nhiều
phường đạt chuẩn phường văn minh đô thị, nhiều khu phố đạt danh hiệu khu phố
văn hóa, môi trường ở các khu dân cư có bước phát triển mới, văn minh, sạch đẹp,
an toàn, hạn chế thấp nhất tệ nạn xã hội, tình làng nghĩa xóm ngày một gắn kết và
2
3
2. Tổng quan nghiên cứu.
Đề cập đến vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nói
chung và xây dựng các danh hiệu văn hóa như gia đình văn hóa, khu phố văn hóa
nói riêng đã có những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, thể hiện qua
một số văn bản quan trọng, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nêu rõ việc phát động một cách thực
chất phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là một trong những
giải pháp quan trọng nhất. Gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về xây dựng và phát
triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước,
trong đó xác định mục tiêu chung là “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân
tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ
chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con
người về nhân cách, lối sống; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn
hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
Có một số tác giả có đề tài nghiên cứu về môi trường văn hóa của Thành
phố, hoặc ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, văn hóa đô thị… có đề cập đến vấn
đề xây dựng các danh hiệu văn hóa như gia đình văn hóa, khu phố văn hóa và cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Có thể liệt
kê một số công trình:
- Thạc sĩ Hoàng Hương, Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ thuật
Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh là đồng
chủ nhiệm kiêm chủ biên đề tài “Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành
phố Hồ Chí Minh thời gian 1986 – 2006”, do Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ phát
hành năm 2015.
thành phố và quận 1, phân tích, đánh giá thực trạng, nhận định những kết quả đạt
được cùng những tồn tại hạn chế đặc thù của địa bàn trung tâm, từ đó đề ra các giải
pháp để vấn đề xây dựng khu phố văn hóa, các danh hiệu văn hóa nói chung và
5
phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở quận 1 phải có những
kết quả thực chất, giữ gìn giá trị cho các danh hiệu được công nhận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng việc xây dựng gia đình văn hóa, khu
phố văn hóa hơn 15 năm qua trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và
Quận 1 nói riêng, nhằm nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay để
thực hiện tốt hơn cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư” tại địa bàn trung tâm thành phố.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên các phương pháp
chủ yếu là: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp thống kê thu thập số liệu
thực tế và đang diễn ra của Thành phố Hồ Chí Minh, của quận 1 giai đoạn 2000 –
2014 làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho giai đoạn
2015 – 2025. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nghiên cứu,
tham khảo và sử dụng nhiều tài liệu của các đề tài có liên quan, các báo cáo tổng kết
và niên giám thống kê của Ủy ban nhân dân quận 1.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài về xây dựng khu phố văn hóa tại quận 1,
địa bàn trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng, giúp cho các cấp chính quyền có cái nhìn xuyên suốt và khách quan đối với
quá trình xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng khu phố văn hóa thông qua phong
trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" trên toàn địa bàn.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG KHU PHỐ VĂN HÓA
1.1. Các khái niệm cơ bản.
1.1.1. Khái niệm văn hóa và khu phố văn hóa.
Khái niệm văn hóa: hiện nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, chúng ta
xem xét một định nghĩa mang tính hệ thống của Giáo sư – Tiến sĩ khoa học Trần
Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần Ngọc Thêm,
2001, trang 25).
Khái niệm khu phố văn hóa: theo Tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng “Ấp văn hóa
hay khu phố văn hóa không có gì khác hơn là một mô hình nông thôn mới hoặc một
đô thị mới được xây dựng trên nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá
trình đô thị hóa và quá trình thực hiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, góp phần giữ gìn, phát huy mọi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc,
của địa phương” (Huỳnh Quốc Thắng, 2003, trang 37 tạp chí Văn hóa Nghệ thuật).
Theo bà Tô Thị Bích Châu - Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, Hội đồng Nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh - xây dựng khu phố văn hóa là cả một quá trình tích
cực tham gia, vận động, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng như giúp đỡ các
hoàn cảnh khó khăn, xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương, bài trừ tệ nạn xã hội, xóa
mù chữ, giảm hộ đói nghèo… với sự hưởng ứng của nhiều ban ngành, đoàn thể,
doanh nghiệp, các chợ, trường học…; ngoài ra cũng bao gồm nhiều hoạt động như
tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo, mở rộng các tuyến đường, tuyến hẻm, hình
thành những tuyến đường mới làm thay đổi lớn về mỹ quan đô thị, các mảng xanh
ngày càng phát triển nhiều hơn, tình hình vệ sinh môi trường, trật tự lòng lề đường
phải có chuyển biến, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
1.1.2. Khái niệm văn minh, đô thị.
đó mà đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát
triển của nghệ thuật và khoa học. (Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2010)
1.1.3. Khái niệm văn hóa đô thị, môi trường văn hóa.
Khái niệm văn hóa đô thị: Tiến sĩ Tôn Nữ Quỳnh Trân phân tích, văn minh
là bản chất cơ bản tạo nên sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, và những tính
9
chất của đô thị cùng nền văn hóa của đô thị cũng xuất phát từ bản chất này. Văn hóa
và văn minh có nhiều điểm khác nhau, nhưng tại đô thị, văn hóa và văn minh kết
hợp vào nhau để tạo nên một bản sắc văn hóa của đô thị, vì vậy văn hóa đô thị là
điểm trùng nhau giữa văn minh và văn hóa. Xét trong phạm trù văn hóa, văn hóa đô
thị thường xuất hiện như là một vùng văn hóa, đồng hành với các vùng văn hóa
khác như văn hóa làng xã, văn hóa biển… và là một nội dung trong vô số nội dung
vô cùng phong phú của văn hóa. (Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2010)
Tiến sĩ Lê Như Hoa tiếp cận đến văn hóa đô thị qua khía cạnh sản xuất, giao
tiếp và sử dụng thời gian nhàn rỗi, cho rằng văn hóa đô thị được hình thành trên cơ
sở sự phân công và bổ sung lao động, trên lối sống có sự hứng thú trong việc sử
dụng thời gian nhàn rỗi, một động lực cho việc tái sản xuất, phát triển văn hóa và
trên hình thức giao tiếp đặc trưng của đô thị của nhóm xã hội có mối quan hệ giao
tiếp đa dạng (Lê Như Hoa, 2002).
Khái niệm môi trường văn hóa: theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, môi trường
văn hóa là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần, trong một không gian và
thời gian cụ thể, trong đó con người và quan hệ trực tiếp của con người với tự
nhiên, với xã hội là nhân tố quan trọng nhất. (Nguyễn Thị Hậu, 2014)
Khái niệm môi trường văn hóa đô thị: theo TS. Nguyễn Thị Hậu, môi trường
văn hóa đô thị có nội hàm rộng lớn, được coi như là sự tổng hòa của lối sống đô thị;
đó là sự tổng hòa các dạng hoạt động sống điển hình của các cư dân đô thị, bao gồm
các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của lối sống. Ở đó con người là thể thống
về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7
đến ngày 6/8/1982 ở Mexico. “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét
riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các
giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả
năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật
đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính
nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một
phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi
11
không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội
lên bản thân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ngay từ những
ngày đầu tiên sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời. Tháng 1/1946,
Người viết cuốn sách Đời sống mới (3/1947) để hướng dẫn cụ thể mọi người tích
cực tham gia xây dựng và cho thành lập Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống
mới”. Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính; nếu không
giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân;
nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính là nhen lửa cho đời sống mới”. Người
chỉ rõ việc xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ việc “sửa đổi những việc rất cần
thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc,
cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách đó chính là cái mà hôm nay chúng ta
thường gọi là lối sống.
Khái niệm thường gặp hiện nay về “làng văn hóa” (hay ở đô thị hiện nay là
khu phố văn hóa) đã được Người nêu lên với chữ dùng là “làng phong thuần tục
mỹ”: “Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bãi, trộm cắp.
danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp.
Buôn lậu và tham nhũng phát triển. Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia
tǎng. Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến. Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là
trong việc cưới, việc tang, lễ hội... Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối
sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có
quyền. Nạn tham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí, ǎn chơi sa đọa
không được ngǎn chặn có hiệu quả. Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu
nhân dân, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến.
Những tệ nạn đó gây sự bất bình của nhân dân, làm tổn thương uy tín của Đảng, của
Nhà nước. Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội
lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bè bạn, môi trường sư phạm
xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ǎn chơi, nghiện ma túy... ở một bộ
phận học sinh, sinh viên; việc coi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và các bộ môn
chính trị, khoa học xã hội và nhân vǎn.
13
Trong những nhiệm vụ cụ thể mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đặt
ra, là phải xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những
đức tính “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu,
đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích
chung. Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và
cải thiện môi trường sinh thái. Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ
thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã
hội. Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mỹ và thể lực.”
hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng
lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu
lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều
hướng gia tăng.”
Nghị quyết đã xác định mục tiêu chung là “Xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh
thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát
triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.” Và một số những mục tiêu cụ thể được nhấn mạnh, đó
là “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi
trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo,
thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật;
đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người
với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước. Xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa trong hệ thống
chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây
15
dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người
Việt Nam hoàn thiện nhân cách.”
Trong một số nhiệm vụ cụ thể, nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) đã nêu rõ
cần phải xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ
quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo
dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn
hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo
Nghị định số 36/2001/NĐ-CP ngày 10/7/2001 của Chính phủ về trật tự, an
toàn giao thông đô thị;
b. Có từ 100% hộ gia đình trở lên được sử dụng nước sạch, vệ sinh
môi trường được đảm bảo;
c. Tôn tạo và bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
ở địa phương.
4. Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước:
a. Thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước;
b. Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt Nếp
sống văn minh đô thị và Quy chế dân chủ ở cơ sở;
c. Các tổ chức đoàn thể hoạt động có hiệu quả;
d. Trẻ em đang độ tuổi đi học đều được đến trường; đạt chuẩn phổ cập
giáo dục trung học cơ sở trở lên;
đ. Có phong trào đền ơn đáp nghĩa và hoạt động từ thiện có hiệu quả.
Ngày 16 tháng 09 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
1610/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020.
Trong đó nêu rõ mục tiêu cụ thể đến năm 2015 đối với vùng đồng bằng như sau:
- Thu hút 50% trở lên số người dân tham gia vào các hoạt động văn hóa, thể
thao ở cơ sở;
- 70% nhà văn hóa và khu thể thao xã; 70% nhà văn hóa và khu thể thao thôn
đạt quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- 70% gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu “Gia đình văn hóa”;
17
- 60% thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương được công nhận và giữ
vững danh hiệu “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”,
Có 5 tiêu chuẩn xây dựng khu phố văn hóa, trong đó có các tiêu chí đánh giá
cụ thể với tổng số điểm tối đa là 100 điểm, có quy định những trường hợp thưởng
điểm hay trừ điểm. Mỗi năm (từ tháng 10 đến tháng 11), căn cứ vào kết quả đạt
được, các khu phố có báo cáo theo đúng trình tự của các tiêu chuẩn, tự đánh giá,
cho điểm và đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn và danh hiệu văn hóa. Báo cáo phải
có xác nhận của Trưởng ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” phường, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường và Đảng ủy
phường. Khu phố đạt từ 95 đến 100 điểm, được đề nghị Ban chỉ đạo phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” quận kiểm tra xem xét, khi đạt tiêu
chuẩn có Quyết định ghi nhận hàng năm, đạt tiêu chuẩn 3 năm liên tục, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận ban hành Quyết định công nhận, công nhận lại. Năm tiêu chuẩn
xây dựng khu phố văn hóa cụ thể như sau:
Tiêu chuẩn 1: Đoàn kết xây dựng đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát
triển. (12 điểm)
Tiêu chuẩn 2: Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; chăm lo sự nghiệp giáo dục; chăm sóc sức
khỏe, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình. (24 điểm)
Tiêu chuẩn 3: Đoàn kết xây dựng môi trường cảnh quan sạch đẹp, xây dựng
văn minh đô thị. (14 điểm)
Tiêu chuẩn 4: Đoàn kết phát huy dân chủ, chấp hành tốt đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị
vững mạnh. (39 điểm)
Tiêu chuẩn 5: Đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng; phát huy
truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn , đáp nghĩa”, “Tương thân, tương
ái”. (11 điểm)
Quyết định cũng nêu rõ nếu khu phố để xảy ra một trong những vấn đề sau
sẽ không được xét công nhận Khu phố văn hóa: