Truyện ngắn ma văn kháng thời kỳ đổi mới nhìn từ góc độ văn hóa - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
............................................

LÊ VĂN KHẢI

TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG THỜI KÌ ĐỔI
MỚI

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
.......................................................

LÊ VĂN KHẢI

TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG THỜI KÌ ĐỔI
MỚI

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ

Chuyên ngành : VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ VĂN ĐỨC

Nội dung
Chương 1: Con người trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa
1.1.Con người trong văn học thời kỳ đổimới.

7
7

1.2 Con người trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa.
1.2.1. Con người từ góc nhìn văn hóa ứngxử.

8
9

1.2.2. Con người từ góc nhìn văn hóa tính dục

20

1.2.3. Con người từ góc nhìn văn hoá tâm linh

28

1.2.4. Con người từ góc nhìn bi kịch

31

Chương 2: Thiên nhiên trong truyện ngắn ma văn kháng
thời kì đổi mới từ góc nhìn văn hoá
2.1. Văn hoá vùng trong cái nhìn thiên nhiên

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Diện mạo của một nền văn học dân tộc trước hết là sự góp mặt của những tên
tuổi lớn. Trong văn học đương đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là một nhà văn có
vai trò không nhỏ trong hành trình đổi mới tư duy nghệ thuật.
Sự nổi tiếng của ông là một điều không phải bàn cãi. Gần 50 năm hoạt động
sáng tạo chi chút như con ong làm mật, từ truyện ngắn đầu tiên đến nay ông đã
có một vốn liếng khá lớn về tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó có những tác
phẩm đóng dấu trong lòng bạn đọc .
Có thể nói, dù viết truyện ngắn từ những năm 1960 nhưng phải đến
những năm tám mươi của thế kỉ trước, Ma Văn Kháng mới thật sự thành công
về sáng tác truyện ngắn, đặc biệt là từ sau năm 1986.
Phố cụt là tác phẩm mở đầu cho nghiệp viết truyện ngắn của ông.Truyện
ngắn này được in trên trang nhất của Tuần báo văn nghệ 1961.Đây là tác phẩm
có cốt truyện đơn giản, khám phá những cuộc đời lao động mới bằng những
trang văn trong sáng, nóng hổi hơi thở cuộc sống.Từ đó ông trưởng thành dần
và liên tiếp gặt hái thành công trong thể loại này. Ông đoạt giải cao nhất cuộc
thi truyện ngắn 1967 – 1968 của Tuần báo văn nghệ. Sau đó, ông cho ra đời liên
tiếp 5 tập truyện ngắn từ 1969 đến 1972. Từ 1986, truyện ngắn Ma Văn Kháng
bứt phá, sung sức, nở rộ. Đề tài và chủ đề mở rộng.Tư duy đa chiều về cuộc
sống và con người. Đến nay ông đã có 17 tập truyện ngắn, 10 tiểu thuyết, 3
truyện nhi đồng. Ông tiếp tục đoạt giải thưởng cho tác phẩm Xa phủ (trước
1986), Cây bút vàng cho truyện ngắn San Cha Chải trong cuộc thi truyện ngắn
và kí 1996 – 1998 do Bộ công an và hội nhà văn tổ chức. Tập truyện Trăng soi
sân nhỏ (1994) được giải thưởng hội đồng văn xuôi hội nhà văn 1995 và năm
1998 giải thưởng văn học Đông Nam Á. Năm 2001 ông nhận giải thưởng nhà

1



Như trên đã nói, sáng tác của ông đa dạng ở thể tài và nhất là những tập
truyện ngắn ngày càng gây tiếng vang từ sau 1986.
Lịch sử nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng đã đặt ra từ rất sớm.
Năm 1961 truyện ngắn Phố cụt được in báo, gần hai năm sau trong một cuộc
họp ở viện văn học, phó viện trưởng Nguyễn Minh Tân đã nói: “ Cây bút trẻ
Ma Văn Kháng in nhiều truyện ở các báo được giới văn học và bạn đọc chú ý”(
theo An ninh thế giới, ngày 26/9/2007)
Đầu những năm 70, các cây bút phê bình nghiên cứu tập trung bàn về tập
truyện Xa Phủ của Ma Văn Kháng, tác phẩm viết về cuộc sống và con người
miền Tây, theo các nhà phê bình thì Xa Phủ vẫn là cảm hứng sử thi của văn học
lúc bấy giờ, dạng truyện vừa trữ tình vừa có cốt truyện…
Từ sau 1986 đến nay Ma Văn Kháng liên tiếp cho ra mắt những tập truyện
ngắn gây tiếng vang rộng rãi: Ngày đẹp trời (1986), Vệ sĩ Quan Châu (1988),
Trái chín mùa thu (1988), Heo may gió lộng (1992), Trăng soi sân nhỏ (1994),
Ngoại thành (1996), Vòng quay cổ điển (1997), Ngày hội phố phường (2004),
Đầm sen (2006), Trốn nợ (2008)…Những người quan tâm đến truyện của Ma
Văn Kháng đều phát hiện ra đó là những trang văn triết luận đời sống hết sức
nhất quán. Triết luận của Ma Văn Kháng là lấy tính người, tình người và sự
hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con người và cuộc đời. Những
truyện hay nhất của Ma Văn kháng là nói về dòng đời, mạch sống.
Các tập truyện trên đây của Ma Văn Kháng đã được phê bình trên các
trang báo, các bài tham luận cũng như các công trình nghiên cứu. Phê bình về
tập truyện Ngày đẹp trời, tác giả Bùi Việt Thắng phát hiện ra tính chất dự báo
những vấn đề cốt yếu của cuộc sống, khai thác những chuyện đời thường.
Tác giả Nguyễn Đăng Hiệp nhận xét về Đầm sen là đời thường, đầy ắp
hơi thở của sự sống, nhân vật phụ nữ đời hơn cả.

3



chuyển đổi từ cách viết tư duy sử thi sang đời tư thế sự với những vấn đề nổi
cộm về dòng đời, mạch sống, về luân lí đạo đức và giá trị con người trong vòng
quay cổ điển của cuộc sống hiện đại.
Những năm gần đây xuất hiện một số đề tài Khoa học ngữ văn nghiên cứu
về Ma Văn Kháng như: Thi pháp truyện ngắn Ma Văn kháng ( luận văn thạc sĩ
của Nguyễn Tiến Lịch), Nghệ thuật tự sự trong sáng tác Ma Văn Kháng ( luận
án của nghiên cứu sinh Đỗ Phương Thảo)…Đây là những công trình khoa học
có giá trị, dù mới chỉ dừng lại ở nghệ thuật sáng tác của Ma Văn Kháng nhưng
sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi tiếp cận truyện ngắn của Ma Văn
Kháng trong luận văn này.
Chúng tôi chọn vấn đề: Truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kì đổi mới từ góc
nhìn văn hoá là một cách tiếp cận mới mẻ, toàn diện. Không xuất phát từ quan
điểm xã hội học đơn giản, cũng không xuất phát từ quan điểm nghệ thuật thuần
tuý của nhà văn, công trình luận văn này muốn đạt tới một hiệu quả từ góc nhìn
văn hoá để tìm hiểu, phát hiện và khẳng định chiều sâu giá trị những truyện
ngắn Ma Văn Kháng trong một thời kì biến động .
3. Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chủ yếu lấy truyện ngắn Ma Văn Kháng
từ sau 1986 để làm đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong đó sẽ giải quyết vấn
đề lớn sau đây:
Thiên nhiên, con người và nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
thời kì đổi mới được thể hiện từ chiều sâu kiến thức, vốn sống, tài năng của Ma
Văn Kháng( tầm vóc văn hoá của nhà văn).Ba vấn đề này sẽ được soi chiếu từ
các góc nhìn văn hoá chứ không phải phân tích thi pháp thông thường.
Với hàng chục tập truyện ngắn thời kì đổi mới của Ma Văn Kháng, chúng
tôi chỉ chọn những truyện hay tiêu biểu trong các tập :Heo May gió lộng, Đầm
sen, Ngày hội phố phường, Trăng soi sân nhỏ, Vòng quay cổ điển, Trốn nợ, và
5



Chương 3: Nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ góc nhìn văn hoá.

7


PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

1.1. Con người trong văn học thời kỳ đổi mới.
1.1.1. Thay đổi về nhận thức, tư duy.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân
tộc, đồng thời cũng đưa tới một chặng đường mới của văn học Việt Nam. Tuy
nhiên, văn học thời kỳ đổi mới được xác định từ 1986 đến nay, gắn liền với
mốc lịch sử Đại hội VI của Đảng. Trong đại hội này đã xác định đường lối đổi
mới toàn diện, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước vượt qua thời kỳ khủng
hoảng, bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Khi văn hóa xã hội có những
biến động, nó sẽ tạo ra những chuyển đổi sâu sắc, mạnh mẽ trong quan niệm
sống, cách nhìn nhận cuộc sống của mỗi người, đặc biệt là trong sáng tạo nghệ
thuật - văn học thời kỳ này ở trong trạng thái chuyển động dữ dội của một cuộc
trở dạ. Trước hết là “trở dạ” về nhận thức. Các nhà văn có nhu cầu nhận thức lại
thực tại xã hội, nhìn thẳng vào sự thật, quan tâm tới đời sống ngổn ngang, bề
bộn của thì hiện tại. Nhận thức, quan niệm của nhà văn về hiện thực cũng được
mở rộng hơn. Hiện thực không chỉ là những biến cố lịch sử và đời sống cộng
đồng mà đó còn là cái hằng ngày với những quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan,
phức tạp. Hiện thực, đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những
vấn đề riêng tư, thầm kín nhất. Cũng trong không khí đó, một tư duy nghệ thuật
mới đã hình thành. Văn học chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu

khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là
điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội. Và cũng vì được soi
chiếu từ nhiều góc độ khác nhau nên con người trong văn học thời kỳ đổi mới
hiện ra đời hơn, thật hơn, toàn diện hơn nhiều so với trước đó. Đúng như GS
Trần Đình Sử đã nói :“Sự đổi mới và đa dạng của văn học trước hết là đổi mới
và đa dạng trong quan niệm nghệ thuật về con người”[42 ].
9


1.2. Con người trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới từ góc
nhìn văn hóa.
Ma Văn Kháng là cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học thời kỳ đổi
mới. Đặc biệt, truyện ngắn thời kỳ đổi mới của ông thể hiện một cái nhìn toàn
diện, thấu đáo và tri ân đối với con người. Bằng giọng điệu vừa thâm trầm, sâu
sắc, vừa trào lộng hài hước, vừa chua chát, cay nghiệt lại vừa mượt mà, nhẩn
nha, Ma Văn Kháng đã say sưa kể với chúng ta về những mảnh đời, những số
phận người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa thời đại họ sống. Từ góc nhìn
văn hóa, con người trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới hiện lên
thật đa diện.
1.2.1. Con người từ góc nhìn văn hóa ứng xử.
Trong dòng chảy của lịch sử, mỗi cộng đồng dân tộc đã sáng tạo cho
mình một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa của cộng đồng được lưu giữ từ đời này
qua đời khác. Văn học là một thành tố của văn hóa. Nó là sự tự ý thức văn hóa
của mỗi dân tộc. Các biến động của lịch sử, xã hội, tư tưởng, quan niệm mới
của thời đại… luôn tác động, chi phối cá tính sáng tạo của nhà văn. Trên tinh
thần đổi mới tư tưởng, đổi mới tư duy, văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới và
giao lưu, hội nhập đã in dấu ấn sâu đậm trong cách ứng xử của con người.Văn
hoá đổi mới tác động đến văn học. Hay nói như PGS.TS Đoàn Đức Phương:
“Hình tượng con người trong văn học mang những phẩm chất gắn với một nền
văn hoá nhất định”[41 ;tr 30].

thợ khóa đã khuất của họ” [16 ;Tr 282]. Người vợ cả dãi dầu khổ ải nhưng tấm
lòng thảo thơm. Trong sâu thẳm con người chị là bản năng bảo tồn cái quan hệ
máu mủ ruột rà thiêng liêng, là tình yêu sâu sắc, tẩm hương phụng thờ. Chính
tình yêu đã hàn gắn đau thương, xóa bỏ hận thù, khiến hai người đàn bà có thể
xích lại gần nhau hơn. Nếp trong Thư từ quê ra khi biết chồng mình đã yêu một
người con gái khác thì không vội ghen tuông mà tìm cách hiểu kỹ về người con
11


gái ấy. Chị biết rằng Nhung đến với Đương bằng một tình yêu chân thành.
Trước tình cảm bị sẻ chia, chị không chỉ nghĩ đến nỗi xót xa, tủi phận cho mình,
mà còn nghĩ đến chồng mình nửa đời chinh chiến, đến già mà vẫn còn cô độc.
Chị lấy tình nghĩa để lý giải và giải quyết vấn đề. Bức thư gửi từ quê ra tràn đầy
nước mắt và nỗi xót đau, nhưng mang sức nặng của lòng vị tha. Chính cách cư
xử ấy khiến Đương và Nhung càng phải suy nghĩ để điều chỉnh lại hành vi của
mình. Trong Trái chín mùa thu, ông Thụy, cô Bừng đều là những con người có
số phận éo le. Người thì vợ mất, người thì chồng hy sinh. Hai mảnh đời vụn vỡ
đã ghép lại thành đôi bằng chính sự đồng cảm, sẻ chia đầy thiêng liêng, cao
thượng. Nhưng tình nghĩa quá khứ vẫn chưa thể phôi phai, chưa thể nằm yên
trong ngăn kéo vô tình. Họ đã chia tay nhau sau một đêm Bừng nhìn ảnh mẹ
Luyến, khóc thương mẹ Luyến và thương người chồng đã hi sinh của mình.
Nhiều nhân vật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng luôn ứng xử với
đời, với người bằng cái phông văn hóa và kinh nghiệm dày dặn của mình. Qua
cách hành xử của họ, ta thấy được họ thật sự là những người “xứng tầm”. Ông
Bằng trong Chuyến tuần tra cuối cùng đã vào tuổi hưu trí. Chính ở cái tuổi tri
thiên mệnh này, ông lại hay mủi lòng, tài năng dự đoán phát triển đến độ thăng
hoa nhờ linh ứng tài tình kết hợp nhuần nhuyễn với sự trải nghiệm. Chuyến
tuần tra cuối cùng như chính ông linh cảm, đã diễn ra không hoàn toàn thuận
lợi. Chẳng phải vì ông không bắt được tên cướp xe máy, mà vì tội phạm hiện
diện trước ông là một khuôn mặt non bấy, một gương mặt học trò, một gương

dù rất yêu quý con chim, đã thả nó về với bát ngát trời xanh. Hành động ấy thể
hiện vẻ đẹp của một con người còn chưa vong thân xa cách cội nguồn. Đó là sự
hòa hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên mà sống. Cách ứng xử của đứa trẻ
nhận được sự đồng tình của ông nó. Bởi “nó đã hiểu, đã ngộ ra một điều hệ
trọng bằng trực cảm hồn nhiên của tuổi thiếu niên vô tư. Nó không cầm lòng

13


được khi thấy con chim gáy phải sống trong tình cảnh ngục tù. Sự sung sướng,
vui vẻ của ta rất không nên có trên nỗi đau tủi của kẻ khác” [27 ; tr 16].
Trong quan niệm của Ma Văn Kháng, cái đẹp trước hết là cái thiện, tính
thiện là cội nguồn của mọi cái đẹp. Quan niệm này hoàn toàn khác biệt với
Nguyễn Tuân. Trong Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân say sưa ca ngợi một
tên đao phủ, bởi hắn có một lối chém treo ngành rất ngọt. Ông nhìn con người
thuần túy từ phương diện thẩm mĩ chứ không soi chiếu từ góc nhìn đạo đức. Cái
đẹp trong ngòi bút Nguyễn Tuân nhiều khi lại chính là những “ác hoa”. Ma Văn
Kháng đi tìm cái đẹp ở những con người đời thường, trong đời sống bình dị,
hồn nhiên, soi chiếu con người từ góc nhìn truyền thống. Trong không gian núi
rừng, Pao (San Cha Chải) sống nặng tình, nặng nghĩa, thật thà, chất phác, nhân
hậu. Cái đẹp trong một tâm hồn thiện ấy đang chuyển động, tự khôn lớn dần để
trở nên có ích. Năm năm trời kiên trì, bền bỉ với trách nhiệm, Pao qua tuổi hai
mươi từ lúc nào, nhưng anh đã thực sự lớn khôn, thực sự có ích cho đời. Quan
niệm cái thiện là cái đẹp đặc biệt được Ma Văn Kháng thể hiện trong truyện
Giàng Tả, kẻ lang thang, Giàng Tả đẹp, cái đẹp sức vóc, khỏe mạnh và luôn
làm việc thiện. Tính thiện vốn có trong con người đẹp về thể xác đó. Được đặt
trong mối quan hệ với Liphigơ, tên biệt kích, tên xã đội trưởng, tính thiện trong
con người Giàng Tả càng trở nên nổi bật. Nhân vật Giàng Tả là sự đối thoại của
nhà văn về vấn đề tốt – xấu. Giàng Tả tốt hồn nhiên như bản năng hoang sơ
mông muội của anh. Anh giúp kẻ địch mà không biết là mình đang tiếp tay cho

Tình máu mủ ruột thịt bị chối bỏ phũ phàng tàn nhẫn. Trong khi đó, ông trời
cũng còn như biết khóc, đổ mưa rả rích, sụt sùi, tỉ tê. Mưa phụ họa cùng người
chết trong nỗi buồn thê thiết.
Sự suy thoái của tình người, sự xuống dốc của đạo đức, lương tâm còn
được tác giả thể hiện trong truyện ngắn Suối mơ. Nhàn là người đàn bà xấu cả
người cả nết. Gốc gác nông thôn nhưng đua đòi tơ tuốt. Mụ được chồng hết sức
15


cưng chiều, yêu thương. Nhưng đúng là “công anh bắt tép nuôi cò. Cò ăn cò lớn
cò rò lên cây”. Mụ đền đáp lại công ơn ấy bằng cách quay ra rỉa rói, khinh bỉ,
coi thường anh là đồ quê kệch. Rồi mụ đi ngoại tình, để mặc chồng ốm đau sắp
chết. Đó còn là Sấn (Nhiên, nghệ sĩ múa). Mụ bị tạo hóa chơi khăm cho cái hình
hài tiên thiên bất túc, xấu xí lùn tẹt. Mụ ghen ghét những ai hơn mình. Mụ lên
quai xanh vành chảo bới bọn đàn bà con gái xa xẩn đến phòng thường trực gặp
ông Diệc. Mụ cay nghiệt, bĩu mỏ với Nhiên, nghiến răng tuyên bố: “Đừng trêu
mẹ mướp mà xơ có ngày”. Hóa ra, cái xấu, cái ác có thể nảy sinh trong mỗi con
người một cách vô thức từ nhu cầu thiết yếu. Chính Ma Văn Kháng đã từng lý
giải thế này: “Cũng như sự hèn nhát, lòng hảo tâm, tình yêu mến, nỗi đau đời,
niềm căm giận, thói đố kỵ ghen ghét, tính ích kỷ thâm căn, khả năng không thể
yêu thương kẻ khác ngoài mình đều có cái mầm nguyên thủy, đều là nghiệp căn
trong tăm tối, bền dai như sự sống, vì chính chúng đảm bảo cho sự sống an toàn
của mỗi cá thể con người” [26 ; tr 276]. Chiên, Sự (Thầy Khiển) xuất thân là
những kẻ chèo đò, bán cháo lòng, thế mà giờ đây hai anh em đều leo lên được
nấc thang địa vị cao vót trong xã hội. Người làm chủ tịch, kẻ làm trưởng ty giáo
dục. Bình mới nhưng rượu cũ. Những con người mang tướng mạo xấu xí, bần
hàn ấy dù có đội lốt hào nhoáng thế nào vẫn hiện nguyên hình tính cách đê tiện,
lừa lọc, ghen ghét, đố kỵ, hống hách, thích gây sự, hiếu chiến, tìm mọi cách vùi
dập, hãm hại người khác. Cũng vậy, Chiến, thầy Ngọc Kim (Người đánh trống
trường) cũng đều là những con người nhỏ nhen, ti tiện, thấy thầy Huân hơn

siêu đẳng. Hắn bạo liệt, tàn nhẫn, u mê, không ý thức được hành động của
mình. Khi được hỏi tại sao lại thích giết người, lại trung thành với lão Quan
Châu, thì hắn lờ mờ nhớ rằng chỉ vì một bữa tiệc mười một món mà hắn được
cho ăn khi đang đói. Khi còn là một đứa trẻ, Khun đã tàn bạo. Nhưng khi rơi
vào tay của Quan Châu, bản năng tàn ác ấy được nhân lên gấp bội. Khun “là sự
hồi tổ, là sự lộn giống, là cái bản tính tàn bạo của đời sống rừng rú, là cái hoang
17


sơ của buổi khai thiên” [26 ; tr 34). Những con người như Khun, Sùng Sử vừa
đáng thương vừa đáng giận. Thương cho sự hoang sơ mông muội và giận thay
cho sự tàn bạo, man rợ. Ma Văn Kháng tỏ ra xót xa, nhức nhối trước sự thực cái
ác như ăn vào máu thịt của những con người sống phần nhiều dựa vào cảm tính
tự nhiên này.
1.2.1.3. Cái cao cả và cái tầm thường.
Đi tìm cảm hứng ở cuộc sống đời thường, gắn với những con người bình
dị, Ma Văn Kháng không chỉ phát hiện ra cái đẹp, cái thiện hay cái xấu, cái ác
trong văn hóa ứng xử của họ mà còn nhận thấy những cái bé nhỏ, vặt vãnh, gai
góc, tầm thường diễn ra ngày ngày trong không gian nhỏ bé, riêng tư là gia
đình. Chỗ này là cuộc xô xát giữa mẹ chồng và nàng dâu (Bồ nông ở biển, Phép
lạ thường ngày), chỗ kia là sự xích mích giữa chị dâu và em chồng (Heo may
gió lộng), nơi nọ là những rạn vỡ khó có thể hàn gắn giữa chị em gái (Chị em
gái)…. Những ngày được nạm vàng của gia đình Đoan cũng như của chị Thảo
(Heo may gió lộng) đã qua đi cùng với hình ảnh ngọn gió heo may lồng lộng và
khoảng trời cuối thu tràn trề làn sáng phản quang niềm vui mùa màng. Mùa heo
may năm nay, đến hẹn lại lên, chị Thảo tay xách nách mang đồ quê kiểng lên
thành phố thăm gia đình người em ruột. Sau hai năm không gặp, hiện diện trước
Đoan bây giờ không còn là người chị gái tươi đẹp, óng ả năm xưa mà là một bà
lão quê mùa còm cõi, mệt mỏi và bất an, chứng tỏ một đời sống lao lực quá
mức và triền miên trong cắn rứt, dày vò. Vợ Đoan một người cần kiệm, tính

với Hoàn, một tên tợn tạo, đàng điếm. Mâu thuẫn đã xảy ra khi Ái phát hiện ra
chị mình đã lén lút quan hệ với người yêu của mình. Ái đã xách va li ra đi,
chấm dứt mối liên minh tự nhiên tưởng như không bao giờ có thể đoản mạch
ấy.
Bên cạnh cái bé nhỏ, vặt vãnh, gai góc, tầm thường, Ma Văn Kháng còn
phát hiện ra sự ấm áp, bình dị, cao cả của con người từ góc nhìn văn hóa ứng
19


xử. Trước sự ra đi vĩnh viễn của chồng mình, người vợ trong Giải nguyền đã
nhìn nhận lại, bao dung hơn về dì Thương - người đàn bà vô tình đã lạc vào
cuộc đời người đã mất và phá tan hạnh phúc gia đình họ. Từ chỗ đối đầu, giờ đã
có thể đối thoại, từ chỗ thề độc sẽ băm vằm mổ xẻ người đàn bà hư hỏng, giờ
đã bước qua lời nguyền. Phải chăng mọi lý sự đều trở nên vô nghĩa thảm hại
trước tình thương yêu. “Tình cảnh bỗng dưng đã kéo hai người phụ nữ vào
chung một thân phận. Cả hai đều cảm thấy mình quá ư nhỏ bé, khốn khổ, trước
cái khoảng hư vô mất mát” [18 ; tr 250]. Vợ người quá cố đã sai con đi cùng dì
Thương về quê dì xem hoàn cảnh thế nào, tính đến chuyện mời dì lên ở cùng
với gia đình cho đỡ buồn. Cách cư xử hợp tình hợp lý ấy khiến người ta cảm
thấy ấm lòng, và cũng công tâm, công bằng hơn với dì Thương. Hay trong Heo
may gió lộng, đối lập với người mẹ luôn chì chiết, cay nghiệt bác mình, Thúy
lại luôn vỗ về, săn sóc. Thúy giữ vai trò cân bằng, san phẳng. Không một lời
phàn nàn, không một cử chỉ sơ suất, cần mẫn và tràn đầy tinh thần trách nhiệm.
Thúy đóng trọn vẹn vai cô hộ lý, người cấp dưỡng, người cháu gái tận tình với
bác gái. Trước mọi điều chì chiết của mẹ, nó chỉ đọc một câu bác bỏ rất ngây
thơ, vững tin và không sao bắt bẻ được: đâu mà. Chính sự hồn nhiên và tình
cảm chân thành của con người nơi đầu nguồn nhân cách đã phần nào sưởi ấm
tâm hồn cô đơn, đau khổ của người bác gái. Vượt lên trên những thói đời phàm
tục, những hơn thua, ngộ nhận, thị phi, một số nhân vật trong truyện ngắn Ma
Văn Kháng đã biết sống đẹp và thật sự cao cả trong ứng xử của mình. Đó là

1.2.2. Con người từ góc nhìn văn hóa tính dục.
Rất nhiều truyện ngắn của Ma Văn Kháng đề cập tới vấn đề tính dục của
con người. Đây là một sự dũng cảm của chính người cầm bút. Bởi vì lâu nay, đề
tài này được coi là ngoài vùng phủ sóng, là “miền đất chết” của văn học. Ma
Văn Kháng không những dám đề cập mà còn đề cập một cách có hệ thống,
bằng cảm hứng trào lộng nghiêm trang trước vẻ đẹp của cuộc đời sinh hóa hồn
21


nhiên. Có thể nói “Ở ta, Ma Văn Kháng là nhà văn đầu tiên viết được những
truyện ngắn khoái hoạt và hả hê nhất về lòng ái dục của con người” [37 ; tr 20).
Nhà văn nhìn nhận dục vọng như một thuộc tính cố hữu của con người. Nó có
thể nàng đỡ con người lên tầm cao hay hạ thấp con người, hủy diệt sự sống.
Cách nhìn nhận và tiếp cận như vậy là khá mới mẻ và cởi mở, phản ánh sự tự
do, dân chủ của thời đại và độ tinh nhạy của ngòi bút nhà văn.
1.2.2.1. Những người đàn ông và khả năng tính dục.
Bàn tới vấn đề tính dục, từ xưa đến nay, sự chủ động bao giờ cũng thuộc
về những người đàn ông. Ma Văn Kháng tập trung thể hiện sự sung sức và
cường tráng của họ trong lĩnh vực này. Hơn ai hết, nhà văn là người nhạy cảm
với nhu cầu tự nhiên, tất yếu ấy của một nửa thế giới. Tuy vậy, ông không miêu
tả mặt sinh vật của nó mà coi đó là vấn đề cần được cộng đồng chấp nhận, nó là
một phần của cuộc sống con người. Anh Thiều (Anh thợ chữa khóa) rời quê lên
thành thị kiếm sống để thỏa chí tự do, bay nhảy. Và anh thợ chữa khóa tài hoa
ấy đã “dang tay mở khóa động đào. Vạch mây cho tỏ lối vào thiên thai”. Anh
sống với Thoa, một người phụ nữ lỡ thì cô đơn. Nếu xét từ quan điểm đạo đức
thì đó là điều không thể chấp nhận được, vì anh đã có vợ con ở quê nhà. Nhưng
nếu xét từ lý lẽ trái tim, đó lại là điều rất đáng cảm thông. Chính tác giả đã minh
oan, chiêu tuyết cho anh như thế này: “Thôi thì các nhà đạo đức hãy đại xá cho
anh. Anh cũng như tôi, như mọi đấng bậc từ xưa đến nay đều hay mủi lòng, đều
thích sự chiều chuộng, vuốt ve, gần gũi đều khoái những khoảng đời ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status