Ảnh hưởng của tư tưởng tam tòng, tứ đức trong nho giáo với việc xây dựng đạo đức người phụ nữ bắc ninh hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------

BÙI THỊ KIM HOAN

ẢNH HƢỞNG CỦA TƢ TƢỞNG “ TAM TÒNG, TỨ ĐỨC”
TRONG NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
NGƢỜI PHỤ NỮ BẮC NINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------

BÙI THỊ KIM HOAN

ẢNH HƢỞNG CỦA TƢ TƢỞNG “ TAM TÒNG, TỨ ĐỨC”
TRONG NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
NGƢỜI PHỤ NỮ BẮC NINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt

Hà Nội – 2015



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện. Những kết quả từ những
tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ
thể. Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên
cứu.
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2015
Học viên

Bùi Thị Kim Hoan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 4
1. Tính cấp thiết của đề tài. ................................................................................. 4
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. ................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn............................................................... 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn. .......................................... 9
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn. ............................ 9
6. Đóng góp mới của luận văn............................................................................. 9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. .................................................... 9
8. Kết cấu của luận văn. ...................................................................................... 9
Chƣơng I. TƢ TƢỞNG “TAM TÒNG, TỨ ĐỨC” TRONG NHO GIÁO
TRUNG QUỐC VÀ Ở VIỆT NAM VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
NGƢỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY ..................................................... 10
1.1. Tƣ tƣởng " Tam tòng, tứ đức" trong Nho giáo ở Trung Quốc và sự tiếp
diễn qua các thời kỳ ........................................................................................... 10

3.2.1. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho phụ nữ Bắc Ninh.
Đấu tranh với những quan niệm đạo đức lạc hậu của tư tưởng " Tam tòng, tứ
đức", thực hiện bình đẳng giới .......................................................................... 80
3.2.2. Phát triển kinh tế, từng bước khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của
tư tưởng " Tam tòng, tứ đức" trong xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng
người phụ nữ mới. .............................................................................................. 83
3.2.3. Nâng cao vai trò của pháp luật, khắc phục những phong tục tập quán lạc
hậu do ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng " Tam tòng, tứ đức”.............................. 86
3.2.4. Nâng cao vai trò hội liên hiệp phụ nữ, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh trong việc phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của tư tưởng "
Tam tòng, tứ đức" mang lại. .............................................................................. 89
3.2.5. Phát huy tính tự giác tích cực xã hội của phụ nữ Bắc Ninh trong việc
học tập rèn luyện và xây dựng đạo đức mới. ..................................................... 92
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 97

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong lịch sử loài người từ trước tới nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ
phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội.
Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm
phong phú cuộc sống con người. Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn lịch sử mà quan
điểm nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ khác nhau. Trong xã hội phong kiến
người phụ nữ bị coi rẻ, cuộc sống về vật chất của họ thiếu thốn và lam lũ, về tinh
thần thì bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, chịu ảnh hưởng nhiều bởi những tư
tưởng như: “ Tam tòng, tứ đức”, “ trọng nam khinh nữ”, “ Nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô”…cũng chính những tư tưởng đó đã đẩy người phụ nữ xuống đáy

phụ nữ truyền thống và chịu ảnh hưởng nhiều bởi quan niệm đạo đức và lễ giáo
của Nho giáo, Phật giáo. Đất nước đổi mới, bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, Bắc Ninh lại là tỉnh phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Bắc Ninh hiện
nay trở thành một trong những tỉnh phát triển công nghiệp mạnh ở phía Bắc với
những khu công nghiệp nổi tiếng như: Khu công nghiệp Yên Phong, Khu công
nghiệp Quế Võ, Khu công nghiệp Tiên Sơn…. Điều này một mặt làm cho Bắc
Ninh phát triển nhanh chóng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ. Mặt
khác tác động đến đời sống văn hóa tinh thần người dân nói chung và đạo đức
người phụ nữ nói riêng. Giờ đây, các giá trị đạo đức truyền thống pha trộn với
các giá trị đạo đức mới mang lại cả tác động tích cực và tiêu cực. Hiện nay vấn
đề đặt ra là làm thế nào phát huy được các giá trị đạo đức truyền thống đồng thời
hội nhập với nền đạo đức mới – đạo đức xã hội chủ nghĩa để giá trị đạo đức
truyền thống của người Bắc Ninh nói chung và giá trị đạo đức người phụ nữ nói
riêng thực sự hòa nhập với cả nước nhưng không hòa tan và làm mất đi giá trị
riêng có của người phụ nữ xứ Kinh Bắc.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Ảnh hưởng của tư tưởng “ Tam
tòng, tứ đức” trong Nho giáo đối với việc xây dựng đạo đức người phụ nữ Bắc
Ninh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chúng ta chưa bao giờ so sánh phụ nữ với nam giới ai giỏi hơn ai, chỉ biết
rằng từ khi xã hội có giai cấp thì người phụ nữ luôn bị coi thường, thâm trí có
vùng người phụ nữ còn là đối tượng để mua bán và đem ra trao đổi như một món
hàng. Ở phương Đông, tiêu biểu là ở Trung Quốc một trong những nguyên nhân của
điều đó là do ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức” trong Nho giáo.

5


Ở Việt Nam, từ giữa thế kỷ XV về sau, khi Nho giáo làm chủ đạo trong
“Tam giáo đồng nguyên” thì tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức” ghi dấu ấn trong đời

6


và biến đổi của các chuẩn mực, giá trị văn hóa trong xã hội Việt Nam. Tác giả đã
chú ý đến những tập tục lạc hậu liên quan đến người phụ nữ - những người vốn
chịu nhiều thiệt thòi và bất công trong xã hội. Các bài viết, “Ảnh hưởng của Nho
giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống” của Trần Thị Hồng
Thúy; “ Từ đạo hiếu truyền thống nghĩ về đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị
Thọ, Tạp chí Triết học số 6 năm 2007; “ Một số suy nghĩ về đặc điểm của Nho
giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học số 5 năm
1998; “ Tìm hiểu tư tưởng đức trị trong Nho giáo” của tác giả Nguyễn Thế Kiệt,
tạp chí nghiên cứu lí luận, số 10 năm 1999 cũng đã bàn nhiều đến sự ảnh hưởng
của Nho giáo ở Việt Nam.
Ngoài ra còn một số luận văn, luận án nghiên cứu khá công phu về Nho
giáo và tư tưởng “tam tòng, tứ đức” như luận án tiến sĩ: “ Đạo đức Trung – Hiếu
của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt
Nam hiện nay” của Trần Thị Lan Hương, năm 2014 và Luận án “ Quan niệm
của Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó với việc giáo dục con
người ở Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Thị Nga,
năm 2014. Điều này cho thấy trong thời kỳ hiện nay, thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa việc nghiên cứu Nho giáo và dùng những yếu tố tích cực của Nho
giáo để giáo dục đạo đức ngày càng có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết. Luận văn
“ Học thuyết “Tam tòng, tứ đức” và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt
Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Vân, năm 2005. Trong
luận văn của mình tác giả đã phân tích nội dung học thuyết “ Tam tòng, tứ đức”
trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam từ phong kiến đến lúc
nước nhà độc lập năm 1945 và từ năm 1945 đến nay. Tác giả khẳng định: Nho
giáo có ảnh hưởng đến đời sống đạo đức của con người Việt Nam nói chung và
ảnh hưởng đến người phụ nữ Việt Nam nói riêng trên cả hai bình diện, tích cực
và tiêu cực. Bên cạnh những mặt tích cực tác giả đã khẳng định kết quả của quan

ở Trung Quốc và ở Việt Nam.
Thứ hai: Phân tích thực trạng, chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và ảnh
hưởng tiêu cực của tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức” đối với đạo đức người phụ nữ ở
tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những ảnh hưởng
tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng “Tam tòng, tứ đức”
trong việc xây dựng đạo đức người phụ nữ tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

8


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức” trong Nho giáo và
ảnh hưởng của nó đối với đạo đức người phụ nữ ở tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: Nho giáo là một học thuyết về chính trị, đạo đức, xã
hội có nội dung hết sức phong phú, bao quát trong nhiều lĩnh vực của đời sống
con người . Trong phạm vi đề tài, luận văn được giới hạn trong việc nghiên cứu
về tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức” trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với
việc xây dựng đạo đức người phụ nữ Bắc Ninh hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn.
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, xây dựng đạo đức, về xây dựng
đạo đức người phụ nữ. Các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến
lược xây dựng con người mới, xây dựng đao đức người phụ nữ Việt Nam trong
thời kỳ mới có nội dung liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: : Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải các
vấn đề đồng thời kết hợp các phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích – tổng hợp,
so sánh, thống kê, điều tra xã hội học, nghiên cứu văn bản…Nhằm đạt mục đích
mà luận văn đề ra.

nghề in, thuốc súng, thiên văn học… Cùng với người Ấn Độ và các dân tộc
phương Đông khác, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều trường phái Triết
học lớn, là chiếc nôi của nhiều nhà tư tưởng lớn. Có thể nói rằng, việc đánh giá
vai trò của các tư tưởng Triết học và tôn giáo của Trung Quốc vẫn là một vấn đề
được nhiều người quan tâm, bàn luận.
Vào thế kỷ XI ( Trước công nguyên) bộ lạc du mục Chu từ phái Tây Bắc
men theo sông Hoàng Hà tiến vào và tiêu diệt nhà Ân, lập nên nhà Chu. Giai
đoạn đầu nhà Chu, sử sách gọi là Tây Chu, sau là Xuân Thu. Thời kỳ này ở
Trung Quốc có sự biến đổi từ đồ đồng sang đồ sắt, những công cụ bằng sắt thời
kỳ Tây Chu khi bước sang Xuân Thu vẫn được coi trọng và được sử dụng rộng
rãi. Việc sử dụng rộng rãi công cụ bằng sắt khiến lao động trồng trọt trở nên
thuận lợi và dễ dàng hơn. Điều đó, đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thủ
công nghiệp và thương nghiệp. Sự phát triển về kinh tế tất yếu dẫn đến sự biến
đổi sâu sắc trong kết cấu giai tầng xã hội. Nhiều giai tầng mới xuất hiện, tồn tại
đan xen và mâu thuẫn giai cấp… Đó là tiền đề ra đời giai cấp địa chủ mới trong
xã hội. Chính điều này đã dẫn đến sự thay đổi hết sức mạnh mẽ về mặt chính trị
xã hội. Mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt, đó là mâu thuẫn giữa tầng
lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với người dân ( những người nông
nô, nô lệ và nông dân). Mâu thuẫn giữa thiên tử nhà Chu cùng chính sách vương

10


đạo của tầng lớp quý tộc nhà Chu với các nước chư hầu cùng chính sách bá đạo.
Do đó, từ thế kỷ VIII (Trước công nguyên), xã hội Nhà Chu bước vào một thời
kỳ có nhiều biến động lớn, toàn diện và kéo dài cho đến thế kỷ thứ III (Trước
công nguyên). Lịch sử gọi thời kỳ này là Đông Chu hay là thời kỳ Xuân Thu –
Chiến Quốc (Năm 770 TCN – 221 Trước Công nguyên).
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời Đông Chu lúc này giống như một
bức tranh vẽ cảnh đất trời trong cơn giông bão với nhiều màu sắc và chính nó là

các kinh, các sách đều viết về xã hội, về những kinh nghiệm trong việc xây dựng
và củng cố nhà nước Trung Hoa.
Sau khi Khổng Tử mất, Nho gia tiếp tục được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn
thiện và phát triển theo hai hướng khác nhau duy vật và duy tâm. Trong hai
hướng đó thì Nho gia Khổng – Mạnh có ảnh hưởng rộng lớn hơn đến lịch sử
Trung Hoa và một số nước Á Đông khác.
Trong học thuyết của Nho giáo người phụ nữ ít được bàn đến nhưng không
phải là không có. Các vấn đề đạo đức và phẩm chất của người phụ nữ được
Khổng Tử thể hiện trong tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức”.
1.1.1.2. Vị trí của tư tưởng" Tam tòng, tứ đức" trong Nho giáo.
Nho giáo là một học thuyết của xã hội phong kiến, nó giữ vai trò thống trị
trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc qua nhiều thế kỷ. Vì vậy những quan điểm,
đường lối, phương pháp, chuẩn mực mà Nho giáo đề ra phục vụ đắc lực cho
chính xã hội sinh ra nó. Nho giáo bàn nhiều đến vấn đề như quan niệm về thế
giới ( đạo. thiên lý, thiên mệnh…) học thuyết về luân lý đạo đức với những
nguyên lý căn bản như: Nhân, Lễ, Dũng, trong đó chữ “ Nhân” được đề cập đến
với ý nghĩa sâu rộng nhất, nó được coi là nguyên lý chủ yếu quyết định bản tính
con người, những quan hệ giữa con người với con người trong gia tộc và ngoài
xã hội. Bên cạnh đó Nho giáo còn bàn đến vấn đề chính trị - xã hội với quan
điểm “ Nhân trị”, “ Chính danh”, “ Thượng hiền”.
Vấn đề con người nói chung cũng được Nho giáo bàn đến. Theo Nho giáo
muốn xây dựng thành công và giữ vị trí thống trị của xã hội thì phải có người
điều hành, tổ chức xã hội đó. Điều này khiến cho vấn đề con người được xã hội
phong kiến Trung Quốc cũng như Nho giáo rất quan tâm. Con người là vấn đề
trung tâm của Nho giáo nhưng không được bàn đến trong tất cả các mặt của nó
mà chú trọng vào khía cạnh luân lý, đạo đức nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn
giai cấp và ổn định trật tự xã hội. Con người trong Nho giáo được bàn đến dưới
những góc độ như: Nguồn gốc con người, tính người, số phận con người, mẫu

12

suốt thời kỳ lịch sử lâu dài của nhà nước phong kiến Trung Quốc, quan điểm này
giữ địa vị thống trị trong một thời gian dài và nó được coi như là cơ sở để giáo
dục đạo đức cho mọi người trong xã hội, nhất là người phụ nữ.

13


Trong các chuẩn mực đạo đức của con người, Khổng Tử đưa ra chữ “
Hiếu” làm đầu trong mối quan hệ cha – con, con phải có hiếu với cha mẹ, cha đối
với con phải lấy “ Từ ái” làm trọng. Đạo hiếu của con đối với cha mẹ dù rất
nhiều mặt nhưng cốt lõi phải ở cái “tâm thành kính”. Một hôm Tử Du hỏi về đạo
“ Hiếu” Khổng Tử nói rằng, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ, nuôi thì
phải kính, chứ không kính thì không phải hiếu “ Đời nay hễ thấy ai nuôi được
cha mẹ thì người ta khen là có hiếu. Như loài thú vật chó, ngựa người ta cũng
nuôi được vậy. cho nên nuôi cha mẹ mà không kính trọng thì có khác gì nuôi thú
vật đâu” ( Kim chi hiếu giã; thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữa
dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ) ( Luận ngữ, vi chính, VII) [ 20]. Khi cha mẹ còn,
không bao giờ làm điều gì để cha mẹ buồn. Bởi vậy không nên đi đâu xa mà có
đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi, để cha mẹ khỏi lo và nhỡ có việc gì thì
có thể gọi được ( Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương) (Luận ngữ, lý
nhân, IV) [20]
Sách luận ngữ chép rằng, khi học trò hỏi đạo “Hiếu”, Khổng Tử đáp lại
rằng: “ Vô vi”. Phàn Trì không hiểu rõ nghĩa hai từ đó hỏi lại Thầy thì Khổng Tử
giải thích rằng, sống thì phải lấy lễ mà thờ, chết thì phải lấy lễ mà táng, lễ mà tế
(Sinh sự chi dĩ lễ, tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ) (Luận ngữ, vi chính, II) [20]
Có chỗ Khổng Tử lại nói rằng, lễ xa xỉ thì thà rằng kiệm ước còn hơn,
tang với nghi văn quá, thì thà rằng thương buồn còn hơn (Lễ dữ kỳ xa giã, ninh
kiệm: tang giữ kỳ dị dã, ninh thích) ( Luận ngữ, Bát dật, III) [20]
Theo Khổng Tử người phụ nữ phải theo lễ để ngăn cấm đại dục. Ông luôn
lấy tình cảm làm trọng nhưng theo ông tình cảm của con người thường không có

thuộc vào người chồng. Người con gái không có quyền quyết định hôn nhân,
hạnh phúc của mình. Về điều này, Mạnh Tử từng nói: “ Nếu chẳng đợi lệnh cha
mẹ, chẳng chờ lời mai mối, mà lén dùi lỗ tìm nhau, vượt tường để theo nhau thì
cha mẹ và người trong xứ đều khinh rẻ” ( Bất đài phụ mẫu chi mệnh, mối trước
chi ngôn, toàn huyệt khích tương khuy, du tường tương tùng, tắc phụ mẫu, quốc
dân giai tiện chí) [ 20, tr. 14]. Khi lấy chồng thì phải theo chồng, dù sướng hay
khổ thì vẫn phải chấp nhận, nếu chồng qua đời, phải theo con trai, phải ở vậy
suốt đời, phải “ tòng” con trai, không được xuất giá, không được đi bước nữa.
Danh Nho đời Tống Trình Y Xuyên đã nói “ Nhược thú thất tiết giả dĩ phối thân,
thị kỷ thất tiết dã [20, tr. 13 – 14] Người đàn ông đi cưới người thất tiết thì chính
mình cũng là người thất tiết cho nên với người phụ nữ góa bụa dù có khổ cực
nghèo đói, không có nơi nương tựa cũng không được tái giá, chết đói là chuyện

15


rất nhỏ nhưng thất tiết mới là chuyện lớn ( Nhiên ngạc tử sự cực tiểu, thất tiết sự
cực đại) [ 20, tr. 14]. Quy định “ Tam tòng” khiến người phụ nữ khi xuất giá lấy
chồng thì hoàn cảnh tốt hay xấu thế nào cũng trở thành người nhà chồng, chú
không nương nhờ ai được nữa. Như vậy, suốt đời người phụ nữ phải đeo đẳng
bên mình đạo lý “tam tòng” do vậy họ luôn phụ thuộc vào nam giới, bất kể người
đó là cha, là chồng hay là con trai của mình.
1.1.2.2. Tư tưởng tứ đức.
Tứ đức có nguồn gốc từ Chu lễ, Thiên quan trủng tể: Cửu tần trưởng phụ
học chi pháp, dĩ cửu giáo ngự: phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công.
Với người phụ nữ, Tứ đức bao gồm: Công – Dung – Ngôn – Hạnh.
Công là công việc, nghĩa là biết làm việc bao gồm cả tài năng khéo léo, trí
tuệ thông minh, được rèn luyện qua thử thách. Công nói lên tài năng khéo léo,
đảm đang của người phụ nữ trong việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, tổ
chức đời sống gia đình. Nói cách khác, người phụ nữ phải biết tề gia nội trợ,

nói năng lễ độ, đúng mực. Phải luôn tôn kính khi nói chuyện với người lớn tuổi,
người già, tuyệt đối lễ phép phục tùng chồng và cha mẹ chồng.
` Hạnh là hạnh kiểm, đức hạnh, là sự tuân theo lễ nghĩa và hiếu với cha mẹ
anh em , biết thương người, giúp đỡ người, không cay nghiệt, độc ác.
Hạnh thể hiện những phẩm chất đạo đức cơ bản cần có của người phụ nữ.
Trước hết là thương yêu chồng con hết mực, sự thủy chung với chồng, đức hi
sinh với con cái. Trong gia đình, với họ hàng cần biết kính trên, nhường dưới, ăn
ở tốt với họ hàng, đặc biết là họ hàng bên nhà chồng. Ra ngoài, người phụ nữ cần
giàu lòng nhân ái với mọi người người xung quanh, giao tiếp một cách chín chắn,
nhu mì, không hợm hĩnh, chua ngoa, đáo để.
Trong xã hội phong kiến xưa kia, người phụ nữ đức hạnh luôn chịu
thương chịu khó gánh vác công việc nhà chồng, chung thủy vô điều kiện và vĩnh
viễn với chồng. Điều cốt yếu của người phụ nữ là phải giữ gìn trinh tiết, phải
chung thủy với một người chồng duy nhất. Thậm chí khi chồng chết người phụ
nữ phải ở vậy để thờ chồng nuôi con, không được tái giá mà phải trọn đời thủ tiết
mới đáng được biểu dương ca ngợi.
Như vậy, cùng với “Tam tòng”, “ tứ đức” thì tiết hạnh cũng là một sợi dây
không kém phần oan nghiệt trói chặt người phụ nữ. người phụ nữ chỉ có trách
nhiệm, bổn phận hy sinh nhu cầu cá nhân để vâng lời và giữ gìn khuôn phép, giữ
đạo làm vợ, đạo làm con trong gia đình chồng và bất kỳ người con gái trước lúc
về nhà chồng luôn được giáo dục những nguyên tắc đó.

17


1.1.2.3. Mối quan hệ giữa “Tam tòng” và “ Tứ đức”.
“Tam tòng”, “Tứ đức” là những yêu cầu đạo đức cơ bản trở thành chuẩn
mực đạo đức để xây dựng mẫu người phụ nữ phong kiến Trung Quốc. Giữa
những phạm trù này có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
Điểm chung nhất của hai phạm trù này là cả hai đều là những quy tắc, lễ

Đến thời kỳ nhà Hán (140-87TCN), Đổng Trọng Thư đã nhìn thấy khả
năng to lớn của Nho giáo trong việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị nên đã
tìm cách tô vẽ cho Nho giáo theo chiều hướng có lợi cho giai cấp này. Từ đây,
Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và công cụ tinh thần bảo vệ chế độ
phong kiến Trung Hoa suốt 2000 năm lịch sử.
Trong hệ tư tưởng chính thống này, Nho giáo chỉ là hình thức bề ngoài,
còn nội dung bên trong của nó, giai cấp phong kiến vẫn cai trị theo đường lối
Pháp trị (Ngoại nho, nội pháp). Dưới danh nghĩa tiếp tục tư tưởng của Nho giáo
nhưng trên thực tế Đổng Trọng Thư đã tiếp thu, khuyếch trương những yếu tố
duy tâm thần bí trong học thuyết của Không – Mạnh. Học thuyết này được coi là
hệ tư tưởng chính thống, là khuôn mẫu đạo đức xã hội cho các triều đại phong
kiến Trung Quốc.
Tư tưởng chính trị và triết học của ông thể hiện mục đích phục vụ vương
quyền của chế độ chuyên chế phong kiến. Đổng Trọng Thư cho rằng, giữa người
với người có ba mối quan hệ cơ bản: Vua – Tôi, Cha – Con, Vợ - Chồng . Ông đề
cập đến phạm trù “Tam tòng”, “Tứ đức” nhưng đã tước đi những yếu tố nhân
văn, nhân ái, tiến bộ của Khổng Tử, thay vào đó là quan niệm nghiệt ngã – một
quy tắc đạo đức phi nhân bản: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, “Phụ xử
tử vong, tử bất vong bất hiếu”. (Vua bảo tôi chết, bề tôi phải chết nếu không mắc
tội bất trung, cha bảo con chết, con phải chết nếu không mắc tội bất hiếu).
Ngoài ra, đối với người phụ nữa còn tư tưởng: “phu xướng phụ tùy”. Đặc
biệt thời kỳ này còn mở rộng trách nhiệm của phụ nữ đối với đàn ông nói chung
qua tư tưởng Tam Tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Khi
người chồng nói, người vợ tuyệt đối phải nghe theo dù sai hay đúng. Người phụ
nữ trong gia đình không có tiếng nói, không có quyền tham gia phản kháng, phải
phục tùng một cách tuyệt đối với cha và chồng.
Vào thời Tống (960-1279), xuất hiện những nhà nho lỗi lạc như Chu Đôn
Di (1017-1073), Trình Di (1023-1085), Trình Hạo, Chu Hy. Học thuyết của
Khổng Tử đã được hồi sức bởi sự bổ sung những quan niệm triết học của thuyết
Âm Dương Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về

điểm sau:
Một là, Nho giáo vào nước ta thông qua con đường xâm lược nên ít nhiều
mang tính cưỡng bức. Do vậy để Nho giáo thâm nhập được vào đời sống nhân là
một quá trình khó khăn và lâu dài.
Hai là, ở thời kỳ Bắc thuộc, sự ảnh hưởng của Nho giáo mới chỉ dừng lại ở
tầng lớp trên còn nhân dân ta vẫn sống theo những phong tục và lối sống từ trước

20


đó. Tuy nhiên, về sau này Nho giáo từ chỗ bị phản đối, không được nhân dân ta
tiếp nhận đã dần dần chiếm được ưu thế, giữ được vị trí ngày càng cao trong việc
giúp các triều đại phong kiến xây dựng và củng cố quyền lực. Nếu như ở thời Lý
– Trần, Phật giáo chiếm ưu thế và là hệ tư tưởng chính thống, chi phối toàn bộ
đời sống văn hóa tư tưởng ở nước ta thì đến nửa cuối thế kỷ XV ở Việt Nam,
Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng độc tôn bởi vai trò to lớn của nó.
Ba là, Nho giáo vào Việt Nam không còn được giữ nguyên bản mà đã được
Việt hóa. Người Việt vừa tiếp nhận Nho giáo vừa có sự tiếp biến cho phù hợp với
yêu cầu của đời sống thực tiễn vì thế không phải không có lý khi người Việt gọi
nó là Nho Việt. Bản thân Nho giáo vốn đề cao mối quan hệ vua – tôi và đặt nó ở
vị trí cao nhất trong năm mối quan hệ trong xã hội nhưng các nhà nho Việt Nam
thì không đến nỗi khắt khe, nghiêm ngặt và cực đoan. Chữ “ Trung” được hiểu là
phẩm cách của người trung thành không thờ hai vua. Chữ “Hiếu” cũng được
người Việt đề cao nhưng chưa đến mức ngu hiếu. Trong khi Nho giáo ở Trung
Hoa, trong ngũ thường, nhân nghĩa được đặt lên vị trí hàng đầu, nội dung của nó
là tình cảm và nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, con đối với cha,
của Vợ đối với chồng (của bề dưới đối với bề trên) thì đối với các nhà nho Việt
Nam nhân nghĩa là vì dân.
Sau khi Việt Nam giành được chính quyền và bắt tay vào xây dựng đất
nước, Nho giáo từng bước trở thành một công cụ đắc lực để giai cấp phong kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status