Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
CẤU TRÚC VỐN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VỐN
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập doanh nghiệp và
tiến hành hoạt động kinh doanh. Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn được đầu tư vào
quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận, tăng thêm giá trị của
doanh nghiệp. Nhưng vấn đề chủ yếu là các doanh nghiệp, các công ty phải làm
như thế nào để tăng thêm giá trị cho vốn. Như vậy, các quyết định về vốn suy cho
cùng cũng là vì mục tiêu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, do dó các quyết
định về vốn phải kỹ lưỡng và đầy cân nhắc. Sau khi lựa chọn các loại vốn của
công ty, thách thức đối với các nhà quản trị là phải quyết định cấu trúc vốn tối ưu.
Bởi lẽ, một doanh nghiệp có nhiều vốn chưa hẳn đã là doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả và ngược lại. Điều đó còn phụ thuộc rất nhiều vào quyết định nguồn tài
trợ và phân bổ nguồn vốn của doanh nghiệp.
Lựa chon cơ cấu vốn tối ưu cũng là hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện
nay, khi mà đất nước đang trong giai đoạn chịu sự biến động rất lớn của nền kinh
tế thị trường, nên rất cần vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ để tồn
tại, thắng trong cạnh tranh mà còn đạt được sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu. Một
thực trạng nữa hiện nay ở các doanh nghiệp, nhìn chung vốn được cấp nhỏ bé so
với nhu cầu, tình trạng thiếu vốn diễn ra liên miên.. gây căng thẳng trong quá trình
kinh doanh và thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Công cụ mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp không thể không quan
tâm khi quyết định cơ cấu vốn của công ty đó là các loại “ đòn bẩy” .Trong lĩnh
vực tài chính, thuật ngữ “ đòn bẩy” được sử dụng thường xuyên. Cả nhà đầu tư lẫn
doanh nghiệp đều sử dụng đòn bẩy nợ để tạo ra tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoạt
động lớn hơn. Doanh nghiệp thường hay sử dụng 2 loại đòn bẩy: đòn bẩy hoạt
động và đòn bẩy tài chính. Sử dụng “đòn bẩy” đúng cách sẽ làm tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp đáng kể. Còn ngược lại, doanh sẽ phải gánh chịu những rủi ro
nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết đồng thời phải trả tiền
lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang một ý nghĩa rất quan trọng
đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
* Vay ngắn hạn:
Thời gian đáo hạn ngắn hơn một năm
Lãi suất của nguồn vốn vay ngắn hạn thường thấp hơn tín dụng dài hạn
Thuờng được dùng để bổ sung vốn lưu động
* Vay dài hạn:
Thời gian đáo hạn dài hơn một năm
Lãi suất vay dài hạn thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn
Thường được dùng để bổ sung cho vốn xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản
cố định.
Nguồn vốn vay có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, ngân hàng hay
việc phát hành trái phiếu.
Nhóm 2
Trang 2
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
b. Nguồn vốn chủ sở hữu :
Nói đến nguồn vốn chủ sở hữu là nói đến nguồn vốn đầu tiên mà doanh
nghiệp huy động được. Bởi vì, đối với một doanh nghiệp trước khi đi vào họat
động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ (vốn góp nếu
doanh nghiệp cổ phần,hoặc là vốn ngân sách nhà nước cấp nếu là doanh nghiệp
nhà nước)
Tổng tài sản
Nhóm 2
Trang 3
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Tổng tài sản bao gồm: Tài sản lưu động và tài sản cố định hay là tổng giá trị
tòan bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phần bên
trái của bảng cân đối kế tóan.
Tỷ số này cho thấy gánh nặng nợ của doanh nghiệp:
Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản
Qua tỷ số này có thể thấy được khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp đối với
các tài sản khác của mình(khả năng tự chủ về tài chính. Trên cơ sở xem xét mức
độ của các tỷ số này nhà quản trị có phương án để tăng hay giảm các tỷ số trên cho
phù hợp với tình hình họat động và vị thế tài chính của doanh nghiệp.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trong các doanh nghiệp:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Các doanh nghiệp với thuế suất cao hơn sẽ sử
dụng nhiều nợ để đạt lợi ích từ thuế. Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng thuế
thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng rất quan trọng trong cấu trúc vốn.
- Chi phí phá sản:
- Cơ hội tăng trưởng: Sự bất cân xứng về thông tin yêu cầu một khoản tiền
thưởng bổ sung đối với các doanh nghiệp để tăng các nguồn vốn bên ngoài bất
chấp chất lượng dự án đầu tư của doanh nghiệp. Trong trường hợp tăng nợ, khoản
tiền thưởng bổ sung phản ánh ở một tỷ suất lợi nhuận yêu cầu cao hơn. Các doanh
mối quan hệ thuận chiều với cấu trúc nợ.
- Ngành kinh doanh: Do rủi ro tài sản, dạng tài sản và yêu cầu các nguồn
vốn bên ngoài thay đổi giữa các ngành nên tỷ suất nợ kỳ vọng thay đổi giữa các
ngành kinh tế. Các doanh nghiệp thuộc cùng một ngành thường có những đặc tính
như nhau so với các doanh nghiệp thuộc các nghành khác. Vì vậy, các ngành
thường có xu hướng duy trì cấu trúc nợ tương đối qua thời gian.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu cấu trúc vốn trong quản trị tài chính:
Cấu trúc vốn là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu kinh tế - tài chính quan
tâm và để nhiều thời gian nghiên cứu.Đứng trên góc độ nhà quản lý tài chính tại
doanh nghiệp việc nghiên cứu cấu trúc vốn giúp họ tìm ra lời giải cho những câu
hỏi sau:
Xác định cấu trúc vốn như thế nào là hợp lý và có lợi cho doanh nghiệp?
Nên vay nợ hay là không?
Nếu vay nợ, doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào?
Việc hiểu tường tận về cấu trúc vốn các nhà quản trị sẽ tìm ra câu trả lời cho
những câu hỏi ở trên, từ đó đề ra các quyết định tài trợ đúng đắn nhằm tăng hiệu
quả họat động của doanh nghiệp. Gia tăng lợi nhuận cho cổ đông nhưng vẫn hạn
chế rủi ro ở mức thấp nhất.
Nhóm 2
Trang 5
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
II. Đòn bẩy kinh doanh ( Operating Leverage):
1. Khái niệm:
Nhóm 2
Trang 6
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
đến một sản lượng tiêu thụ hòa vốn nào đó thì toàn bộ doanh thu trở thành lợi
nhuận trước thuế và lãi.
Ví dụ :
Bảng 1: Ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh lên lợi nhuận:
Công ty F
Công ty V
Phần A: Trước khi thay đổi
doanh thu
Doanh thu
Chi phi kinh doanh
Chi phí cố định
Chi phí biến đổi
Lợi
nhuận
10.000
7.000
2.000
0,18
29.250
15.000
16.500
7.000
3.000
5.000
2.000
10.500
4.000
14.000
4.500
10.750
330%
400%
100%
phí
tăng 50% những năm kế tiếp
Doanh thu
•
Phân tích hòa vốn là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí cố
định, chi phí biến đổi, lợi nhuận và số lượng tiêu thụ.
•
Điểm hòa vốn được xác định dựa trên những giả định sau:
Giá bán không đổi
Biến phí đơn vị sản phẩm cố định và tăng tỷ lệ theo theo khối lượng sản
phẩm sản xuất hoặc tiêu thụ.
Tổng định phí không đổi.
Những giả định trên trọng những phân tích ngắn hạn, có nghĩa là trong điều
kiện quy mô sản xuất đã được xác lập và giá không đổi. Giới hạn sản lượng là
công suất thiết kế tối đa, nếu sản lượng tăng vượt mức công suất tối đa thì tất cả
các giả định trên không còn phù hợp nữa vì lúc này tổng định phí sẽ tăng và biến
phí cũng có thể thay đổi.
•
Trong kinh doanh chúng ta phải đầu tư chi phí cố định,
kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và cung ứng dịch vụ sẽ sẽ tạo ra doanh thu, nếu
doanh thu đủ lớn để bù đắp được chi phí cố định và chi phí biến đổi thì công ty sẽ
có lợi nhuận, còn ngược lại nếu doanh thu quá thấp, phần chênh lệch giữa doanh
thu và chi phí biến đổi không đủ bù đắp chi phí cố định công ty sẽ bị lỗ.
•
Khi doanh thu doanh thu đã vượt qua mức đủ bù đắp chi
Tại điểm hòa vốn thì doanh thu bằng chi phí nên EBIT= 0. Do đó ta có:
P.Q0 = V.Q0 + F ⇔ ( P – V).Q0 = F ⇔ Q0 = F/(P - V )
Hay:
Sản lượng hòa vốn Q0
=
Tổng định phí (F)
Giá bán (P) –Biến phí (V)
Doanh thu hòa vốn S0 = Giá bán x Sản lượng hòa vốn(Q0)
Đồ thị : Minh họa về sản lượng hòa vốn
Doanh thu, chi phí
S
TC
Biến phí
TC0
Định Phí
F
Q0
Q
O
Sản lượng tiêu thụ
Nhận xét:
-Khi sản lượng đạt được mức Q 0 thì tổng chi phí TC 0 tương ứng với mức
doanh thu S0 . Trong trường hợp này đường tổng chi phí TC nằm trên đường
đường doanh thu S , chứng tỏ với mức sản lương bán ra Q 0 và doanh thu thu vào
Nhóm 2
Q(đơn vị)
- Xác định sản lượng hòa vốn và doanh thu hòa vốn:
Áp dụng công thức ta có sản lượng hòa vốn là:
Q 0 = Tổng định phí (F)/ (Giá bán (P) – Biến phí (v))
Hay Q0 =
4000
= 4000 (đơn vị)
(50 − 25)
Doanh thu hòa vốn sẽ là: 50 × 4000 = 200 000 $
Nếu số lượng sản phẩm tiêu thụ là vượt quá 4000 đơn vị thì doanh nghiệp sẽ
có lãi, ngược lại dưới 4000 đơn vị thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ.
Ý nghĩa của việc phân tích điểm hòa vốn:
- Phân tích hào vốn giúp cho Doanh nghiệp lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp
với quy mô thị trường, đồng thời lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro
do sự biến động sản lượng tiêu thụ sản phẩm.
Nhóm 2
Trang 10
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
- Việc lựa chọn quy mô và công nghệ đầu tư phụ thuộc vào quy mô thị
trường, nếu quy mô thị trường nhỏ hoặc có nhiều đối thủ cạnh tranh, một dự án có
Do độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng ( hoặc doanh thu) khác
nhau nên khi nói đến độ bẩy chúng ta chỉ nên chỉ rõ độ bẩy ở mức sản lượng nào
đó.
Trên thực tế để thu thập được số liệu về EBIT là không dể dàng nên để tiện
cho việc tính toán, ta có phép biến đổi như sau:
Nhóm 2
Trang 11
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Vì lãi gộp bằng doanh thu trừ chi phí nên ta có:
EBIT = PQ – (VQ + F) = PQ – VQ – F = Q(P – V) – F
Do giá bán và chi phí cố định là không đổi nên ∆EBIT = ∆ Q(P – V)
⇒
∆Q(P - V)
∆EBIT
=
Q( P - V ) - F
EBIT
Thay vào (*) ta có :
∆Q( P − V )
Q( P − V )
Q( P − V ) − F ∆Q( P − V ) Q
biến đổi.
Xét ví dụ đã đưa ra về công ty A, ta có:
DOL tại mức sản lượng Q= 6000 ( đơn vị) là:
DOL=
6000
=3
6000 − 4000
DOL tại mức sản lượng Q= 7000 ( đơn vị ) là:
DOL=
7000
1
=2
7000 − 4000
3
Độ bẩy kinh doanh tại mức sản lượng Q( 6000) là 3 có nghĩa là từ mức sản
lượng tiêu thụ là 6000 ( đơn vị), cứ mỗi phần trăn thay đổi sản lượng tiêu thụ thì
lợi nhuận đạt được sẽ thay đổi 3%. Từ mức sản lượng 6000 ( đơn vị) lên 7000
Nhóm 2
Trang 12
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
-1,00
3000
-25 000
-3,00
4000
0
Không xác định
5000
25 000
5,00
6000
50 000
3,00
7000
75 000
2,33
8000
100 000
2,00
Từ bảng ta thấy sản lượng di chuyển càng xa điểm hoà vốn thì lợi nhuận
kinh doanh hoặc lỗ sẽ càng lớn, ngược lại độ bẩy lại càng nhỏ.
Đồ thị miêu tả mối quan hệ sản lượng tiêu thụ và độ bẩy hoạt động
Nhóm 2
Trang 13
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Độ bẩy kinh doanh chính là công cụ giúp nhà quản trị biết được sự thay đổi
doanh thu có ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết định chính sách thu và chi của
mình.
Nhưng nhìn chung, các công ty không thích hoạt động dưới điều kiện độ bẩy
hoạt động cao bởi vì chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ doanh thu cũng dễ dẫn đến lỗ
trong hoạt động.
III. Đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) :
1. Nội dung:
a. Định nghĩa:
Đòn bẩy tài chính là công cụ sử dụng nợ vay hoặc các nguồn tài trợ có chi
phí lãi vay tài chính nhằm gia tăng tỷ suất sinh lợi của các nhà đầu tư.
b. Đặc điểm đòn bẩy tài chính:
- Đòn bẩy tài chính xuất hiện khi công ty quyết định tài trợ cho phần lớn tài
sản của mình bằng nợ vay. Các công ty chỉ làm điều này khi nhu cầu vốn cho đầu
tư của doanh nghiệp khá cao mà vốn chủ sở hữu không đủ để tài trợ. Khoản nợ vay
của công ty sẽ trở thành khoản nợ phải trả, lãi vay được tính dựa trên số nợ gốc
này. Một doanh nghiệp chỉ sử dụng nợ khi nó có thể tin chắc rằng tỷ suất sinh lợi
trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ
- Công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính. Không có một công ty nào bị ép
buộc phải sử dụng nợ và cổ phiếu ưu đãi để tài trợ cho hoạt động của mình mà
thay vào đó công ty có thể sử dụng nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu thường.
2. Phân tích quan hệ EBIT và EPS:
a. Nội dung:
và EPS chúng ta tìm ra điểm bàng quan, tức là điểm giao nhau giữa các phương án
tài trợ ở đó bất kỳ phương án nào cũng đem lại EPS như nhau. Đới với mỗi
phương án, chúng ta vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EPS với tất cả các
điểm của EBIT.
Nợ
CP ưu đãi
E
P
S
6
5
Cp thường
4
3
Điểm bàng quan giữa
tài trợ cp ưu đãi
và cp thường
2
1
0
Nhóm 2
=
(EBIT1,2 – I2)(1- t)- PD2
NS1
NS2
Trong đó:
EBIT1,2 : EBIT bàng quan giữa 2 phương án tài trợ 1 và 2
I1, I2 : lãi phải trả hàng năm tương ứng với phương án tài trợ 1 và 2
PD1, PD2 : cổ tức phải trả hàng năm theo phương án tài trợ 1 và 2
t : thuế suất thếu thu nhập công ty
NS1, NS2 : số cổ phần thông thường theo phương án 1 và 2
c. Ý nghĩa của điểm bàng quan:
Điểm bàng quan cho ta biết nếu EBIT thấp hay cao hơn điểm bàng quan thì
phương án tài trợ nào tạo ra được EPS cao hơn hay thấp hơn từ đó lựa chon
phương án tài trợ phù hợp.
3. Độ bẩy tài chính:
a. Định nghĩa: DFL (Degree of Financial Leverage) là tỷ số đòn bẩy cho
thấy ảnh hưởng của một khoản nợ vay xác định đối với thu nhập trên mỗi cổ phần
của công ty
b. Công thức tính:
Công thức xác định tỷ lệ đòn bẩy tài chính như sau:
DFLEBIT= (% thay đổi trong EPS) / (% thay đổi trong EBIT)
= %EPS / %EBIT =
EBIT
EBIT – I - {PD / (1- t)}
EBIT – I - {PD / (1- t)}
=
27.000.000
27.000.000 – {5.500.000 / (1 – 0,4 )
= 1,51
Độ bẩy tài chính của phương án dùng cổ phiếu ưu đãi lớn hơn độ bẩy của
phương án dùng nợ có nghĩa là mức biến động của EPS khi EBIT biến động đối
với phương án tài trợ tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãi cao hơn phương án tài trợ bằng
nợ. Và điều này phụ thuộc vào vấn đề tiết kiệm thuế do sử dụng nợ với chi phí trả
cổ tức.
Nếu PD > (1-t) I thì
DFL(nợ) < DFL(CP ưu đãi)
Nếu PD < (1-t) I thì
DFL(nợ) > DFL(CP ưu đãi)
4. Ý nghĩa của đòn bẩy tài chính:
- Về mặt tích cực, các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng là sẽ
gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường. Nếu sử dụng phù hợp, công ty có thể
dùng các nguồn vốn có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu hoặc đi vay
từ ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác để tạo ra lợi nhuận cao nhất. Trong
điều kiện các yếu tố khác không đổi, một mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn đồng
nghĩa là sự dao động trong EPS cũng tăng tương ứng.Hầu hết các công ty đang bị
định giá thấp đều mong muốn có một EPS khả quan và do đó tỷ số DFL có thể
được sử dụng để công ty quyết định xem mức độ đòn bẩy công ty cần sử dụng là
bao nhiêu để đạt được mục tiêu cần thiết.
FC là chi phí cố định (fixed costs)
I : lãi suất đi vay
Hoặc công thức 2
DTL = (EBIT+FC)/{EBIT-I-[PD/(1-t)]}
PD là phần chia cổ tức ưu đãi
4. Một ví dụ về đòn bẩy tổng hợp:
Công ty newco sản xuất và bán ra được 140000 đơn vị sản phẩm hàng năm.
Công ty này có chi phí biến đổi là 20$/sản phẩm, và tổng chi phí cố định là 2.4
triệu đô la. Lãi suất của chi phí đi vay hằng năm là 100.000 đô la. Nếu doanh số
của newco tăng 20% thì điều gì sẽ ảnh hưởng đến eps. Biết mỗi sản phẩm giá 50$.
Nhóm 2
Trang 19
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
DTL= Q(P–V)
Q(P – V) – F - I
Đòn bẩy tổng hợp của công ty newco : DTL = 14000(50/20) /((140000*302400000 - 100000))=2.47
Nếu doanh số của newco tăng 20% thì EPS của công ty sẽ tăng 20%x2.47=
49.4%.
Từ ví dụ trên ta thấy nếu DTL càng lớn thì EPS kì vọng càng cao khi doanh
số bán ra tăng. Tuy nhiên rủi ro cũng rất lớn khi công ty làm ăn không có lãi.
5. Mối quan hệ giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính.
Môt công ty đồng thời có tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh cao và đòn bẩy tài chính
cao ( đòn bẩy tổng hợp cao) thì sẽ rất rủi ro trong đầu tư khá lớn. Tỷ lệ đòn bẩy
của trường hợp 2 thấp hơn trường hợp 1)
Bài làm
Trường hợp 1.
EBIT
Lãi phải trả
EBT
Thuế suất (30%)
EAT
Chia cổ tức ưu đãi
Lợi nhuận sau thuế
Giá mỗi cổ phiếu kì
Trường hợp 1
$500,000
0
$500,000
$150,000
$350,000
0
$350,000
$100,000
Trường hợp 2
$500,000
$100,000
$400,000
$120,000
$280,00
0
$280,000
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nhóm 2
Trang 21
Bài tập nhóm môn Tài chính doanh nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
1.Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Ts Nguyễn Minh Kiều, NXB Thống kê năm
2006)
2.Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Ts Lưu Thị Hương, Đại học Kinh tế quốc
dân)
3. www.tailieu.vn
Nhóm 2
Trang 22