Quá trình hình thành và phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam (1970-2010) - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN PHÚ

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(1970 - 2010)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực. Những kết luận
và đánh giá trong luận án không trùng lặp và chưa công bố trong
bất kỳ công trình khác
Tác giả Luận án

Nguyễn Văn Phú


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

TRÌNH TRÊN ĐÃ GIẢI QUYẾT VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN
TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những vấn liên quan đến đề tài luận án các công trình trên
đã giải quyết
1.2.2. Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
CHƯƠNG 2: ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ

20
21

23

PHÁT SÓNG THỬ NGHIỆM (1970 - 1985)
2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.2. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ

23
25

PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.2.1. Những chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về phát

26

triển truyền hình ở Việt Nam
2.2.2. Các tổ chức tiền thân của Đài Truyền hình Việt Nam
2.2.3. Đài Truyền hình Việt Nam ra đời



DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1970-1985)

CHƯƠNG 3: ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG GIAI

71

ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP (1986-2010)
3.1. ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU, NHIỆM VỤ MỚI
3.2. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM (1986-

71
75

1998)

3.2.1. Đổi mới về tổ chức, hệ thống quản lý
3.2.2. Đổi mới nội dung chương trình
3.2.3. Đổi mới các trung tâm phục vụ chương trình
3.2.4. Đổi mới về trang thiết bị kỹ thuật
3.3. ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN PHÁT

75
82
89
91
98

TRIỂN ỔN ĐỊNH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1998 - 2010)


nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân
4.1.5. Mạnh dạn đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả công tác

125

truyền thông, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế
4.2. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

128

4.2.1. Đài Truyền hình Việt Nam ra đời và phát triển luôn gắn với sự

128

lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
4.2.2. Nhận thức đúng vai trò của truyền hình trong chiến lược

130

phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của quốc gia


4.2.3. Coi trọng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên

132

có đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ
4.2.4. Đổi mới tư duy trong lựa chọn công nghệ tiên tiến, làm tiền


BBT

2

Tổ chức cán bộ

TCCB

3

Cộng hòa dân chủ

CHDC

4

Cộng hòa liên bang

CHLB

5

Cộng sản Việt Nam

CSVN

6

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng


TH

12

Truyền hình Trung ương

THTW

13

Truyền hình Việt Nam

THVN

14

Tiếng nói Việt Nam

TNVN


15

Tổng biên tập

TBT

16


Trung tâm

TT

22

Đài Truyền hình Trung ương

ĐTHTW

23

Kế hoạch - Tài chính

KH-TC


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm 1926-1946, truyền hình thế giới xuất hiện rồi nhanh
chóng trở thành một hiện tượng nổi bật trong giới truyền thông, giải trí.
Tiên nghiệm về tương lai của nó, các nhà kỹ thuật, kinh doanh và chính trị
đã quan tâm đầu tư lớn cho lĩnh vực này. Nhờ đó, đến những năm 19501960, truyền hình phát triển mạnh mẽ và làm nên một cuộc cách mạng trên
lĩnh vực điện tử viễn thông. Những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ
XXI, truyền hình phát triển mạnh mẽ và luôn giữ vai trò quan trọng trong
đời sống. Hoạt động của truyền hình đã mang lại những lợi ích kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội to lớn cho các quốc gia sử dụng nó. Trong khi
truyền hình thế giới phát triển nhanh chóng, người dân đã có thói quen xem
truyền hình hằng ngày, thì mãi đến những năm 60, 70 của thế kỷ XX, Việt

xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thước phim tư
liệu lịch sử và chương trình truyền hình được phát sóng đều đặn hàng ngày là kết
quả lao động sáng tạo của nhiều thế hệ, nhất là đối với thế hệ đầu tiên đặt nền
móng gây dựng sự nghiệp truyền hình. Từ một tổ làm truyền hình buổi ban đầu,
phát triển thành Ban Biên tập Vô tuyến truyền hình (1971) và sau đó trở thành
Đài Truyền hình Trung ương (1977), Đài Truyền hình Việt Nam (1987), những
người làm truyền hình đều trở thành “người chép sử bằng hình ảnh”, màn ảnh
nhỏ là tấm gương phản ánh đời sống xã hội. Các thế hệ của Đài Truyền hình
Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, giàu
mạnh. Đài Truyền hình Việt Nam không chỉ là công cụ của Đảng, Nhà nước trên
mặt trận tư tưởng mà còn là diễn đàn của nhân dân, là chiếc cầu nối liền với
người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè thế giới. Vượt qua mọi khoảng cách địa
lý, làn sóng của Đài Truyền hình Việt Nam đã cất lên tiếng nói của một quốc gia
độc lập, thống nhất, có chủ quyền .


3
Nhưng, lịch sử không chỉ từ ký ức, mà còn là những bài học tổng kết kinh
nghiệm, vốn quý, là động lực cho con đường hướng tới tương lai. Bước vào thế
kỷ XXI, khoa học công nghệ phát triển ở trình độ cao, các phương tiện nghe
nhìn trở nên mới mẻ, năng động, hiệu dụng, là cơ hội đồng thời cũng là thách
thức của Đài Truyền hình Việt Nam. Mặt khác, thế giới đang trong thời đại bùng
nổ thông tin, những công nghệ mới cho phép cá nhân hóa, di động hóa, kết nối
và tương tác tức thời, làm thay đổi cơ bản phương thức giao tiếp xã hội, định
hướng toàn bộ các hoạt động truyền thông đa chiều giữa các cá nhân, tổ chức và
doanh nghiệp và qua đó làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước. Sự thay đổi
của công nghệ truyền hình và phát triển của các loại hình báo chí truyền thông
đã làm gia tăng nhanh chóng vai trò, vị thế của nó trong đời sống xã hội, trên tất
cả các lĩnh vực hoạt động, Đài Truyền hình Việt Nam phải làm gì để giữ vững

yếu đưa tới sự hình thành và phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam;
- Phục dựng các giai đoạn xây dựng và phát triển của Đài Truyền hình
Việt Nam;
- Làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý
của Nhà nước đối với quá trình hình thành, phát triển của Đài Truyền hình
Việt Nam từ năm 1970 đến năm 2010;
- Nhận xét về sự hình thành, quá trình hoạt động, phát triển và sự đóng
góp của Đài Truyền hình Việt Nam từ năm 1970 đến năm 2010, từ đó đúc kết
một số bài học kinh nghiệm về phát triển truyền hình ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hình thành và phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đài Truyền hình Việt Nam, trên lãnh thổ Việt Nam.
- Thời gian: Từ năm 1970 đến năm 2010 (tức là từ khi Đài Truyền hình
Việt Nam phát sóng buổi đầu tiên đến năm 2010). Tuy nhiên, để đảm bảo tính
lô-gic của vấn đề nghiên cứu, giới hạn thời gian của luận án có thể từ trước


5
năm 1970 khi đề cập đến quá trình “thai nghén”.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án này dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối - chủ trương của Đảng, chính sách - pháp
luật của Nhà nước đối với báo chí cách mạng và hoạt động của báo chí,
trong đó có “báo hình”.
4.2. Nguồn tài liệu
- Các Văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan đến báo chí, truyền
hình.

6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Đài Truyền hình Việt Nam ra đời và phát sóng thử nghiệm
(1970-1985)
Chương 3: Đài Truyền hình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội
nhập quốc tế (1986-2010)
Chương 4: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm.


7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Do chức năng và vai trò của truyền hình trong đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của đất nước; vị trí quan trọng của truyền hình trong hệ thống báo
chí cách mạng nói chung mà lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam luôn được
giới khoa học, nhất là những người trực tiếp làm truyền hình và giảng viên ở
các trường báo chí truyền thông quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ.
Liên quan đến đề tài có thể chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất là những công trình nghiên cứu trong nước. Ở nhóm
công trình này có thể phân chia thành hai mảng: 1) Những tác phẩm nghiên
cứu về báo chí - truyền hình nói chung; 2) Những tác phẩm nghiên cứu về Đài
Truyền hình Việt Nam.
Nhóm thứ hai là những công trình nghiên cứu ở nước ngoài về truyền
hình.
Các công trình trên được thể hiện dưới nhiều hình thức như công trình

chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2002. Cuốn sách tập trung luận giải và đưa ra một số đánh
giá về sự tác động của kinh tế thị trường với báo chí nói chung, truyền hình
Việt Nam nói riêng, đồng thời chỉ ra một số giải pháp về quản lý báo chí.
- Hà Đăng (2002), “Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên
báo chí trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 2002. Tác giả đánh giá khái quát về thực trạng đội ngũ những
người làm báo, đồng thời đưa ra những giải pháp về xây dựng đội ngũ phóng
viên, và hệ quả của nó đến nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí, truyền
hình.


9
- Vũ Quang Hào (2004), “Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển”, Nxb
Lý luận Chính trị, Hà Nội 2004. Thông qua việc khảo cứu về báo chí, truyền
hình của Thụy Điển, cuốn sách đúc rút một số kinh nghiệm trong công tác
đào tạo và quản lý báo chí ở Việt Nam.
- PGS.TS Tạ Ngọc Tấn (2004),“Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, cuốn sách phân tích và hệ thống hóa một số
quan điểm làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách cung cấp những nội
dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam.
- Nguyễn Vũ Tiến (2005), “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí
trong thời kỳ đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005. Tác giả phân
tích và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động báo chí, trong đó
có truyền hình trong sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.
- PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2006),“Tác phẩm báo chí”, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội 2006. Sách giới thiệu cách thức tiếp cận và thực hiện các tác
phẩm báo chí, những kinh nghiệm và vận dụng kinh nghiệm mang tính nghề
nghiệp. Sách có đề cập tới lịch sử ra đời của Đài Truyền hình Việt Nam nhưng
rất vắn tắt.

truyền hình và thống kê số lượng phim tài liệu truyền hình từ những năm
1945 đến năm 2010. Tuy đề cập đến những tác giả, tác phẩm sản xuất phim
tài liệu truyền hình, nhưng vắng bóng những nội dung về lịch sử phát triển
của Đài Truyền hình Việt Nam.
- Đào Hữu Dũng, Viện Đại Học Quốc Tế Josai (J.I.U.),Tokyo (2012),
“Quảng cáo truyền hình trong kinh tế thị trường - Phân tích và đánh giá”, Nxb
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2012. Cuốn sách đưa ra những mốc lịch
sử phát triển của truyền hình thế giới, những số liệu về sự phát triển của truyền
hình thế giới thế kỷ XX, đồng thời phân tích, đánh giá các yếu tố tác động tới
sản xuất chương trình truyền hình và quảng cáo truyền hình trong nước và thế
giới.
- Đài Truyền hình Việt Nam (2012), Kỷ yếu Hội thảo Chuyển đổi số


11
hóa trong sản xuất và phát sóng, tổ chức ngày 20.12.2012. Kỷ yếu phân tích
xu hướng tất yếu của truyền hình trong kỷ nguyên số hóa, những ưu điểm,
hạn chế và những bước đi của truyền hình Việt Nam trong lộ trình số hóa.
- PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ (2013), “Báo chí - dưới góc nhìn thực tiễn”,
Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội 2013 về bức tranh toàn cảnh nền báo
chí Việt Nam, những vấn đề then chốt trong công tác lãnh đạo, quản lý báo
chí nói chung và truyền hình nói riêng.
- Cũng liên quan tới mảng truyền hình với cuộc chiến tranh chống Mỹ,
tác giả Trần Ngọc Thạch, trên trang điện tử www.tgvn.com.vn có bài “Báo
chí Mỹ và cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”, bài viết cung cấp số liệu về
các báo, đài, trong đó có ba hãng truyền hình lớn của Mỹ là ABC, NBC và
CBS đưa tin về chiến tranh Việt Nam. Những sự thật về cuộc chiến tranh Việt
Nam được phơi bày trên truyền hình Mỹ đã tạo nên làn sóng phản đối cuộc
chiến của Mỹ ở Việt Nam ngay trong lòng nước Mỹ, trở thành “cuộc chiến
trên truyền hình”.

kinh tế Quốc dân, Hà Nội“Mở rộng mạng lưới Truyền hình Quốc gia cho phù
hợp với cung cầu về truyền hình ở Việt Nam hiện nay” (1993). Luận án đã
sớm đề cập đến vấn đề “xã hội hóa” lĩnh vực truyền hình, giải quyết vấn đề
kinh tế truyền hình trong điều kiện xã hội phát triển. Luận án có đề cập tới cơ
cấu, tổ chức chức của Đài Truyền hình Việt Nam giai đoạn 1993-1997, tuy
nhiên luận án cũng mới chỉ dừng ở khía cạnh “cung, cầu” với hệ thống giải
pháp xã hội hóa truyền hình.
- Trần Lâm (1995), “Truyền hình Việt Nam một phần tư thế kỷ”, cuốn
sách của Nhà báo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995. Đây là hồi ức của
một cán bộ lãnh đạo có nhiều năm gắn bó với Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài
Truyền hình Việt Nam. Cuốn sách đã sơ lược quá trình thành lập và phát triển
của truyền hình Việt Nam giai đoạn 1970 - 1994. Tuy nhiên, đây được coi là
cuốn sử liệu ghi chép lại những sự kiện chính của Đài Truyền hình Việt Nam


13
ở miền Bắc thời kỳ đầu, chưa có những đánh giá tổng quan.
- Đinh Quang Hưng, Luận án tiến sỹ khoa học kinh tế, Trường Đại học
kinh tế Quốc dân, Hà Nội “Những phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm
phát triển sản phẩm truyền hình cho phù hợp với cung cầu về truyền hình ở
Việt Nam hiện nay” (1996). Luận án phân tích thực trạng chất lượng các sản
phẩm truyền hình và chỉ ra các yếu tố tác động làm cho sản phẩm của ngành
truyền hình Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khán giả.
Tuy luận án không đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của Đài
Truyền hình Việt Nam, nhưng những lý giải về nguyên nhân và một số đề
xuất về mô hình, lộ trình, phương pháp hợp tác giữa các đài truyền hình với
các đối tác trong việc xã hội hóa truyền hình.
- Đinh Phong“Buổi phát hình đầu tiên của Đài Truyền hình Giải
phóng”(1996), tác giả nguyên là Phó Giám đốc Đài Truyền hình TPHCM.
Bài viết trên trang Người lao động điện tử đã kể lại quá trình tiếp quản, khắc

và phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam. Kỷ yếu cung cấp tư liệu, số liệu
về các kênh sóng, giờ phát sóng và những hoạt động của Đài qua 35 năm hình
thành và phát triển. Tuy nhiên, kỷ yếu còn khái lược theo dạng biên niên và
thiếu tính hệ thống, thiếu những luận giải và chưa đưa ra được những nhận
xét, đánh giá có sức thuyết phục. Mặc dù vậy, công trình này cũng cung cấp
nhiều tư liệu quan trọng mà tác giả có thể kế thừa.
- TS Lê Thanh Bình (2005), “Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa
xã hội”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội 2005, sách nghiên cứu đề cập đến
Đài Truyền hình Việt Nam trong nền kinh tế thị trường. Tác giả đã có những
phân tích, lý giải về sự phát triển của truyền hình dưới góc nhìn lịch sử phát
triển báo chí Việt Nam. Dưới góc nhìn này, tác giả đã tóm tắt khái quát một
số chuyên mục ban đầu của các thể loại báo chí, trong đó có Đài Truyền hình
Việt Nam và đánh giá những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đối với
ngành truyền hình. Tuy có những phân tích, lý giải về Đài Truyền hình Việt
Nam, nhưng cuốn sách mới chỉ dừng lại ở khía cạnh truyền hình trong mối


15
tương quan với kinh tế và văn hóa xã hội, chưa đề cập đến quá trình hình
thành và phát triển của Đài từ năm 1970 đến năm 2010.
- Nhật An (2006), “Phát thanh truyền hình”, Nxb Trẻ và Công ty Cổ
phần Tinh Văn phối hợp xuất bản năm 2006. Cuốn sách cung cấp những
thông tin về ngành phát thanh, truyền hình trên thế giới và Việt Nam, cơ cấu
tổ chức của Truyền hình Việt Nam.
- Trần Tiến Duẩn (Biên soạn), “Nghề báo - nghề nguy hiểm”, Nxb
Thông tấn, Hà Nội 2006, cung cấp nhiều tư liệu về hoạt động của nhà báo
trong và ngoài nước. Cuốn sách đề cập tới con đường tác nghiệp của các nhà
báo luôn gặp nhiều chông gai, hiểm nguy, trong đó có một phần liên quan đến
đề tài này là thông tin về số lượng phóng viên chiến trường, trong đó có
phóng viên truyền hình tác nghiệp trong cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ

niệm 40 năm ngày phát sóng chương trình đầu tiên của Đài Truyền hình
Việt Nam ngày mùng 7.9.1970, hội tụ gần 100 tác giả của các thế hệ làm
truyền hình kế tiếp nhau từ năm 1970 đến năm 2010. Ấn phẩm chứa đựng
nhiều tư liệu quý được các thế hệ của Đài viết dưới dạng hồi ức, kể lại,
trong đó dành một phần giới thiệu các bài nói, bài viết của một số đồng chí
lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ về Đài Truyền hình Việt Nam
nói riêng và ngành truyền hình nói chung, đây là tài liệu tham khảo có giá
trị đối với luận án.
- Anh Trinh “Ngày 30.4.1975 ở Đài Truyền hình Sài Gòn giải phóng”,
trên trang điện tử congluan.vn. Bài viết phân tích những sự kiện có liên quan
tới công tác tiếp quản Đài Truyền hình trong giờ phút lịch sử, nhưng chủ yếu
nói về những ký ức và hồi tưởng của tác giả về ngày đầu tiên tiếp quản Đài
phát thanh và Đài truyền hình của chế độ cũ.
- Đào Duy Quát (chủ biên) (2010), “Tổng quan lịch sử báo chí cách
mạng Việt Nam (1925- 2010)”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010. Tác
phẩm khái quát sự hình thành và quá trình phát triển của báo chí cách mạng


17
qua các giai đoạn 1925-1945, 1945-1954, 1954-1975, 1975-2000, 2000-2010,
đề cập đến vấn đề đổi mới báo chí. Sách cung cấp nhiều số liệu về báo chí,
quá trình đổi mới báo chí kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986),
trong đó đề cập đến quá trình ra đời của Đài Truyền hình Việt Nam nhưng hết
sức vắn tắt, không chuyên sâu.
- Bùi Chí Trung (2011), Luận án tiến sỹ Báo chí, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn “Nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình từ
góc độ kinh tế học truyền thông”. Tác giả đã đề cập đến một phần chặng
đường phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam, nhưng chủ yếu là đưa ra
khái niệm và phân tích, đánh giá về kinh tế học truyền thông và kinh tế truyền
hình ở Việt Nam.

xu hướng xã hội hóa truyền hình trong bối cảnh bùng nổ các phương tiện
truyền thông đại chúng ở Việt Nam.
- PGS.TS Dương Xuân Sơn (2013),“Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới
từ năm 1986 đến nay”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2013. Cuốn
sách chuyên khảo đề cập đến báo chí thời kỳ đổi mới đất nước và ảnh hưởng
của thực tiễn đối với báo chí, trong đó có truyền hình Việt Nam. Tuy nhiên,
sách mới chỉ đề cập đến vấn đề xã hội hóa truyền hình và vấn đề kinh tế
truyền hình trong thời đại bùng nổ thông tin.
- Đài Truyền hình Việt Nam (2015),“45 năm Đài Truyền hình Việt
Nam”, sách ảnh kỷ niệm 45 năm Đài phát sóng chương trình truyền hình đầu
tiên (7.9.1970 – 7.9.2015), sách đã tập hợp rất nhiều ảnh nhằm mục đích lưu
giữ những dấu ấn qua chặng đường hình thành và phát triển của Đài. Mặc dù
sách chưa đăng tải đầy đủ những bức ảnh của các đơn vị, sự kiện, con người
tiêu biểu trong các chặng đường đã qua, nhưng đây là những bức ảnh chính
thống của Đài có thể sử dụng trong luận án.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Trong một số sách của các tác giả nước ngoài, đề cập rất nhiều đến lĩnh
vực truyền hình, đặc biệt là truyền hình ở các nước phương Tây. Tuy nhiên,


19
cho tới nay chưa có công trình nào đề cập cụ thể về Đài Truyền hình Việt
Nam. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chủ yếu đề cập
đến nhiều khía cạnh của nghề làm truyền hình, những tác động của truyền
hình đối với cuộc sống, hoặc đề cập đến ảnh hưởng và tác động đối với cuộc
chiến tranh ở Việt Nam. Có thể kể đến một số công trình như:
- Hai cuốn sách về lịch sử ngành điện ảnh thế giới trong đó có nội dung
lịch sử ngành Truyền hình:“Lịch sử điện ảnh thế giới, Tập 1,2,3”, của tác giả I.
Tephimlis, Nxb Văn hóa, 1983 và “Lịch sử điện ảnh thế giới”, Giooc Xadun,
Nxb Ngoại văn và Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, 1988.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status