Hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội. - Pdf 34

Báo cáo thực tập tổng hợp
Chương I
Giới thiệu chung về công ty.
1.Lịch sử hình thành công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội là một doanh nghiệp tư
nhân mới được thành lập từ năm 2000, do vậy đây là một doanh nghiệp trẻ mới đi vào hoạt
động sản xuất kinh doanh. Công ty được thành lập bởi một nhóm thanh niên năng động và
tuổi đời còn trẻ. Cùng với việc đây là một doanh nghiệp trẻ thêm vào đó lại hoạt động trong
lĩnh vực xây lắp điện, một ngành mà nhà nước vẫn còn nắm giữ vị trí độc quyền trong sản
xuất và phân phối điện năng nên các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp còn rất hạn hẹp.
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là xây dựng và lắp đặt các trạm biến áp, các
đường dây tải điện và các công trình điện khác như hệ thống chiếu sáng đô thị, mạng lưới
điện cho các khu chung cư… Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng đi vào kinh doanh các thiết
bị điện. Trải qua bảy năm đi vào hoạt động công ty đã đạt được những thành tựu nhất định.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty.
Trong thời gian thực tập tại công ty và được sắp xếp thực tập tại phòng kinh doanh của
công ty, cùng với sự giới thiệu của người hướng dẫn ở công ty và sự tự tìm hiểu của bản
thân về công ty thì bước đầu em có những hiểu biết sơ bộ về cơ cấu tổ chức của công ty và
chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm.
Hội đồng cổ đông của công ty.
Ban kiểm sát
Ban giám đốc
Phòng nhân sự
Phòng kinh doanh
Phòng sản xuất kỹ thuật
Phòng tài chính kế toán
Kho hàng và vật tư
Cơ cấu tổ chức của công ty.
Sinh viên: Nguyễn mạnh Dũng lớp: Kế hoạch 45A
1

công ty không chỉ hoạt động trong lĩnh vực xây lắp các công trình điện mà công ty còn
2
Báo cáo thực tập tổng hợp
kinh doanh các thiết bị điện nên phòng kinh doanh còn đảm nhiệm chức năng kinh doanh
các sản phẩm ngành điện.
Phòng kế toán tài chính, với chức năng chủ yếu là cân đối các khoản thu chi trong
doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp có được lượng vốn lưu động cần thiết để cho
doanh nghiệp có thể hoạt động một cách hiệu quả, bảo đảm cho việc lưu chuyển tiền tệ
trong doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy, hiệu quả. Xây dựng bảng cân đối kế
toán và báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho từng kỳ để trình lên giám đốc
và hội đồng cổ đông xem xét và có những điều chỉnh cần thiết. Bên cạnh đó do công ty
hoạt động trong lĩnh vực xây lắp các công trình điện nên có thể coi mỗi công trình là một
dự án kinh doanh của công ty do đó phòng kế toán tài chính phải có trách nhiệm tính toán
các chỉ tiêu tài chính cho các dự án đó cũng như số vốn cần thiết phải bỏ ra để đầu tư vào
dự án… để từ đó có phương án huy động vốn có hiệu quả. Bên cạnh đó phòng kế toán tài
chính cũng xây dựng các kế hoạch tài chính cho toàn công ty cũng như cho các phòng ban
khác.
Kho hàng và vật tư là bộ phận chịu trách nhiệm dự trữ các sản phẩm và trang thiết bị
cần thiết cho hoạt động xây dựng của công ty, bên cạnh đó nó còn chịu trách nhiệm cung
ứng các trang thiết bị cần thiết cho hoạt động xây lắp của công ty.
Các vị trí lãnh đạo trong công ty.
Nguyễn ngọc Đương: chủ tịch hội đồng quản trị
Đặng văn Long: Giám đốc kiêm trưởng phòng kinh doanh
Nguyễn thu Hoài: Trưởng phòng kế toán tài chính
Nguyễn văn Tuân: Trưởng phòng sản xuất kỹ thuật
Đỗ duy Đồng: thủ kho
Với việc được thực tập tại phòng kinh doanh của công ty thì qua quá trình tìm hiểu thì
em đã thấy được mối quan hệ giữa các phòng ban trong công ty và giữa các cấp trong
công ty, qua đó có được cái nhìn sơ bộ về cung cách quản lý trong công ty. Trong các mối
quan hệ đó thì chủ yếu là mối quan hệ dọc giữa các cấp trong công ty và mối quan hệ

việc thực hiện các công trình sẽ không bị chồng chéo lên nhau, không kìm kẹp nhau trong
quá trình thực hiện. Để từ đó có sự điều động máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản
xuất được được hợp lý kịp thời. Từ các thông tin từ phòng kinh doanh và phòng sản xuất
từ đó phòng nhân sự sẽ có kế hoạch điều động nhân sự sao cho hợp lý, do việc xây lắp các
công trình không phải là công việc đều đặn thường xuyên có lúc có ít công trình nên cần ít
lao động nhưng lại có nhứng lúc có nhiều công trình được thực hiện cùng lúc do đó nhu
cầu về nhân sự luôn thay đổi do vậy mà phòng nhân sự cần nắm chắc các thông tin từ
phòng kinh doanh và phòng sản xuất để có kế hoạch điều động nhân sự sao cho hợp lý hiệu
quả. Với các thông tin từ các phòng ban chức năng khác thì phòng kế toán tài chính sẽ xây
dựng kế hoạch tài chính cho các công trình và các phòng ban để đảm bảo cho việc huy
động vốn cho các công trình được thuận lợi.
3. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yểu của công ty.
4
Báo cáo thực tập tổng hợp
Ngay từ tên gọi của công ty chúng ta đã có thể hình dung ra bước đầu các lĩnh vực kinh
doanh chủ yếu của công ty. Có thể nói rằng công ty tham gia vào hai lĩnh vực kinh doanh
chủ yếu là.
Thứ nhất là mảng xây lắp điện, đây là lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và là quan trọng
nhất của công ty, mảng hoạt động này đem lại lợi doanh thu cũng như lợi nhuận chủ yếu
cho công ty. Trong mảng hoạt đông này thì công ty thực hiện các công việc chủ yếu là xây
dựng các công trình điện và hệ thống điện. Trong đó thì công ty trực tiếp tiến hành các hoạt
đông xây lắp bằng đội ngũ nhân viên của công ty.
Thứ hai là mảng kinh doanh các thiết bị điện như áp to mát, rơle từ, dây cáp điện, biến
thế điện… trong mảng kinh doanh này thì không như phần xây lắp là công ty trực tiếp tiến
hành sản xuất còn trong mảng kinh doanh các thiết bị điện thì công ty tiến hành nhập hàng
và bán hành thực hiện nghiệp vụ mua bán, mảng kinh doanh này cũng đem lại một phần
doanh thu cho công ty và tạo việc làm cho một số nhân viên bán hàng. Ở đây công ty tiến
hành nhập hàng về có thể là để cung cấp cho chính hoạt động xây lắp của công ty hay đem
cung ứng ra thị trường cho các khách hàng là các công ty điện khác.
Chương II

Sau năm thứ nhất gặp nhiều khó khăn trong hoạt động như hạn hep về thị trường, bộ
máy quản lý chưa ổn định. Đến năm thứ hai thì hoạt động của công ty đã đi vào quỹ đạo và
dần ổn định. Với bộ máy quản lý đã được thiết lập ổn định cùng phương pháp quản lý đã
được xác lập nên công ty đã có được nhiều bước phát triển so với năm trước.
Thị trường hoạt động của công ty đã được mở rộng ra các tỉnh thành phía bắc, công ty
bước đầu đã có những bản hợp đồng xây lắp ở các tỉnh ngoài như hợp đồng xây dựng các
công trình điện ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh… Nhờ đó mà tạo được thêm việc làm
cho công nhân viên trong công ty, quảng bá được hình ảnh của công ty tới các đối tác.
Cùng với việc thị trường xây lắp được mở rộng hơn thì kéo theo đó thị trường bán hàng
cũng được mở rộng nhờ đó mà doanh thu từ hoạt động xây lắp cũng như hoạt động bán
hàng đã được tăng lên đáng kể.
6
Báo cáo thực tập tổng hợp
Nhờ có những việc thị trường được mở rộng số công trình xây lắp được tăng lên do vậy
mà số lượng lao động trong công ty cũng được tăng lên nếu như năm trước số lượng lao
động của công ty là 110 thì đến năm 2001 số lao động trong công ty đã tăng lên là 130
người, trong đó số lượng công nhân là 100 người.
Nếu như trong năm 2000 công ty chỉ có được 10 bản hợp đồng xây lắp thì đến năm
2001 công ty đã ký kết được 15 bản hợp đồng xây lắp với các đối tác trong đó có các hợp
đồng xây dựng trạm biến áp cho các tỉnh thành và những hợp đồng lắp đặt tủ điện cho các
công trình công cộng. Nhờ đó mà trong năm 2001 doanh thu từ hoạt động xây lắp đã lên
tới 2 tỷ đồng và doanh thu từ hoạt động bán hàng thì đạt 200 triệu đồng.
Trong năm 2001 này thì số vốn hoạt động của công ty cũng đã được tăng lên trong khi
số vốn điều lệ vẫn là 500 triệu thì lượng vốn đi vay là 600 triệu đồng nhờ đó mà tổng số
vốn của công ty đạt 1,1 tỷ đồng. Nhưng so với yêu cầu phát triển của công ty thì số vốn ấy
còn rất nhỏ bé. Công ty đang mong muốn có thể vay thêm được nhiều vốn hơn nữa để có
thể mở rộng khả năng sản xuất trang bị máy móc thiết bị.
Trong quá trình tìm hiểu tại công ty thì em thấy rằng việc lập kế hoạch trong công ty đã
không được coi trọng khi mà kế hoạch tổng thể của công ty chưa được xây dựng hợp lý,
còn các kế hoạch tác nghiệp thì hầu như chưa có.

tới 3,1 tỷ đồng và doanh thu từ hoạt động bán hàng thì đạt 300 triệu đồng.
Với việc quy mô lao động không tăng trong năm 2002 mà khối lượng công việc lại tăng
lên thì công ty đã phải trang bị thêm máy móc thiết bị để có thể tăng năng suất lao động,
nhờ có máy móc thiết bị mới mà chất lượng các công trình đã được nâng lên rõ rệt thêm
vào đó là nó góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình.
Trong năm 2002 này thì số vốn hoạt động của công ty cũng đã được tăng lên trong khi
số vốn điều lệ vẫn là 500 triệu thì lượng vốn đi vay là 700 triệu đồng nhờ đó mà tổng số
vốn của công ty đạt 1,2 tỷ đồng. Nhưng so với yêu cầu phát triển của công ty thì số vốn ấy
còn rất nhỏ bé. Công ty đang mong muốn có thể vay thêm được nhiều vốn hơn nữa để có
thể mở rộng khả năng sản xuất trang bị máy móc thiết bị.
Trong quá trình tìm hiểu tại công ty thì em thấy rằng việc lập kế hoạch trong công ty
trong năm 2002 này tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn chưa được coi trọng khi mà kế
hoạch tổng thể của công ty chưa được xây dựng hợp lý, còn các kế hoạch tác nghiệp thì
hầu như chưa có.
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Doanh thu Xây lắp Triệu đồng 3100
Bán hàng Triệu đồng 300
Lợi nhuận Triệu đồng 500
Vốn hoạt động Vốn điều lệ Triệu đồng 500
Vốn đi vay Triệu đồng 700
8
Báo cáo thực tập tổng hợp
Số lao động Người 130
Số công trình thực hiện Công trình 20
4. Năm 2003.
Cùng với đà phát triển của năm 2002 thì đến năm 2003 này công ty cũng vẫn duy trì
được mức tăng trưởng và phát triển.
Thị trường hoạt động của công ty đã được mở rộng ra các tỉnh thành phía bắc, công ty
đã có những bản hợp đồng xây lắp ở các tỉnh ngoài như hợp đồng xây dựng các công trình
điện ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh… Nhờ đó mà tạo được thêm việc làm cho công

nhân viên trong công ty, quảng bá được hình ảnh của công ty tới các đối tác. Cùng với việc
thị trường xây lắp được mở rộng hơn thì kéo theo đó thị trường bán hàng cũng được mở
rộng nhờ đó mà doanh thu từ hoạt động xây lắp cũng như hoạt động bán hàng đã được
tăng lên đáng kể.
Nhờ có những việc thị trường được mở rộng số công trình xây lắp được tăng lên do vậy
mà số lượng lao động trong công ty cũng được tăng lên nếu như năm 2003 số lượng lao
động của công ty là 130 thì đến năm 2004 số lao động trong công ty là 130 người, trong
đó số lượng công nhân là 100 người.
Nếu như trong năm 2003 công ty chỉ có được 20 bản hợp đồng xây lắp thì đến năm
2004 công ty đã ký kết được 25 bản hợp đồng xây lắp với các đối tác trong đó có các hợp
đồng xây dựng trạm biến áp cho các tỉnh thành và những hợp đồng lắp đặt tủ điện cho các
công trình công cộng. Nhờ đó mà trong năm 2004 doanh thu từ hoạt động xây lắp đã lên
tới 5 tỷ đồng và doanh thu từ hoạt động bán hàng thì đạt 550 triệu đồng.
Trong năm 2003 này thì số vốn hoạt động của công ty cũng đã được tăng lên trong khi
số vốn điều lệ đã được đăng ký lên là 1 tỷ đồng thì lượng vốn đi vay là 1,2 tỷ đồng nhờ đó
mà tổng số vốn của công ty đạt 2,2tỷ đồng. Nhưng so với yêu cầu phát triển của công ty thì
số vốn ấy còn rất nhỏ bé. Công ty đang mong muốn có thể vay thêm được nhiều vốn hơn
nữa để có thể mở rộng khả năng sản xuất trang bị máy móc thiết bị.
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Doanh thu Xây lắp Triệu đồng 5000
Bán hàng Triệu đồng 550
Lợi nhuận Triệu đồng 650
Vốn hoạt động Vốn điều lệ Triệu đồng 1000
Vốn đi vay Triệu đồng 1200
Số lao động Người 130
Số công trình thực hiện Công trình 25
6. Năm 2005.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status