ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THUẬN VŨ
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ DUY KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết Học
Mã số : 62.22.80 LUẬN VĂN TH.S TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
PGS.TS.Vũ Văn Viên
1.2.2. Vai trò của tư duy kinh nghiệm 36
THỰC TRẠNG ẢNH HƢỞNG CỦA TƢ DUY KINH
NGHIỆM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƢỚC TA
HIỆN NAY VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC TƢ DUY CỦA NGƢỜI VIỆT NAM 44
2.1. Thực trạng ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 44 2
2.1.1. Một số ảnh hưởng tích cực 44
2.1.2.Một số ảnh hưởng tiêu cực 54
2.2. Một số giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm, nâng cao năng lực tư
duy của người Việt Nam 83
2.2.2. Kết hợp giữa nâng cao năng lực phương pháp luận biện chứng duy vật với nâng cao năng lực tư
duy lôgíc 85
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
những thách thức lớn của xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, so với
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, chúng ta còn nhiều bất cập ở nhiều lĩnh vực,
trước hết là trên lĩnh vực nhận thức. Đánh giá tổng kết hai mươi năm thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, nhiều nghiên cứu đã nhận định: tư duy của ta còn
chậm đổi mới, chưa theo kịp với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Về trình độ, năng lực tư duy còn có sự bất cập giữa yêu cầu của đổi
mới và khả năng đáp ứng. Trên thực tế, tư duy kinh nghiệm đang chi phối mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Một mặt, nó cũng có những tác động tích cực 4
nhất định đối với đời sống, sản xuất xã hội của nhân dân ta. Song mặt khác, tư
duy kinh nghiệm ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến cách nghĩ, cách làm, là
nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế,
giáo dục, pháp luật… của chúng ta trong thời gian qua. Đồng thời, ảnh hưởng
của tư duy kinh nghiệm cũng dẫn đến những yếu kém về tư duy kinh tế, ý thức
chấp hành kỷ cương, pháp luật và hạn chế về năng lực tư duy khoa học của
người Việt Nam. Những tác động tiêu cực của tư duy kinh nghiệm đã trở thành
lực cản đối với quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển, chấn hưng đất
nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu tư duy kinh nghiệm, đánh giá tác động của nó đối với
công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay làm cơ sở để tìm ra những giải pháp phát
huy vai trò tích cực, đồng thời khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tư duy kinh
nghiệm, nâng tầm tư duy người Việt Nam lên trình độ lý luận khoa học, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, là một vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn.
Vì những lý do nói trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Ảnh hưởng của tư duy kinh
nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
luận văn.
và hiện nay, những nguyên nhân của tình trạng lạc hậu về tư duy lý luận, do đó
làm rõ tính tất yếu khách quan của đổi mới tư duy và đưa ra những giải pháp
nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu về tư duy lý luận ở nước ta hiện nay.
Về vấn đề bản chất của tư duy, các loại hình tư duy và phương pháp tư duy
cũng đã được các nhà nghiên cứu khai thác nhằm làm cơ sở để phát triển năng
lực tư duy của người Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc đổi
mới tư duy ở nước ta hiện nay. Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này như:
Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc
gia, 1998 của Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải; Về phương pháp nhận thức
khoa học, Nxb Chính trị quốc gia – Ngô Đình Xây; Phương pháp nghiên cứu
khoa học, Nxb Khoa học và kỹ thuật, 1996- Vũ Cao Đàm; Lôgíc phi cổ điển- 6
chuẩn mực lôgíc hiện đại và tiên tiến nhất của tư duy, T/c Triết học, số 4/1990;
Về mối quan hệ giữa lôgíc học biện chứng và lôgíc học hình thức, T/c Triết
học số 4/ 1997- Tô Duy Hợp; Lôgíc hình thức và tư duy chính xác, T/c Triết
học số 4/1991; Về thực chất của tư duy khoa học hiện đại, T/c Triết học số
3/1992 và Tư duy lôgíc- bộ phận hợp thành của tư duy khoa học, T/c Triết học
số 12/1996 của Vũ Văn Viên Các nghiên cứu đã đưa ra và giải đáp các vấn
đề : bản chất của tư duy là gì, các hình thức và các quy luật của tư duy đang
nhận thức, tư duy thông thường và tư duy khoa học; các loại hình tư duy và tư
duy khoa học, đặc điểm của các loại hình tư duy, cơ sở khách quan của mỗi
phương pháp tư duy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Nhóm vấn đề về kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm, nhận thức kinh nghiệm,
mối liên hệ giữa kinh nghiệm và lý luận, tư duy kinh nghiệm và tư duy lý
luận , có các công trình của các tác giả: Hoàng Chí Bảo- Từ tư duy kinh
nghiệm đến tư duy lý luận, T/c Thông tin lý luận số 6/1988 đã nêu lên một số
đặc trưng cơ bản của tư duy kinh nghiệm và hạn chế của nó trong đời sống
năng lực tư duy của cán bộ trong quá trình đổi mới tư duy.
Về nhóm vấn đề truyền thống, giá trị truyền thống, tư duy truyền thống có một
số công trình sau: Giá trị truyền thống trước những thách thức của thời đại,
Nxb Chính trị quốc gia, 2002- Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên
chủ biên; Về giá trị truyền thống Việt Nam, Nxb Thông tin lý luận, 1993-
Nhiều tác giả; Tư duy truyền thống với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá, T/c Triết học số 8/2001 – Vũ Văn Viên Các nghiên cứu này đã thể hiện
nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề truyền thống, bản sắc văn hoá, kết hợp giữa
truyền thống và hiện đại trong giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, đặc biệt là về
đặc trưng tư duy Việt Nam truyền thống, những giá trị và hạn chế của nó trong
thời đại khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế hiện nay.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
Vấn đề tư duy, kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm đã được nghiên cứu trong
suốt lịch sử phát triển tư tưởng. Từ Aristốt, Bêcơn, Hium, Lôccơ, Cantơ,
Avênariut cho đến triết học Mác đều đã đề cập và tìm cách luận giải về bản
chất tư duy, tư duy kinh nghiệm, quan hệ giữa kinh nghiệm và lý luận từ những 8
lập trường khác nhau. Triết học tư sản hiện đại với đại biểu của các trào lưu
triết học như: triết học hiện tượng (Huséc), triết học thực dụng (J.Dewey), triết
học hiện sinh (J.P. Sartre), triết học thực chứng (Popper) nghiên cứu về kinh
nghiệm như là hoạt động có tính bản năng tự nhiên hoặc là trải nghiệm của cá
nhân chứ chưa khái quát những biểu hiện về mặt xã hội của nó cũng như quá
trình hình thành kinh nghiệm trong sự tác động của con người với hiện thực.
Các nhà triết học mác xít ( đại diện là các nhà triết học Liên xô) đã nghiên cứu
kinh nghiệm một cách hệ thống hơn với tư cách là một hình thức, một cấp độ,
một phương pháp trong quá trình tư duy và nhận thức khoa học trong mối liên
hệ với lý luận như là cái riêng và cái chung, cái hiện tượng và cái bản chất
quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của tư duy kinh
nghiệm, phát triển năng lực tư duy nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là
những nguyên lý của nhận thức luận mác xit.
Luận văn dựa trên cơ sở các quan điểm lý luận của Đảng thể hiện trong các
Văn kiện đại hội Đảng, cương lĩnh xây dựng đất nước, các Nghị quyết Trung
ương, đồng thời luận văn còn tham khảo các quan điểm trong các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học về các vấn đề có liên quan.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp đi từ trìu tượng đến cụ thể. 10
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ những đặc điểm của tư duy kinh nghiệm, ảnh hưởng tích cực và tiêu
cực của nó đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những mặt hạn chế của tư duy kinh
nghiệm để nâng cao năng lực tư duy của người Việt Nam đáp ứng các yêu cầu
của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ nét hơn về bản chất của tư
duy kinh nghiệm trong lý luận nhận thức mác xít. Qua đó, luận văn góp phần
nhận diện những đặc điểm của tư duy kinh nghiệm, vị trí, vai trò cũng như
thuộc tính, mối liên hệ và quan hệ cơ bản của thực tế khách quan, trong quá
trình nhận thức nó thực hiện sự chuyển đổi nhận thức từ “hiện tượng đến bản
chất”,… Tư duy là sự phản ánh hiện thực một cách gián tiếp hoá, qua nhiều
khâu trung gian, … Tư duy là hoạt động tích cực nhào nặn các tài liệu kinh
nghiệm cảm tính [73, tr.514].
A.G.Spirkin quan niệm: “Tư duy là hình thái cao của sự phản ánh thực tế
khách quan một cách tích cực, đó là sự nhận thức gián tiếp hoá, khái quát hoá
và có mục đích do chủ thể đặt ra nhằm nắm được những mối liên hệ, quan hệ
cơ bản của các sự vật và hiện tượng, tạo ra các ý niệm mới và đi sâu vào bản 12
chất của các sự kiện và quá trình. Tư duy xuất hiện và thực hiện trong quá trình
người ta đặt ra và giải quyết các vấn đề thực tiễn và lý luận” [76, tr.391].
Trong mục từ “tư duy”, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ- va, năm
1975, tr.634 viết: “ Tư duy- sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức
một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan
trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.v…” [60, tr.634].
Tương tự như vậy, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ-va, năm 1984,
tr.422 viết: “ Tư duy là quá trình tích cực qua đó thế giới khách quan được
phản ánh trong các khái niệm, phán đoán, lý thuyết,.v.v…, và nó gắn với việc
giải quyết các vấn đề; là sản phẩm cao nhất của dạng vật chất được tổ chức
một cách đặc biệt, đó là bộ não” [75, tr.422].
Từ điển Bách khoa Xô viết, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ-va năm 1986, tr.851 viết: “
Tư duy là trình độ cao của nhận thức mà con người có được, của quá trình
phản ánh hiện thực khách quan. Nó tạo ra tri thức về các khách thể, các thuộc
tính và quan hệ của thế giới thực tại mà trình độ nhận thức cảm tính trực tiếp
không thể nắm bắt được” [74, tr.851].
N.I.Kandakop khẳng định: “ Tư duy là trình độ cao trong sự phát triển của hoạt
nhận thức của con người. Đặc điểm của năng lực phản ánh ở trình độ tư duy là
phản ánh gián tiếp, trìu tượng hoá, khái quát hoá và mang tính tích cực của chủ
thể nhận thức.
Nội hàm của hai khái niệm “tư duy” và “nhận thức” có sự thống nhất và khác
biệt. Nhận thức là một quá trình bắt đầu từ thực tại khách quan đến giai đoạn tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Quá trình nhận thức bao
gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tư duy chính là
giai đoạn cao của nhận thức- nhận thức lý tính, nhận thức bằng khái niệm.
Trong giai đoạn này, diễn ra các thao tác trừu tượng hoá, khái quát hoá, đồng
thời thông qua các thao tác đó, tri thức của con người được liên kết lại nhằm
mục đích nắm bắt những dấu hiệu, thuộc tính bản chất của đối tượng. 14
Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiếp thu có lựa chọn những
điểm hợp lý ở những định nghĩa đã nêu và dựa trên nguyên tắc lôgíc của việc
định nghĩa một khái niệm, chúng tôi đưa ra khái niệm sau về tư duy để làm
công cụ cho giải quyết những vấn đề tiếp theo của luận văn:
Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp, mang tính trừu
tượng hoá, khái quát hoá và sáng tạo của chủ thể nhận thức, nhằm mục đích
nhận thức những mối liên hệ bản chất của hiện thực khách quan.
Xét theo trình độ phát triển, có thể phân tư duy thành: tư duy kinh nghiệm và
tư duy lý luận.
1.1.2. Bản chất của tư duy kinh nghiệm
Tư duy kinh nghiệm là một khái niệm có quan hệ chặt chẽ với khái niệm kinh
nghiệm. Vì vậy, để hiểu rõ bản chất của tư duy kinh nghiệm, chúng ta cần nắm
rõ bản chất của kinh nghiệm, tri thức kinh nghiệm. Đây là vấn đề quan trọng
của nhận thức luận và đã dành được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà
triết học trong lịch sử.
thế giới bên ngoài.
J.P.Sactre - đại biểu của triết học hiện sinh đã coi kinh nghiệm là thế giới nội
tâm của những cảm xúc, là một dạng hoạt động mang tính bản ngã tự nhiên của
mỗi “cá sinh”, là sự thể nghiệm trực tiếp của chủ thể.
Triết học thực dụng với đại biểu là J.Dewey đồng nhất kinh nghiệm với kinh
nghiệm sống của cá nhân, là dạng thích ứng theo bản năng một cách có lợi nhất
cho hoạt động sống của mỗi cá nhân.
Triết học thực chứng mới coi kinh nghiệm là những cảm giác, cảm xúc cá nhân
của con người không mang nội dung khách quan.
Các quan điểm về kinh nghiệm của triết học tư sản hiện đại hoặc mới chỉ ra
một số đặc tính của kinh nghiệm, hoặc coi kinh nghiệm là nguồn gốc của tri
thức nhưng giải thích bản chất kinh nghiệm một cách duy tâm là hoạt động bản 16
năng tự nhiên, là tri thức chủ quan của chủ thể nhận thức mà chưa lột tả được
bản chất của kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức của con người.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã vạch ra nguồn gốc, bản chất, vai trò và ý
nghĩa của kinh nghiệm trong quá trình nhận thức thế giới khách quan của con
người. Khẳng định nguồn gốc khách quan cũng như vai trò, hạn chế của kinh
nghiệm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã viết: “Nếu như người ta thu được mọi tri thức và cảm giác,
v.v., của mình từ thế giới cảm tính và từ kinh nghiệm trong thế giới cảm tính
thì do đó cần phải tổ chức thế giới xung quanh sao cho người ta nhận thức và
lĩnh hội được ở đó cái gì thực sự hợp với tính người,…” [5, tr.199].
Làm rõ hơn tư tưởng này về bản chất của kinh nghiệm, Ph.Ăngghen khẳng
định: “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm, tự nó không bao giờ có thể chứng
minh đầy đủ tính tất yếu” [6, tr.718]. Chỉ ra hạn chế của kinh nghiệm, nhưng
Ph.Ăngghen cũng khẳng định vai trò của nó trong quá trình phát triển nhận
Trong quá trình đó, con người trực tiếp thu nhận, tích luỹ và từ đó hình thành
những thông tin nhất định về khách thể. Những thông tin này mới chỉ phản ánh
được một số thuộc tính đơn giản của đối tượng. Trong quá trình hoạt động thực
tiễn của con người, cùng với những kỹ năng hoạt động, những thông tin này
được lặp đi, lặp lại và củng cố, tập hợp thành những tri thức mang tính trực
tiếp, đó là kinh nghiệm. Như vậy, xét về mặt hình thức thì kinh nghiệm là một
dạng của ý thức, tư duy, nó thuộc về cái chủ quan, là tính thứ hai, về mặt nội
dung, kinh nghiệm mang nội dung khách quan, là sự phản ánh thế giới khách
quan. Vì thế kinh nghiệm không phải là cái thụ động mà với tư cách là một
hình thức của ý thức, tư duy, kinh nghiệm là sự phản ánh tích cực của con
người về thế giới khách quan trong hoạt động thực tiễn của mình.
Kinh nghiệm là một trình độ phản ánh hiện thực khách quan của con người.
Những tri thức kinh nghiệm là những tri thức chân thực về thế giới khách
quan, nó bao gồm cả những thuộc tính mang tính bản chất cũng như những
mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong những phạm vi nhất định của
hoạt động thực tiễn. 18
Kinh nghiệm không phải là những tài liệu cảm tính như cảm giác, tri giác…
mà là kết quả của tư duy trìu tượng - của giai đoạn nhận thức lý tính, Vì vậy,
tri thức kinh nghiệm có nội dung sâu xa hơn rất nhiều so với những tri thức
cảm tính. Chẳng hạn, hiện tượng chân trời có màu vàng rực báo hiệu cho
những người đi biển biết chuẩn bị có bão. Để hình thành kinh nghiệm về hiện
tượng chuẩn bị có bão, đã có sự tham gia của lý tính, của tư duy trừu tượng có
sự giúp đỡ của phép qui nạp, từ đó suy ra cứ có hiện tượng chân trời màu vàng
rực là sắp có bão. Như vậy, dựa vào một hiện tượng tự nhiên này, do tính lặp đi
lặp lại của nó, người ta hình thành một tri thức mang tính tất yếu về một hiện
tượng tự nhiên khác. Ở một mức độ nào đó, hiện tượng này đã mang tính qui
Những tri thức kinh nghiệm mang đậm dấu ấn trực tiếp, trực giác và mảnh
đoạn; mà chưa mang tính hệ thống và phổ quát về quy luật của sự vật, hiện
tượng như tri thức lý luận khoa học. Đằng sau những sự kiện, thuộc tính mà
kinh nghiệm phản ánh, còn ẩn dấu những quan hệ phức tạp hơn, sâu xa hơn mà
con người không thể tiếp cận một cách trực tiếp được - đó là mảnh đất của lý
luận khoa học.
Tuy nhiên, kinh nghiệm là điểm xuất phát, tiền đề quan trọng không thể thiếu
trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn. Kinh nghiệm trước hết là
nguồn tư liệu cần thiết để cho quá trình nhận thức tiếp tục đạt tới trình độ cao
hơn - trình độ lý luận. Kinh nghiệm càng phong phú, thì càng tạo ra nhiều dữ
kiện cho việc khái quát lý luận. Trong quá trình nhận thức, kinh nghiệm đóng
vai trò làm chiếc cầu chuyển tải những thông tin, tri thức từ thế giới đối tượng
vào tư duy, được tư duy hệ thống hoá tạo nên những tri thức lý luận và ngược
lại nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra tính đúng đắn của các
giả thuyết khoa học lý luận trong thực tiễn. Có thể nói rằng, tri thức kinh
nghiệm cung cấp chất liệu, là cơ sở để hình thành lý luận khoa học. Trong lịch
sử, lý luận khoa học là kết quả của sự tổng kết, khái quát một cách sáng tạo
những kinh nghiệm hiện có. Mặc dù lý luận không phải bao giờ cũng hình
thành trực tiếp từ kinh nghiệm và bản thân lý luận cũng có tính vượt trước hiện
thực, song suy đến cùng thì không có lý luận thuần tuý cũng như không có 20
kinh nghiệm thuần tuý. Không có kinh nghiệm nói chung, lý luận sẽ chỉ là một
sự tưởng tưởng hoang đường hoặc là một sản phẩm thuần tuý của ý thích chủ
quan mà thôi. Thiếu kinh nghiệm, lý luận khoa học thiếu đi những chất liệu,
những tiền đề để sáng tạo. Lịch sử phát triển của các khoa học đã chứng minh
rằng, lý luận khoa học đã và luôn gắn liền với kinh nghiệm, lý luận khoa học
được hình thành nhờ phát triển từ kinh nghiệm và khắc phục những hạn chế
đích nhận thức và cải tạo thế giới. Mặt khác, tư duy kinh nghiệm là tư duy ở
trình độ thấp nên nội hàm của nó xuất phát từ nội hàm của khái niệm kinh
nghiệm. Những tri thức mà tư duy kinh nghiệm sử dụng mới chỉ là những trải
nghiệm mang tính trực tiếp của chủ thể. Kết quả của tư duy kinh nghiệm là
những khái niệm kinh nghiệm, những tri thức mang tính xác suất, vì chúng
được hình thành thông qua con đường qui nạp. Do đó, về mặt trình độ, tư duy
kinh nghiệm là giai đoạn đầu của nhận thức lý tính của con người. Sự phân biệt
giữa tư duy kinh nghiệm và nhận thức kinh nghiệm là ở chỗ nhận thức kinh
nghiệm “là quá trình nhận thức dựa vào những tập hợp tri thức nhất định đã
được con người thu nhận, tích luỹ bằng quan sát trực quan, bằng thực nghiệm
và bằng các hoạt động có tính trực tiếp khác trong quá trình tác động giữa con
người với thế giới hiện thực” [57, tr.28]. Như vậy, nhận thức kinh nghiệm bao
gồm cả giai đoạn kinh nghiệm cảm tính và kinh nghiệm lý tính, còn tư duy
kinh nghiệm chỉ bắt đầu từ giai đoạn kinh nghiệm lý tính. Từ sự tương đồng
giữa kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm, nhận thức kinh nghiệm và sự khác nhau
giữa chúng, trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý trong định nghĩa về tư
duy, về kinh nghiệm, về nhận thức kinh nghiệm, chúng tôi đưa ra quan niệm
riêng của mình về tư duy kinh nghiệm như sau:
Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn thấp của nhận thức lý tính, trong đó
người ta rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu thông
qua con đường khái quát hoá kinh nghiệm- qui nạp.
Quan niệm trên đây, một mặt, chỉ ra bản chất của tư duy kinh nghiệm là một
quá trình nhận thức lý tính của con người nhằm nắm bắt và phản ánh những
quy luật, những mối quan hệ bản chất của thế giới khách quan. Mặt khác, nó 22
khu biệt đặc trưng về trình độ phản ánh của tư duy kinh nghiệm và chỉ ra
phương thức hình thành nó trong giai đoạn nhận thức lý tính của con người.
kinh nghiệm rút ra được là những tri thức chưa đầy đủ, hay nói khác đi là thiên
về phản ánh mặt hiện tượng, nặng về mô tả các sự kiện. Ở trình độ cao, tư duy
lý luận là sự phản ánh trừu tượng hoá và khái quát hoá rất cao với việc sử dụng
cả những khách thể lý tưởng, nó sẽ phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. Về điểm này V.I.Lênin đã nói: “Tư
duy, khi tiến lên từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, không xa- nếu nó đúng- rời
chân lý mà đến gần chân lý… Tất cả những sự trừu tượng khoa học (đúng đắn,
nghiêm túc, không tuỳ tiện) phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn, chính xác hơn,
đầy đủ hơn” [30, tr.179]. Về hình thức phản ánh, tư duy lý luận khoa học, phản
ánh chính xác những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng thông qua hệ thống
những khái niệm, phạm trù, quy luật lý thuyết. Trong khi đó, tư duy kinh
nghiệm thường phản ánh những mối liên hệ đó nhờ những khái niệm kinh
nghiệm được diễn đạt thông qua ngôn ngữ tự nhiên. Mặt khác, giữa những khái
niệm, phạm trù trong tư duy lý luận có mối quan hệ lôgíc rất chặt chẽ với nhau
mà những khái niệm kinh nghiệm không thể có được. Như vậy, dù xuất phát từ
những tri thức chân thực thì tư duy kinh nghiệm cũng không vượt ra khỏi hiện
tượng, ít chính xác hơn, phạm vi phản ánh hẹp hơn, còn những khái quát của tư
duy lý luận thường chính xác hơn, mang tính qui luật và phổ quát, chỉ ra bản
chất của sự vật hiện tượng. Hai hình thức tư duy này khác nhau cả về trình độ
và cách thức phản ánh.
Tư duy kinh nghiệm thường phản ánh những thuộc tính, tính chất của các đối
tượng có tác động trực tiếp tới chủ thể và nhằm mục đích cải biến khách thể
hiện thực. Vì vậy đối tượng của tư duy kinh nghiệm thường là những thuộc
tính, tính chất được biểu hiện một cách trực tiếp của khách thể hiện thực.
Trong khi đó, tư duy lý luận mang tính khái quát và trừu tượng cao, vì vậy đối
tượng của nó là những khách thể trừu tượng phản ánh những thuộc tính, những
quan hệ ẩn giấu của đối tượng hiện thực. Sự khác nhau về mặt đối tượng được
xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận
trong nhận thức khoa học. Đồng thời, việc hình thành những khách thể trừu
hiện trong khái niệm trừu tượng cho phép tư duy hiểu biết một cách đúng đắn
hơn, sâu sắc hơn về các hiện tượng. Chính vì vậy, tri thức lý luận sẽ có sức