ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------- ---------
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN: TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG
CHỦ ĐỀ: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
Hà Nội, tháng 3/2012
[Type text]
1
Từ xưa đến nay, người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong tiến
trình lịch sử phát triển của nhân loại. Quan điểm coi trọng vai trò, vị trí của
người phụ nữ trong xã hội lâu dần tiếp biến với các yếu tố văn hóa khác trở
thành một hình thức tín ngưỡng trong dân gian là Đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ
Mẫu. Không biết từ bao giờ, tục thờ Mẫu đã trở thành một nét văn hóa của
người Việt. Cùng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, Phật…
thì tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại với một vị trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
đời sống tín ngưỡng Việt Nam. Qua tín ngưỡng thờ Mẫu truyền thống, bóng
dáng của lịch sử cũng như đời sống tinh thần văn hóa và cốt cách của người Việt
Nam hiện lên thật rõ nét.
1. Khởi nguồn của tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong tác phẩm “Tìm hiểu văn hóa dân tộc”, PGS. TS Đặng Việt Bích có
viết: “Truyền thống thờ Nữ thần có thể coi như hằng số văn hóa của người
Việt”. Có thể thấy rằng, tục thờ Nữ thần của người Việt đã xuất hiện từ rất lâu
đời và phát triển trong trường kỳ lịch sử trên cơ sở truyền thống coi trọng vai trò
người phụ nữ nói chung, bà mẹ nói riêng trong gia đình và xã hội của người Việt
Nam. Tục thờ Nữ thần có nguồn gốc sâu xa trong đời sống kinh tế và xã hội.
ba phủ trên, có thêm Địa phủ – miền đất đai. Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là
Mẫu Đệ Nhất) – cai quản miền trời, Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu Đệ Nhị)
– cai quản miền rừng núi, Mẫu Thủy (gọi chệch là Mẫu Thoải – còn gọi là Mẫu
Đệ Tam) – cai quản miền sông nước. Mẫu Thượng Thiên trong quan niệm của
Tứ pháp gồm có: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi – Đó là bốn vị nữ
thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp, liên quan tới văn hóa nông nghiệp lúa nước.
Mẫu Thượng Ngàn gắn bó với con người cùng cỏ cây, chim thú… Mẫu Thoải
gắn với đời sống thủy sinh của dân tộc Việt từ xa xưa, liên quan trực tiếp tới
thủy tổ dân tộc Việt trong buổi đầu dựng nước. Về sau này người Việt lại sáng
tạo thêm Mẫu Địa Phủ – cai quản đất đai, hình thành nên hệ thống Tứ phủ.
[Type text]
3
2. Sự ra đời của Đạo Mẫu
Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ, với sự ra đời
của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai đã được hình thành –
đó là Đạo Mẫu. Có nhiều sự truyền thuyết thần tích về bà chúa Liễu Hạnh, trong
đó nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là người chép sự tích về bà sớm nhất, trong sách
“Truyền kỳ tân phả”:
Tại làng An Thái, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản) có
ông Lê Thái Công hiền lành phúc đức, thường ngày đêm đốt hương thờ phụng
Trời Phật. Năm Thiên Hựu, đời vua Lê Anh Tông (1557), vợ ông Lê Thái Công
hoài thai, quá 9 tháng 10 ngày thì mắc bệnh, chữa mãi không khỏi, cũng chưa
sinh con được. Có đạo sĩ đến giúp ông Lê Thái Công nằm mộng, ông được lên
thiên đình.Tại đây ông chứng kiến cảnh Đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Nương phạm
lỗi (đánh vỡ chén ngọc) phải đầy xuống trần gian.
Khi tỉnh dậy, vợ ông vừa sinh được một nhi nữ. Đêm ấy có hương lạ thơm
phóng, ý thức tự do và lòng nhân đạo của phụ nữ. Ngoài ra, sự xuất hiện và phát
triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh từ thập kỷ 70 của thế kỷ XVI cũng
phản ánh một thực tế lịch sử: Đó là sự chống đối lại những hệ tư tưởng và tôn
giáo ngoại lai của truyền thống tín ngưỡng bản địa: Khổng giáo đến từ Trung
Hoa khẳng định nam quyền, phụ quyền, vương quyền và Công giáo đến từ Tây
Âu.
Sơn Nam Hạ – cụ thể là vùng Phủ Giầy, Vụ Bản là nơi giáng sinh và cũng
là nơi hóa của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được coi là cái nôi phát sinh Đạo Mẫu bởi
lẽ nơi đây hội tụ rất nhiều yếu tố thuận lợi. Phủ Giầy nằm không xa biển, chính
sự ra đời của Đạo Mẫu là sự phản ứng quyết liệt nhất chống lại cuộc đổ bộ của
Công giáo vào duyên hải Sơn Nam Hạ. Nếu như người Công giáo có Đức Mẹ
Maria của họ, thì người Việt cũng có Mẫu của mình. Tại đây có đủ núi non (núi
Gôi – Côi Sơn), rừng rậm, thuận lợi cho sự hình thành đạo Tứ phủ với đầy đủ
Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ. Có thể kể đến một yếu tố khác đó là
vùng Sơn Nam Hạ vào thời nhà Mạc và thời Lê Trung Hưng khá phát triển về
[Type text]
5
thương mại. Theo đó sự xuất hiện của tín ngưỡng thờ Liễu Hạnh phù hợp với
tâm lý của kẻ đi buôn, đặc biệt là nữ giới hành nghề buôn bán.
3. Hệ thống thần linh trong Đạo Mẫu
So với tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu, Đạo Mẫu đã có bước phát triển.
Đạo Mẫu đã bước đầu có một hệ thống điện thần có lớp lang tương đối nhất
quán gồm:
Ngọc hoàng
Tam tòa thánh mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải,
Địa Tiên Thánh Mẫu).
đặt ra cách vận hành của bầu trời. Điện thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần
linh, nhưng đều quy tụ dưới sự điều khiển của Tam tòa thánh Mẫu. Mẫu Liễu
Hạnh là vị Thánh xuất hiện khá muộn nhưng nhanh chóng trở thành Thần chủ
của Đạo Mẫu và được tôn vinh hơn tất cả các Thánh Mẫu khác.
Hệ thống thần linh của Đạo Mẫu gồm các thiên thần và nhân thần, trong
đó có khá nhiều các nhân vật lịch sử – văn hóa của dân tộc, trong đó đáng chú ý
là nhân vật lịch sử Trần Hưng Đạo. Mặc dù Mẫu là vị thần có quyền năng sáng
tạo tối thượng, nhưng trong điện thần các vị thần linh vẫn chia thành dòng Cha
và dòng Mẹ, các Nam thần và bên kia là các Nữ thần. Điện thờ mang tính chất
gia tộc đã được cung đình hóa. Điều này thể hiện ở cách thức bài trí “Tam tòa”,
“Lục viện” của điện thờ; ở hệ thống xưng hô Vua Cha – Thánh Mẫu, có các
Quan, các Chúa, các Ông Hoàng…; ở trang phục của các linh tượng và của các
vị Thánh khi giáng đồng; ở thần tích của nhiều khá nhiều vị Thánh được gán với
các chức vị hoàng tử, công chúa, quan văn, quan võ…
Không gian thờ Mẫu thường là các đền, phủ, miếu. Ban đầu miếu là cơ sở
tín ngưỡng duy nhất để thờ Mẫu. Nhưng sau này do quá trình hỗn dung, tích hợp
về tín ngưỡng nên miếu không còn là nơi duy nhất thờ Mẫu nữa, mà miếu còn
thờ cả các vị Phật, Thánh… của Phật giáo và Đạo giáo.
[Type text]
7
4. Nghi lễ thờ cúng và lễ hội của Đạo Mẫu
Như vậy, Đạo Mẫu đã có một sự khái quát hóa nhất định về một hệ thống
vũ trụ luận nguyên sơ, đó là một vũ trụ gồm bốn miền, do bốn vị Thánh Mẫu cai
quản. Những nghi lễ của Đạo Mẫu đã bước đầu được chuẩn hóa, trong đó nghi
lễ Lên đồng (hay còn gọi là Hầu bóng) và lễ hội “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba
giỗ Mẹ” là một điển hình.
bởi nó làm mất đi giá trị văn hóa của nghi lễ tôn giáo hầu đồng.
4.2. Lễ hội “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”
Lễ hội giỗ Cha tháng Tám diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 20 đến
28 tháng tám âm lịch. Theo quan niệm dân gian, “Cha” là Vua Cha Bát Hải Đại
Vương và Đức Thánh Trần, với hai nơi thờ tự chính là đền Đồng Bằng (Thái
Bình) và đền Kiếp Bạc (Hải Hưng). Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải Đại
Vương, sau này khi Trần Hưng Đạo mất ngôi đền này cũng thờ Đức Thánh
Trần. Tương truyền vào thời vua Hùng, khi có giặc xâm lăng, vua đã ra chiếu
kêu gọi người hiền tài cứu nước. Một con rắn lớn nhất đã hóa thành người đem
đội quân gồm rắn, thuồng luồng, cá sấu đi đánh giặc. Chiến thắng trở về, ông
được vua phong là Bát Hải Đại Vương và được nhân dân Đào Đồng lập đền thờ.
Thế kỷ XIII, vùng đất này là quê hương của dòng họ nhà Trần, hơn thế nữa còn
là địa bàn hoạt động quân sự chống quân xâm lược Nguyên – Mông của Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lễ hội tháng Tám giỗ Cha ở đền Đồng Bằng và
Kiếp Bạc ngoài việc thực hiện các nghi lễ cúng tế tôn vinh còn tiến hành các
nghi thức rước trên sông, gắn với các vị thủy thần, tái hiện lại chiến công xưa
của Vua Cha Bát Hải Đại Vương và sau này là của Trần Hưng Đạo cùng với ma
thuật để diệt trừ tà ma. Ở đền Đồng Bằng, hát chầu văn là một hình thức diễn
xướng tín ngưỡng – văn hóa độc đáo. Ở đền Kiếp Bạc, các hoạt động đồng
bóng, ma thuật diễn ra rất phổ biến. Đặc biệt, những phụ nữ mắc bệnh vô sinh
hay sinh con nhưng không nuôi được thường đến cầu xin Đức Thánh Trần thoát
khỏi sự quấy ám của tà ma.
Giỗ Mẹ tháng ba diễn ra ở tất cả các ngôi đền thờ Mẫu, trong đó trung tâm
thờ cúng là cụm di tích Phủ Giầy ở xã Kim Thái (trước là An Thái). Hội được
mở vào tháng ba âm lịch hằng năm với mười ngày hội chính từ mồng 1 đến
[Type text]
9
10
phải sáng. Trong cuộc sống thể hiện là người biết ăn ở, biết đối nhân xử thế,
thành tâm thờ phụng ông bà tổ tiên. Cao hơn là ý thức hướng về nguồn cội, lòng
biết ơn chân thành với những người có công với dân, với nước.
Bên cạnh đó, với tín ngưỡng thờ Mẫu, con người dường như được tắm
mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những
giây phút thiêng liêng, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần
cộng đồng. Những lễ hội của Đạo Mẫu, mà đặc biệt là lễ “Tháng Tám giỗ Cha,
tháng Ba giỗ Mẹ” đã vượt ra ngoài phạm vi của một làng, một vùng và phần nào
đó mang quy mô cả nước. Hệ thống hội của Đạo Mẫu có vai trò và vị trí không
hề nhỏ trong hệ thống hội hè của dân tộc Việt Nam, là môi trường sản sinh và
bảo tồn nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Giá trị của Đạo Mẫu còn ở những đóng góp của nó trong các mảng văn
học, diễn xướng và nghệ thuật tạo hình. Trong kho tàng văn học dân gian nước
ta, có một mảng riêng gắn liền với Đạo Mẫu gồm các thần tích, thần phả, các
huyền thoại, truyền thuyết, các bài thơ giáng bút và ứng khẩu, câu đối và văn
bia,… Trong mảng diễn xướng, lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng) đã hội đủ
những đặc tính của một loại hình sân khấu dân gian mang tính tâm linh hay sân
khấu tâm linh, còn hơn cả một hình thức diễn xướng tổng hợp. Về nghệ thuật
tạo hình, có thể thấy các kiến trúc Đền, Phủ thờ Mẫu thường được xây dựng
dưới dạng quần thể. Ở Việt Nam, tranh thờ Mẫu phong phú về đề tài và nghệ
thuật tạo hình, điều dễ nhận biết nhất ở thể loại tranh này là tính nhân dân vừa
giản dị vừa gần gũi lại dễ hiểu.
Trong hệ thống tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam, Đạo Mẫu đã và đang
thâm nhập và có ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác. Đạo Mẫu rất gần
gũi với Đạo Thờ Tiên, thờ Thành Hoàng, tiếp thu những ảnh hưởng của tục thờ
cúng tổ tiên. Đặc biệt, giữa Đạo Phật và Đạo Mẫu có sự thâm nhập, ảnh hưởng,
bổ sung cho nhau khá sâu sắc. Đạo Mẫu lấy Mẫu (Mẹ) làm đấng sáng tạo và bảo
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hữu Vui, Trương Hải Cường, (2003), “Bài 5: Một số tôn giáo
dân tộc. Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam”, Tập bài giảng Tôn giáo học,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Trần Đức Vượng (Chủ biên), (2010), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
3. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), (1996), Đạo Mẫu ở Việt Nam, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
4. Đặng Việt Bích, (2005), “Thờ Mẫu tín ngưỡng truyền thống bản địa Việt
Nam”,Tìm hiểu văn hóa dân tộc, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
5. Vũ Ngọc Khánh, (2002), “Vấn đề nữ thần ở Việt Nam”, Các bình diện
văn hóa Việt Nam: Văn hóa Việt Nam – Những điều học hỏi, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội.
6. www.daomauvietnam.com.vn
[Type text]
13