LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp “ Nghiên cứu về tổ chức
hoạt động và quản lý HTX rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội” chuyên ngành Phát triển nông thôn là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được
công bố cho việc bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đều
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trương Thị Thủy
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “ Nghiên cứu về tổ chức hoạt động và quản lý
HTX rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể,
tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn, trường Học viên Nông Nghiệp Việt Nam đã dạy bảo và trang bị cho
tôi những kiến thức giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Nguyễn Thanh Phong đã trực
tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ lãnh đạo ủy ban nhân
dân xã, hợp tác xã và tập thể bà con trong xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn,
cố và ngày càng thể hiện vai trò hết sức to lớn, nhất là trong nông nghiệp nông
thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, phát triển ngành nghề, cuộc sống nhân dân
được cải thiện, mức sống tăng lên, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong
phú… Tuy nhiên hoạt động kinh doanh của hợp tác xã vẫn còn gặp nhiều khó
khăn. Vì vậy, việc nghiên cứu về tổ chức hoạt động và quản lý của HTX là rất
cần thiết để phát triển bền vững HTX rau hữu cơ Thanh Xuân cũng như tạo tiền
đề cho sự phát triển của các HTX trong thành phố Hà Nội.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên
cứu về tổ chức hoạt động và quản lý HTX rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân,
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”
3
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động và quản lý
HTX rau hữu cơ Thanh Xuân. Đánh giá thực trạng, hoạt động cũng như quy trình
quản lý của HTX rau hữu cơ Thanh Xuân. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động hợp tác xã. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của HTX rau hữu cơ xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Các
khái niệm được tìm hiểu qua nhiều góc độ và cách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên
cứu trước đây. Từ các cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động và quản lý của HTX rau
hữu cơ Thanh Xuân đề tài đã bước đầu khái quát hóa khái niệm tổ chức hoạt động
và quản lý của HTX rau hữu cơ.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu thu thập thông tin: thông tin sơ cấp (số liệu do UBND xã Thanh
Xuân, HTX rau hữu cơ Thanh Xuân, do hộ diều tra cung cấp…), thông tin thứ
cấp; phương pháp xử lý thông tin hệ thống hóa số liệu, tổng hợp lại bằng tay và
phần mềm excel trên máy tính; Phương pháp phân tích thông tin: thống kê mô tả,
so sánh.
Tính đến hết năm 2014 HTX rau hữu cơ Thanh Xuân có 150 xã viên. Hợp
tác xã có 170 lao động trong đó có 20 lao động thuê ngoài và 150 lao động là xã
mở rộng quy mô, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sinh hoạt, khuyến nông,
khuyến ngư…
- Giải pháp: đào tạo đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng lao động xã viên.
Tăng cường vốn hoạt động, cân nhắc lại mục đích sử dụng vốn. Đầu tư tu bổ
nâng cấp cơ sở hạ tầng. Nâng cao chất lượng - giá cả dịch vụ mà HTX cung ứng.
Tăng cường, mở rộng, phát triển dịch vụ khuyến nông.
5
Như vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX rau hữu cơ Thanh
Xuân thì cần phải có những biện pháp, phối hợp cùng với sự quan tâm của các
cấp nhà nước, chính quyền và các hộ nông dân, hộ xã viên.
MỤC LỤC
6
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
7
HTX: hợp tác xã
DN: doanh nghiệp
ĐVT: đơn vị tính
định về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tiêu dùng v.v… Tuy nhiên, một đặc điểm
cần phải lưu ý là quy mô sản xuất của hộ nói chung còn nhỏ bé và thiếu các tư
liệu sản xuất cần thiết. Hơn thế nữa, nông dân của chúng ta hiện đang thiếu việc
làm trầm trọng. Trang bị khoa học kỹ thuật còn rất yếu kém và rất dễ bị tổn
thương đối với các thay đổi của kinh tế thị trường. Vì vậy, phát triển các HTX
nhằm mục đích quy tụ các hộ nông dân nhỏ lẻ, dễ bị tổn thương trong nền kinh tế
thị trường cạnh tranh cần phải đặt lên thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Phát triển
các HTX cũng tạo tiền đề để phát huy lợi thế của tính kinh tế theo quy mô, lợi ích
thu được từ việc sử dụng các cán bộ HTX chuyên nghiệp, lợi ích thu được từ việc
củng cố cơ sở pháp lý của HTX, và sau nữa là phát huy lợi thế của tính kinh tế
của sự tập trung (hay còn gọi là tính kinh tế của sự cộng dồn). Mặt khác, các HTX
còn là các tổ chức của nông dân, ở nông thôn, có vai trò quan trọng trong việc trợ
9
giúp xã hội các thành viên những lúc cần thiết, điều đó có tác dụng khuyến khích
các thành viên dám nghĩ, dám làm đầu tư, mở rộng các hoạt động sản xuất kinh
doanh đem lại lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, có thể thấy rõ ràng là
phát triển các HTX là cách làm hiệu quả để chuyển dịch cơ cấu sản xuất , nông
thôn (Phạm Bảo Dương, 2010).
Những năm vừa qua, trong khu vực nông thôn của thành phố Hà Nội có
nhiều HTX mới thành lập, và nhiều HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo
Luật HTX. Các HTX mới có trường hợp do nông dân thành lập, có trường hợp
được phát triển lên từ tổ hợp tác, có trường hợp được các tổ chức tư vấn của các
cơ quan nhà nước, đoàn thể hay tổ chức phi chính phủ hỗ trợ. Các HTX, đặc biệt
là HTX mới thành lập đã dần tuân thủ đúng các quy định pháp luật, đảm bảo các
giá trị, nguyên tắc HTX. Hoạt động của các HTX đã có bước chuyển biến, nội
dung hoạt động đa dạng và rõ nét hơn. Một bộ phận HTX đã tăng cường được
sức mạnh về vốn, công nghệ, chất lượng sản phẩm, năng động hơn trong sản
xuất - kinh doanh và đầu tư phát triển sản xuất, tổ chức, hoạt động đa dạng. Tuy
cơ tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” là việc làm mang
tính cấp thiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho việc
đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển HTX ở xã Thanh Xuân cũng như trên
toàn nước trong giai đoạn tới.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở các đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các HTX trên
địa bàn xã Thanh Xuân từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
HTX trong thời gian tới
11
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới, phát
triển hợp tác xã
- Đánh giá được thực trạng tổ chức và hoạt động của các HTX hiện nay
- Đề xuất được các giải pháp đổi mới, phát triển HTX trên địa bàn xã
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hợp tác xã nói chung và HTX nói riêng đóng vai trò như thế nào đối với
sự phát triển chung của huyện?
- Hiện nay, hợp tác xã trên địa bàn huyện được tổ chức - hoạt động theo
mô hình nào? Hiệu quả đem lại từ mô hình như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng tổ chức hoat động của hợp
tác xã rau hữu cơ tại xã Thanh Xuân?
- Để mở rộng và nâng cao hiệu quả tổ chức - hoạt động của hợp tác xã
trên địa bàn xã Thanh Xuân cần phải có những giải pháp gì?
- HTX là gì?
- Tổ chức là gì?
- Quản lý là gì?
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 khái niệm HTX
Kinh tế tập thể là hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã
dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những
người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc
các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn. Phân phối
theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ, hoạt động theo nguyên
tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân
và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vón và góp sức trên
cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi.
Kinh tế tập thể hiện nay gồm 2 hình thức là hợp tác xã và tổ hợp tác.
Trong đó hợp tác xã là nòng cốt.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh hợp tác xã quốc tế(ICA)
lần thứ31 tổ chức tại Manchester –Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác xã
như sau:"Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với
nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về
kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ
chung và kiểm tra.
Trong bản khuyến nghị phát triển hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc
tế(ILO) được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra và tháng 6 năm 2002 tại
Geneve –Thụy Sỹ định nghĩa về hợp tác xã: "Hợp tác xã là một tổchức tự chủ
của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu
cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một
14
doanh nghiệp sởhữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẽ lợi ích và
rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý
dân chủ".
Nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa hợp tác xã cho phù
Tổ chức là việc xác lập các bộ phân, cơ cấu, phân cấp gắn với quyền và
nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận đảm bảo tính hệ thống, gắn kết, linh hoạt, phụ
thuộc và chế ước lẫn nhau giữa các bộ phận nhằm phối hợp, cộng tác giữa các bộ
phận để đạt được mục tiêu.
Vấn đề quản lý là thiết yếu trong mọi sự hợp tác có tổ chức, cũng như ở
mọi cấp độ tổ chức. Quản lý theo nghĩa rộng gồm hai nhiệm vụ chính, cơ bản là
lập kế hoạch và xây dựng tổ chức. Quản lý theo nghĩa hẹp được tiếp cận với ý
nghĩa kiểm tra, giám sát và phối hợp hoạt động đối các chủ thể, cơ quan, cá nhân
trong tổ chức.
Vai trò của nhân tố tổ chức đối với yêu cầu phát triển của HTX Nông
Nghiệp được thể hiện: đảm bảo đủ bộ phận đáp ứng các yêu cầu quản lý, hoạt
động, xây dựng và thực thi các chiến lược của HTX; phối hợp và phát huy mọi
nguồn lực để phát triển HTX; chế ước đảm bảo không phát sinh vấn đề lạm
quyền, đi ngược lại lợi ích của xã viên và của HTX; đảm bảo cung cấp thông tin,
truyền bá thông tin kịp thời cho tổ chức và hoạt động của HTX; tổ chức chặt chẽ
và có hệ thống giúp tạo lập niềm tin với đối tác.
Để thực hiện tổ chức, quản lý theo các góc độ này, chủ thể tiến hành đề ra
quyết sách hoạt động, kế hoạch hoạt động cho từng chuyên đề quản lý; thiết kế
tổ chức đối với từng chuyên đề; đề ra quy trình, nguyên tắc hoạt động, yêu cầu
và nhiệm vụ hoạt động, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi chủ thể đồng thời trong
16
mối tương quan với nhiệm vụ và quyền hạn với chủ thể khác; đề ra nguyên tắc
và yêu cầu trong vấn đề phối hợp giữa các bộ phận; đề ra kỷ luật lao động và yêu
cầu tiêu chuẩn chất lượng đối với từng hoạt động, quy trình, hàng hóa-dịch vụ cụ
thể.
Trong thực trạng sự hạn chế về mọi nguồn lực của mô hình HTX như hiện
nay, thì việc thiết lập một cơ chế tổ chức, quản lý hiệu quả, phù hợp có vai trò
hết sức quan trọng nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực, khắc phục sự hạn chế
đọng the một văn bản luật riêng là Luật ợp tác xã. Tuy nhiên tồn tại ình đẳng với
các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đòi
hỏi hợp tác xã phải hoạt động như doanh nghiệp, tự chủ, tự hạch toán trong sản
xuất và kinh doanh.
Hợp tác xã có tối thiểu là 7 xã viên gồm cá nhân,hộ gia đình, pháp nhân
tự nguyện lập ra do nhu cầu và lợi ích chung:
Thành viên của hợp tác xã được gọi là xã viên. Trước đây số lượng thành
viên của hợp tác xã do các Điều lệ mẫu hợp tác xã quy định à tùy thuộc vào lĩnh
vực hoạt động mà số lượng thành viên tối thiểu của hợp tác xã khác nhau. Hiện
nay pháp luật thống nhất số xã viên tối thiểu cho hợp tác xã hoạt động trên tất cả
các lĩnh vực là 7 xã viên gồm cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân. Trong đó hộ gia
đình là loại thành viên đặc thù của hợp tác xã. Pháp nhân là loại thành viên mới
được Luật hợp tác xã năm 2003 ghi nhận gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân; tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp; Quỹ xã hội, quỹ từ thiện và
các tổ chức khác. Chủ thể là các cá nhân khi tham gia hợp tác xã phải đáp ứng
những điều kiện nhất địnhtheo quy định của pháp luật. Một trong các điều kiện
đó là xã viên tự nguyện lập ra, tham gia và ra khỏi hợp tác xã theo sự chi phối
của nhu cầu và lợi ích xã viên.
Xã viên góp vốn và góp sức vào hợp tác xã :
18
Để tiến hành các hoạt động sản xuất –kinh doanh chung, khi tham gia
hợp tác xã các xã viên phải góp phần vốn tối thiểu là số tiền hoặc giá trị tài sản,
bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sởhữu các phát minh, sáng chế, bí
quyết kĩ thuật và các loại giấy tờ có giá khác được quy ra tiền. Ngoài ra các xã
viên phải góp sức vào hợp tác xã bằng việc tham gia xây dựng hợp tác xã dưới
các hình thức trực tiếp quản lý, lao động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và các
hình thức tham gia khác. Đây là yêu cầu đặc thù đối với thành viên của loạ hình
hình thức hợp tác và nhiều trình độ hợp tác.
Quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang sản xuất hang hóa là
quá trình hình thành và phát triển các mối quan hệ hợp tác, liên kết, tiến tới hình
thành kinh tế hợp tác và hợp tác xã. Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã
bắt nguồn từ phân công lao động và các mối quan hệ biện chứng của nó với hợp
tác lao động.
Trong nền kinh tế thị trường như ngày này, luôn luôn tồn tại 3 khu vực
kinh tế. Đó là khu vực kinh tế tư bản, tư nhân; khu vực kinh tế nhà nước và khu
vực kinh tế tập thể. Mỗi khu vực có bản chất và cách thức hoạt động khác nhau.
Bảng 2.1: Sự giống và khác nhau về bản chất giữa HTX và doanh nghiệp
HTX theo chuẩn mực quốc tế
Doanh nghiệp
( theo Luật DN)
1.Tính chất
- Tổ chức kinh tế;
- Tổ chức kinh tế;
- Phải hoạt động hiệu quả, tối - Phải hoạt động hiệu quả, tối
đa hóa lợi nhuận;
đa hóa lợi nhuận;
20
- Tổ chức của cá nhân người là - Góp vốn là chính: tổ chức
chính: tổ chức kinh tế đối nhân; kinh tế đổi vốn;
và sở hữu tài sản của HTX theo tài sản DN theo tỷ lệ vốn góp
vốn góp điều lệ;
điều lệ.
- Thành viên vẫn sở hữu tư
nhân tư liệu sản xuất và hoạt
động kinh tế tư nhân, cá thể.
5. Tài
chung
sản Tài sản chung HTX thuộc sở Tài sản chung của DN thuộc
hữu cộng đồng thành viên, sở hữu của thành viên theo tỷ
không được chia,
lệ vốn góp, có thể được chia
ra.
6.
Phương - Hướng vào làm lợi cho thành - Hướng vào quyền lợi người
thức quản lý viên;
góp vốn;
21
- Quyền biểu quyết bình đẳng - Quyền biểu quyết tùy theo
giữa các thành viên( mỗi thành tỷ lệ vốn góp.
viên một phiếu).
7. Phân chia Lợi nhuận chia theonhieeuf tiêu Lợi nhuận chủ yếu chia theo
lợi nhuận
thức khác nhau:
vốn góp.
vực này thường hoạt động có hiệu quả, năng động và tạo ra nhiều sản phẩm, dịch
vụ, hành hóa đáp ứng được nhu cầu khác nhau của xã hội. Để tồn tại và phát
triển, các thành phần tham gia khu vực này phải cạnh tranh lẫn nhau theo nguyên
lý’ cá lớn nuốt cá nhỏ” và đây chính là nhân tố gây lên sự chênh lệch giữa các
khu vực và các bộ phận trong nền kinh tế hiện nay.
22
Trong khu vực kinh tế tư nhân luôn có một lực lượng lớn dân cư và
người hoạt động cá lẻ, vì nhiều lý do không thể hoặc không đủ khả năng cạnh
tranh với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có quy mô lớn nên học buộc phải
tự tổ chức hoạt động sản xuất theo hình thức hộ gia đình, cá thể để tồn tại trong
nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, những cá nhân hoạt động nhỏ lẻ luôn luôn
bị chèn ép và thua thiệt về nhiều mặt. Chính vì vậy để tồn tại và phát triển được
họ buộc phải liên kết với nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên
cùng có lợi để cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, đời sống với nhiều
hình thức hoạt động khác nhau phù hợp hơn với nhu cầu của chính họ.
Tổ chức và hoạt động của HTX thể hiện một nguyên tắc rất đơn giản và cổ
xưa trong tổ chức xã hội của loài người: Nếu một cá nhân không có đủ khả năng
để thực hiện công việc nhằm đạt được mục tiêu nào đó thì tất yếu cá nhân đó sẽ
phải tìm cách hợp sức với những cá nhân khác. Trong số rất nhiều nhu cầu, mục
tiêu của từng cá nhân cụ thể thì tất yếu có những nhu cầu, mục tiêu mà nhiều
hoặc đa số cá nhân trong xã hội đều có chung. Từ những mục tiêu, lợi ích chung
này, các cá nhân trong xã hội đã tìm ra nhiều phương pháp để hợp tác với nhau
để cùng đạt được mục tiêu, lợi ích chung và việc thành lập ra một tổ chức để
thực hiện là một trong những phương pháp đã phát huy hiệu quả tích cực.
HTX tập hợp và cung cấp dịch vụ, sản phẩm có nhu cầu chung cho các các
xã viên, tận dụng được lợi thế của việc cung ứng hàng hóa, sản phẩm với số
ích của các cá nhân xã viên trong một tập thể có thể mâu thuẫn với nhau dưới
nhiều hình thức khác nhau, bên cạnh khả năng mâu thuẫn lợi ích của xã viên nói
chung với lợi ích của Ban quản trị hợp tác xã nói riêng. Một thách thức đặt ra đối
với phương thức hợp tác HTX là, để có thể tồn tại, hợp tác xã phải giải quyết
24
được vấn đề cân bằng giữa các lợi ích khác nhau này. Bên cạnh đó, HTX không
phải là một tổ chức từ thiện, không có các nguồn tài trợ và không tồn tại nhờ vào
tấm lòng của những người khác. Do đó, để có thể tồn tại, HTX cũng phải tham
gia vào thương trường, giao dịch với các đối tác bên ngoài để tìm kiếm giá trị
thặng dư. Phần giá trị thặng dư này một phần được dùng để bù đắp chi phí hoạt
động và bổ sung vào khối tài sản không chia của HTX, phần còn lại sẽ được
phân phối lại ngay cho các xã viên thông qua việc giảm giá thành sử dụng dịch
vụ của HTX trong các giao dịch giữa HTX với xã viên.
Trong bối cảnh phải cạnh tranh với các mô hình hợp tác khác, ví dụ như
các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, bên cạnh
nhiệm vụ cân bằng các lợi ích trong nội bộ của HTX thì mô hình này phải thỏa
mãn được những yêu cầu cao hơn. Đó là HTX phải chứng minh được lý do và sự
tồn tại của nó đem lại lợi ích cho các xã viên, người thành lập và duy trì hoạt
động của HTX bên cạnh hoạt động kinh doanh với các đối tác bên ngoài.
Nói một cách khác, từ luận điểm này chúng ta có thể nhận ra mô hình
HTX vừa có đặc điểm của một tổ chức xã hội vừa có đặc điểm của một doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh. HTX là một tổ chức kinh tế tạo ra những lợi thế về
lợi ích cho các thành viên xã viên và cũng phải chấp nhận sức ép rất lớn trên thị
trường không kém những loại hình doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh
vực.
2.1.3. Tổ chức hoạt động và quản lý HTX
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của HTX theo luật HTX 2012
Qua các thời kỳ khác nhau tổ chức cơ cấu của HTX nhìn chung theo cơ cấu sau: