Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.) và xạ can (Belamcanda chinensis (L.) DC.) (họ La đơn (Iridaceae)) - Pdf 34

24

1

A (BS-3), irigenin (BS-4), irilin D (BS-7), tectoridin (BS-9) và tectorigenin 4’-O-β-Dglucoside (BS-10); 3 hợp chất flavonoid là rhamnocitrin (BS-6), kaempferol-3-O-β-Dglucopyranoside (BS-11) và isoquercetin (BS-12); và 4 hợp chất khác là acetovanillone
(BS-5), daucosterol (BS-8), 24E-stigmasta-5,22-dien-3β-ol (BS-13), axit myristic (BS14). Trong số đó, 4 hợp chất là: acetovanillone (BS-5), kaempferol-3-O-β-Dglucopyranoside (BS-11), isoquercetin (BS-12) và axit myristic (BS-14) là các hợp chất
lần đầu được phân lập từ loài này. Hai hợp chất tectorigenin và tectoridin là thành phần
chính trong thân rễ thực vật này.
2. Về nghiên cứu hoạt tính sinh học
2.1 Kết quả sàng lọc hoạt tính kháng viêm của các dịch chiết cho thấy chỉ có cặn chiết
ethyl acetat (EB-Et) của củ sâm đại hành, cặn chiết ethyl acetat (BS-Et) và cặn nước (BSW) của thân rễ xạ can có hoạt tính kháng viêm theo đường uống với mức độ ức chế khối
viêm tương ứng là 52,12%, 70%, 64,26%. Tất cả các cặn chiết củ sâm đại hành và thân rễ
xạ can không thể hiện hoạt tính khi thử nghiệm theo đường bôi.
2.2 Lần đầu tiên nghiên nghiên cứu tác dụng ức chế sự sản sinh cytokine gây viêm từ
tế bào tua DC sinh ra ở tuỷ xương được kích thích bởi LPS của 14 hợp chất phân lập
được từ củ sâm đại hành. Kết quả cho thấy có 4 hợp chất: (2S) dihydroeleutherinol-8-Oβ-D-glucopyranoside (EB-1), hongconin (EB-4), eleutherine (EB-5), và isoeleutherin
(EB-6) có hoạt tính tốt ức chế sự sản sinh các cytokine IL-12 p40 (với giá trị IC50 từ
0,1±0,08→5±0,4 µM) và IL-6 (với giá trị IC50 từ 1,7±0,1→8,7±0,3 µ M) từ tế bào tua
(DCs) sinh ra từ tủy xương. Kết quả này cho thấy có thể sử dụng các hợp chất này như là
các chất kháng viêm tiềm năng trong tương lai.
2.3 Đã đánh giá hoạt tính kháng viêm và độ an toàn của tectorigenin là hoạt chất
chính phân lập được từ thân rễ xạ can.
- Tác dụng kháng viêm, giảm đau:
Tectorigenin có tác dụng giảm đau rõ rệt nhất ở liều 100 mg/kg cân nặng chuột nhắt.
Với liều 60 mg/kg cân nặng chuột cống, tectorigenin có tác dụng chống viêm cấp và
viêm mạn.
- Độc tính cấp tính của tectorigenin đã được xác định với giá trị LD50 là (1,78 ± 0,13)
g/kg P.
- Độc tính bán trường diễn: tectorigenin với các liều thử 100 mg/kg cân nặng và 300
mg/kg cân nặng, cho chuột ống thuốc liên tục 28 ngày không làm ảnh hưởng đến cân
nặng, không làm thay đổi chức phận tạo máu và chức năng gan, thận so với lô chứng.

(họ La dơn (Iridaceae))” với mục tiêu làm sáng tỏ thành phần hoá học và hoạt tính sinh
học (đặc biệt là hoạt tính kháng viêm), nhằm nâng cao giá trị sử dụng và khai thác có
hiệu quả nguồn hoạt chất quý giá từ hai cây thuốc dân gian này.
2. Đối tượng nghiên cứu và nội dung của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là củ cây sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.)
Urb.) và thân rễ cây xạ can (Belamcanda chinensis (L.) DC.).
Nội dung chính của luận án là:
1. Điều chế và đánh giá hoạt tính kháng viêm các cặn chiết của củ sâm đại hành và thân
rễ xạ can.
2. Chiết tách và phân lập các hợp chất từ 2 loài thực vật này.
3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất được phân lập.
4. Đánh giá hoạt tính kháng viêm của một số hợp chất phân lập được.
3. Những đóng góp mới của luận án
3.1 Từ củ sâm đại hành đã phân lập và xác định cấu trúc hoá học của 14 hợp chất là: (2S)
dihydroeleutherinol-8-O-β-D-glucopyranoside
(EB-1),
eleutherinol
(EB-2),
eleutherinoside A (EB-3), hongconin (EB-4), eleutherin (EB-5), isoeleutherin (EB-6),
eleuthoside C (EB-7), eleutherineoside C (EB-8), eleutherinoside B (EB-9), (R)-7-acetyl3,6-dihydroxy-8-methyltetralone (EB-10), eleuthoside A (EB-11), eleuthoside B (EB12), eleutherinoside D (EB-13) và 3,6,8-trihydroxy-1-methylanthraquinone (EB-14) từ
củ sâm đại hành. Trong đó, (2S) dihydroeleutherinol-8-O-β-D-glucopyranoside (EB-1) là


2

23

hợp chất mới và hợp chất 3,6,8-trihydroxy-1-methylanthraquinone (EB-14) lần đầu được
phân lập từ loài này.
3.2 Từ thân rễ xạ can đã phân lập và xác định cấu trúc hoá học của 14 hợp chất là:

II. NỘI DUNG LUẬN ÁN
Mở đầu: đề cập đến tính thực tiễn, ý nghĩa khoa học, tính thời sự, mục tiêu và nhiệm vụ
của luận án.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, chương này đề cập đến tình hình nghiên cứu hoá học
và hoạt tính sinh học của loài sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.) và loài xạ
can (Belamcanda chinensis (L.) DC.), khái niệm về viêm và một số hợp chất phenolic
thực vật có hoạt tính kháng viêm.

Protein
N14
46,29±0,98
46,13±0,96
47,36 ± 1,11 > 0,05
toàn phần
N28
43,89±2,27
44,98±1,54
44,49±2,61
> 0,05
(g/L)
p: so với lô chứng; Lô thử 1: 100 mg tectorigenin/kg P; Lô thử 2: 300 mg
tectorigenin/kgP
+ Kết quả bảng 4.24 cho thấy: tại ba thời điểm nghiên cứu, không thấy có sự khác
biệt về thông số AST, ALT cholesterol toàn phần và protein toàn phần giữa các lô chuột
thực nghiệm (p>0,05).
+ Kết quả quan sát đại thể mô bệnh học gan chuột sau 28 ngày uống thuốc như sau: ở
cả 2 lô thuốc thử và lô chứng mặt gan nhẵn, mật độ bình thường, màu đỏ, không có sung
huyết, không có dấu hiệu tổn thương.
- Đánh giá chức năng thận

431,98±7,45 > 0,05
p: so với lô chứng; Lô thử 1: 100 mg tectorigenin/kg P; Lô thử 2: 300 mg
tectorigenin/kgP
Kết quả bảng 4.25 cho thấy: sau 2 tuần và 4 tuần uống thuốc liên tục, hàm lượng
creatinin trong máu chuột không có sự thay đổi khác biệt so với lô chứng (p>0,05).
Quan sát đại thể mô bệnh học thận chuột sau 28 ngày uống thuốc cho thấy thận ở mức
bình thường, mật độ chắc bình thường, màu đỏ thẫm, mặt nhẵn, màu đỏ, không thấy đám
sung huyết và đám tổn thương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số creatinin không có sự khác biệt so với lô
chứng, chứng tỏ tectorigienin không ảnh hưởng đến chức năng lọc của cầu thận. Kết quả
này phù hợp với hình ảnh cấu trúc vi thể của thận.
KẾT LUẬN
1. Về thành phần hoá học
1.1 Từ củ sâm đại hành đã phân lập và xác định được cấu trúc của 14 hợp chất là:
(2S) dihydroeleutherinol-8-O-β-D-glucopyranoside (EB-1), eleutherinol (EB-2),
eleutherinoside A(EB-3), hongconin (EB-4), eleutherin (EB-5), isoeleutherin (EB-6),
eleuthoside C (EB-7), Eleutherineoside C (EB-8), eleutherinoside B (EB-9), (R)-7acetyl-3,6-dihydroxy-8-methyltetralone (EB-10), eleuthoside A (EB-11), eleuthoside B
(EB-12), eleutherinoside D (EB-13), 3,6,8-trihydroxy-1-methylanthraquinone (EB-14).
Trong số đó, (2S) dihydroeleutherinol-8-O-β-D-glucopyranoside (EB-1) là hợp chất mới
và hợp chất 3,6,8-trihydroxy-1-methylanthraquinone (EB-14) lần đầu được phân lập từ
loài này.
1.2 Từ thân rễ loài xạ can đã phân lập và xác định được cấu trúc của 14 hợp chất
gồm: 7 hợp chất isoflavonoid là irisflorentin (BS-1), tectorigenin (BS-2), iristectorigenin


22

3

Chuột ở các lô thí nghiệm đều tăng cân rõ rệt sau 2 tuần và 4 tuần uống thuốc

N14
13,35 ± 0,36
12,14 ± 0,49
11,34 ± 1,00
> 0,05
Hb
(g/100mL)
N28
13,34 ± 0,31
12,56 ± 0,43
13,17 ± 0,39
> 0,05
N14
37,59 ± 1,11
35,57 ± 1,49
32,72 ± 2,16
> 0,05
HCT
(%)
N28
37,89 ± 1,29
37,20 ± 1,13
38,28 ± 0,88
> 0,05
N14
716,56± 31,88 721,00±40,46 694,60±47,05 > 0,05
PLT
N28
812,20± 38,41 792,90±35,59 793,78± 33,35 > 0,05
N14

- Theo đường uống: theo phương pháp của Miklos Gabor (2009).
Nghiên cứu tác dụng ức chế sự sản sinh cytokine gây viêm từ tế bào tua DC (dendritic
cells) sinh ra ở tuỷ xương được kích thích bởi LPS (lipopolysaccharide) của các hợp
chất phân lập được từ cây sâm đại hành: được tiến hành tại Viện CN sinh học Hàn
Quốc, các hợp chất được thử nghiệm ở các nồng độ 50,0; 25,0; 12,5 và 6,3 µM, dịch
huyền phù được thu hoạch sau 16 giờ kích thích, phát hiện nồng độ murine IL-12p40, IL6 và TNF-α bằng máy ELISA.
Nghiên cứu tác dụng dược lí in vivo và độ an toàn của tectorigenin phân lập được từ
thân rễ cây xạ can
- Nghiên cứu tác dụng kháng viêm, giảm đau của tectorigenin thực hiện tại bộ môn Dược
lí, trường đại học Dược Hà Nội theo các phương pháp chuẩn thường qui.
- Nghiên cứu độ an toàn của tectorigienin được tiến hành tại bộ môn Dược lí, Viện Kiểm
nghiệm thuốc trung ương: độc tính cấp, độc tính bán trường diễn được đánh giá theo
phương pháp của OECD.
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM
Chương này mô tả chi tiết các quá trình chiết, phân lập các hợp chất và đánh giá các
hoạt tính kháng viêm của một số hợp chất phân lập được.
Quy trình phân lập các hợp chất từ củ sâm đại hành
Cặn EB/Et

Bảng 4.24. Ảnh hưởng của tectorigienin đến các thông số AST, ALT,
cholesterol toàn phần và protein toàn phần.
Thời điểm
Lô chứng
Lô thử 1
Lô thử 2
Chỉ số
(n = 10)
(n = 10)
(n = 10)
nghiên cứu nghiên cứu


N14

59,68 ± 4,79

64,74±3,15

64,80±5,93

> 0,05

N28

75,04 ±3,99

82,66±5,48

74,09±7,90

> 0,05

Cholesterol
toàn phần
(mmol/L)

N14

1,88±0,10

2,06±0,11

EB-14
(10mg)
EB-B2

SKC, YMC RP-18,
MeOH:H2O (6:1)

EB-2
(12mg)

EB-10
(8mg)

EB-B3

EB-B4
SKC, YMC RP-18
MeOH:H2O (3:1)

EB-4
(5mg)

EB-5
(9mg)

EB-6
(15mg)

Hình 3.2 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết etyl axetat của củ sâm đại hành


(12mg)

EB-8
(15mg)

SKC, LH-20 MeOH

EB-G3
EB-1
(5mg)

SKC, YMC RP-18
MeOH:H2O (1:1)

EB-3
(9mg)
EB-11
(19mg)

EB-12
(9mg)

EB-13
(14mg)

EB-9
(8mg)

Hình 3.3 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn nước của củ sâm đại hành
Hằng số vật lý và dữ liệu phổ của các hợp chất phân lập được từ củ sâm đại hành

313,48±40,52
56,49±5,01
tectorigienin liều
p3/10,05
Ghi chú: px/y: mức độ tin cậy của lô x so với lô y
Từ bảng 4.20 ta thấy tectorigienin thể hiện rõ tác dụng chống viêm mạn khi cân khối
lượng u hạt lúc ướt và lúc khô. Tỷ lệ ức chế u hạt của tectorigienin tương đối cao, khi cân
ướt là 35,67%, khi cân khô là 43,54%. Tác dụng chống viêm của tectorigienin liều 60
mg/kg cân nặng tương đương với tác dụng chống viêm của prednisolon liều 5 mg/kg cân
nặng.
b. Nghiên cứu về tính an toàn của tectorigienin
* Độc tính cấp
Đã tiến hành nghiên cứu độc tính cấp của tectorigenin ở 5 mức liều khác nhau. Số
lượng chuột chết ở các lô thử cụ thể được trình bày trong bảng 4.21.
Bảng 4.21 Kết quả theo dõi động vật thí nghiệm
Mức
Liều thử
Số chuột chết/ Số chuột chết/
% chết
liều
(g mẫu thử/kg chuột)
sống thực tế
sống kỳ vọng
1

biểu hiện đặc biệt ở cả 3 lô chuột trong suốt thời gian nghiên cứu. Tiến hành cân chuột
trước, trong và lúc kết thúc thí nghiệm. Mức độ tăng cân của chuột so với trước khi uống
thuốc tại các thời điểm nghiên cứu như sau:
Bảng 4.22. Ảnh hưởng của tectorigienin đến mức độ tăng cân của chuột (%)
Thời điểm
Lô chứng
Lô thử 1
Lô thử 2
p
nghiên cứu
(n = 10)
(n = 10)
(n = 10)
25,94±0,29
25,98 ± 0,63
>0,05
N0
24,00 ± 0,53
ptr/s < 0,01
ptr/s < 0,01
28,75 ± 0,64
28,38±0,51
N14
26,40 ± 0,52
>0,05
ptr/s < 0,01
ptr/s < 0,01
31,24±0,68
33,76 ± 0,97
>0,05

Lô 2
4,69 ± 0,80 12,7± 1,19 22,9 ± 1,13 25,3±1,17 34,7±1,91 11,3±1,35
(Chứng+)
Indomethacin p2/1 > 0,05 p2/1 < 0,05 p2/1 < 0,05 p2/1 < 0,05 p2/1 < 0,05 p2/1 >0,05
liều 10mg/kgP
1,6 ± 0,85 18,6 ± 2,66 23,5 ± 2,84 19,7±2,62 20,4±2,77 7,6±2,05
Lô 3
tectorigienin liều p3/1 > 0,05 p3/1 > 0,05 p3/1 > 0,05 p3/1 < 0,05 p3/1 < 0,05 p3/1 > 0,05
60mg/kgP
p3/2 > 0,05 p3/2 > 0,05 p3/2 > 0,05 p3/2 > 0,05 p3/2 > 0,05 p3/2 > 0,05
Ghi chú: px/y: so sánh lô x và lô y.
Như vậy, với liều 60 mg/kg cân nặng chuột cống, tectorigenin thể hiện tác dụng
chống viêm rõ nhất là sau 5-7 giờ gây viêm.
Bảng 4.19 Tỷ lệ % ức chế phù chân chuột của tectorigienin so với lô chứng trắng

đường chuẩn D-glucose và L-glucose có thời gian lưu tương ứng là 14,11 và 14,26 phút.
Do đó, có thể xác định được gốc đường của EB-1 là D-glucose.
Hợp chất EB-1a
25
Chất bột màu vàng nhạt; [α ] D –38,3 (MeOH, c = 0,3); HR-ESI-MS m/z 257,0810

[M-H] (C15H13O4, 257,0819).
1
H-NMR (500 MHz, CD3OD) δ (ppm): 4,88 (1H, H-2); 2,72 (1H, dd, J=3,7; 16,8, Hb3); 2,80 (1H, dd, J=12,0; 16,8, Ha-3); 6,90 (1H, s, H-6); 6,48 (1H, d, J=2,2, H-7); 6,35
(1H, d, J=2,2, H-9); 1,60 (1H, d, J=6,1, 2-Me); 2,59 (1H, s, 5-Me).
13
C-NMR (125 MHz, CD3OD) δ (ppm): 163,8 (C-1); 77,9 (C-2); 46,0 (C-3); 194,0
(C-4); 113,7 (C-4a); 137,3 (C-5); 123,3 (C-6); 141,7 (C-6a); 102,6 (C-7); 162,0 (C-8);
102,9 (C-9); 158,9 (C-10); 108,3 (C-10a); 20,8 (2-Me); 23,4 (5-Me).
Hợp chất EB-2 (2)

13
C-NMR (125 MHz, CDCl3), δ (ppm): 67,4 (C-1); 69,5 (C-3); 202,9 (C-4); 153,4 (C5); 118,1 (C-6); 125,4 (C-7); 109,1 (C-8); 155,7 (C-9); 139,4 (C-10); 121,0 (C-11); 107,8
(C-12); 126,0 (C-13); 119,6 (C-14); 17,4 (CH3-1); 16,3 (CH3-3); 56,4 (OCH3-9).
Hợp chất EB-5 (5)
Tinh thể hình kim, màu vàng nhạt, mp. 175-1770C, C16H16O4, ESI-MS m/z 273
[M+H]+.



1 giờ

2 giờ

4 giờ

5 giờ

7 giờ

24 giờ

Lô chứng dương uống
61,69 68,39 50,86
46,31 44,32 43,89
indomethacin liều 10mg/kg
Lô thử tectorigienin liều
86,93 53,77 49,58
58,04 67,32 62,27
60mg/kg
Từ bảng 4.19 cho thấy tỷ lệ ức chế phù chân chuột của tectorigienin liều 60mg/kg cân

p2/1
240 mg/kgP
Lô 3
tectorigienin liều
50 mg/kgP
Lô 4
tectorigienin liều
100 mg/kgP

0–5 phút

5-10 phút 10-15 phút 15–20 phút 20–25 phút 25–30 phút

10 ± 0,61

18 ± 0,47 18,1±0,39 13,77±0,35

14± 0,28

11,3± 0.32

5,25± 0,54 11 ± 0,43 9,75±0,45 7,5 ± 0,22 7,25 ± 0,26 6,87 ± 0,24
p2/1> 0,05

p2/1< 0,05 p2/1< 0,05 p2/1< 0,05

8,2 ± 0,27
p3/1 > 0,05
p3/4 > 0,05
5,57 ± 0,49



7,77 ± 0,32 13,0 ± 0,27 12,1±0,20 10,2±0,25 7,5 ± 0,35 5,5 ± 0,17
Lô 5
tectorigienin liều p5/1 >0,05 p5/1 < 0,05 p5/1 < 0,05 p5/1 < 0,05 p5/1 < 0,05 p5/1 < 0,05
200 mg/kgP
p5/4 >0,05 p5/4 > 0,05 p5/4 < 0,05 p5/4 > 0,05 p5/4 > 0,05 p5/4 > 0,05
Ghi chú: px/y: mức độ tin cậy của lô x so với lô y
Tectorigenin thể hiện tác dụng giảm số cơn đau quặn rõ rệt ở cả 3 liều đã thử. Với liều
50 mg/kg cân nặng, tectorigenin bắt đầu thể hiện tác dụng từ giai đoạn thứ 3 của quá
trình nghiên cứu (10-15 phút sau khi gây đau bằng acid acetic). Khi dùng liều 100 mg/kg
và liều 200 mg/kg cân nặng, tectorigenin có tác dụng giảm đau sau 5 phút sau khi tiêm
acid acetic và tác dụng này vẫn còn thể hiện rõ tại thời điểm 30 phút sau khi gây đau.
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của tectorigienin đến tỷ lệ giảm đau của các lô uống thuốc so với
lô không uống thuốc qua các giai đoạn
Tỷ lệ giảm đau (%) ở các giai đoạn
Liều
dùng
0-5
5-10 10-15
15-20 20-25 25-30

(mg/kg)
phút
phút
phút
phút
phút
phút
Lô chứng dương
240


Kaempferol-3-O-β-Dglucopyranoside (BS-11)
Lần đầu tiên phân lập
được từ cây xạ can

7

Isoquercetin (BS-12)
Lần đầu tiên phân lập
được từ cây xạ can

Axit myristic (BS-14)
24E-stigmasta-5,22Lần đầu tiên phân lập
được từ cây xạ can
dien-3β-ol (BS-13)
4.2.2 Kết quả nghiên cứu hoạt tính kháng viêm
Hợp chất tectorigenin đã được phân lập từ thân rễ xạ can với hàm lượng tương đối lớn
và là thành phần chính trong cây xạ can. Nhằm định hướng tạo cơ sở để phát triển, khai
thác và sử dụng hợp chất này có hiệu quả, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về
tác dụng dược lý (hoạt tính kháng viêm, giảm đau) và độ an toàn của tectorigenin trên
động vật thực nghiệm.
4.2.2.1 Kết quả nghiên cứu hoạt tính kháng viêm các cặn chiết thân rễ xạ can
Với hoạt tính kháng viêm theo đường bôi, cả 4 cặn chiết: methanol, hexan, etyl axetat
và cặn nước của mẫu nghiên cứu đều không có khả năng ức chế khối viêm cục bộ theo
đường bôi so với đối chứng Dexamethasone.
Kết quả nghiên cứu hoạt tính kháng viêm theo đường uống cho thấy có 2 mẫu
ức chế được trên 50,0 % thể tích khối viêm so với đối chứng âm (không sử dụng hoạt
chất), đó là cặn chiết etyl axetat (BS-Et) và cặn chiết nước (BS-W) với % ức chế khối
viêm tương ứng là 70,0% và 64,26%. Chất đối chứng dương Indomethacine có hoạt tính
ổn định và ức chế được 64,59% khối viêm.

Dạng bột vô định hình màu vàng nhạt, C20H22O9, ESI-MS m/z 407 [M+H]+.
1
H-NMR (500 MHz, MeOD), δ (ppm): 6,05 (1H, q, J=6,6 Hz, H-1); 8,16 (1H, s, H4); 7,60 (1H, d, J=8,3 Hz, H-5); 7,47 (1H, t, J=8,3 Hz, H-6); 7,11 (1H, d, J=8,3 Hz, H-7);
1,70 (1H, d, J=6,6, 1-Me); 3,99 (1H, s, 8-Ome); 4,99 (1H, d, J=7,6 Hz, H-1′); 3,60 (2H,
H-2′, Ha-6′); 3,10 (1H, m, H-3′); 3,39 (1H, t, J=9,3 Hz, H-4′); 3,47 (1H, t, J=9,3 Hz, H5′); 3,68 (1H, dd, J=2,1; 11,7 Hz, Hb-6′).
13
C-NMR (125 MHz, MeOD), δ (ppm): 80,9 (C-1); 172,3 (C-3); 124,0 (C-4); 123,7
(C-5); 128,4 (C-6); 109,8 (C-7); 157,4 (C-8); 147,9 (C-9); 140,7 (C-10); 125,9 (C-11);
139,3 (C-12); 124,0 (C-13); 19,4 (1-Me); 56,1 (8-OMe); 106,2 (C-1′); 76,0 (C-2′); 77,8
(C-3′); 71,6 (C-4′); 78,3 (C-5′); 62,4 (C-6′).
Hợp chất EB-12 (12)
Dạng bột vô định hình màu vàng nhạt, C26H32O14, ESI-MS m/z 569 [M+H]+.
1
H-NMR (500 MHz, MeOD), δ (ppm): 6,12 (1H, q, J=6,9, H-1); 8,15 (1H, s, H-4);
7,60 (1H, d, J=7,6 Hz, H-5); 7,46 (1H, t, J=7,6 Hz, H-6); 7,10 (1H, d, J=7,6 Hz, H-7);
1,68 (1H, d, J=6,9 Hz, 1-Me); 3,98 (1H, s, 8-OMe); 4,98 (1H, d, J=7,6 Hz, H-1′); 3,60
(1H, dd, J=7,6; 8,9 Hz, H-2′); 3,47 (1H, t, J=8,9 Hz, H-3′); 3,56 (1H, H-4′); 2,32 (1H, H5′); 3,67 (1H, dd, J=4,9; 11,0 Hz, Hb-6′); 4,00 (1H, dd, J=2,0; 11,0 Hz, Ha-6′); 4,16 (1H,


8

17

d, J=8,3 Hz, H-1ʺ); 3,12 (1H, dd, J=7,6; 8,3 Hz, H-2ʺ); 3,25 (1H, H-3ʺ); 3,21 (1H, t,
J=8,2 Hz, H-4ʺ); 3,17 (1H, H-5ʺ); 3,55 (1H, dd, J=4,1; 11,7 Hz, Hb-6ʺ); 3,81 (1H, dd,
J=2,1; 11,7 Hz, Ha-6ʺ).
13
C-NMR (125 MHz, MeOD), δ (ppm): 81,1 (C-1); 172,3 (C-3); 124,2 (C-4); 109,8
(C-5); 128,4 (C-6); 123,7 (C-7); 157,5 (C-8); 147,8 (C-9); 140,8 (C-10); 126,0 (C-11);
139,3 (C-12); 124,1 (C-13); 19,2 (1-Me); 56,1 (8-OMe); 106,0 (C-1′); 76,2 (C-2′); 77,4

doublet tại δ 6,84 (2H, dd, J = 8,5; 1,5 Hz, H-3′, 5′) và 7,35 (2H, dd, J = 8,5; 1,5 Hz, H2′, 6′) dự đoán nhóm thế của vòng thơm là para-substitued,
Phổ 13C-NMR của BS-2 chỉ ra tín hiệu của 16 nguyên tử cacbon, gồm một nhóm
methoxyl và 15 cac bon của khung isoflavone, các tín hiệu này đã được xác nhận thêm
qua phổ DEPT 90, DEPT 135 và HSQC. Thêm vào đó, trên phổ ESI MS pic ion phân tử
[M-H]+ của BS-2 xuất hiện tại m/z 299 hoàn toàn phù hợp với công thức phân tử
C16H12O6.
Khi so sánh với tài liệu tham khảo, tất cả dữ liệu phổ của chất BS-2 đồng nhất với các
dữ liệu phổ của 4′,5,7-trihydroxy-6-methoxyisoflavone hay tectorigenin vì vậy chất BS-2
được xác định là tectorigenin.

Hình 4.18d Cấu trúc của hợp chất BS-2 (Tectorigenin)
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp các hợp chất BS-1→BS-14 phân lập được từ thân rễ cây
xạ can

Irisflorentin (BS-1)

Irigenin (BS-4)

Irilin D (BS-7)

Tectorigenin (BS-2)

Iristectorigenin A (BS-3)

Acetovanillone (BS-5)
Lần đầu tiên phân lập
được từ cây xạ can

Rhamnocitrin (BS6-)


1,0 ± 0,1
5,0 ± 0,2
>50
EB-4
5,0 ± 0,4
8,7 ± 0,3
61,2 ± 1,5
EB-5
0,1 ± 0,08
1,7 ± 0,1
39,6 ± 2,0
EB-6
0,2 ± 0,1
2,6 ± 0,4
>50
SB203580a)
5,2 ± 0,1
3,5 ± 0,2
7,5 ± 0,2
a)
đối chứng dương
Kết quả cho thấy các hợp chất EB-1, EB-4, EB-5, EB-6 và cặn chiết EB-Me ức chế
sự sản sinh IL-12 p40 được kích thích bởi LPS với giá trị IC50 từ 0,1±0,08 µM đến
5,0±0,4 µM. Các hợp chất EB-1, EB-5 và EB-6 cũng ức chế sự sản sinh IL-6 với giá trị
IC50 từ 1,7±0,1 µM đến 5,0±0,2 µM. Tuy nhiên, chỉ có hai hợp chất EB-4 và EB-5 có
hoạt tính ức chế ở mức độ trung bình sự sản sinh TNF-α với giá trị IC50 tương ứng là
61,2±1,5 µM và 39,6± 2,0 µM. Các hợp chất (–)-hongconin (EB-4), eleutherin (EB-5) và
isoeleutherin (EB-6) được phân lập từ cây Eleutherine americana cũng ức chế sự sản
sinh nitric oxide ở dòng tế bào đại thực bào ở chuột RAW 264,7 được hoạt hóa bởi LPS.
Đây là lần đầu tiên thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm của cây E. bulbosa được

F6

F5

SKC, SiO2

SKC, SiO2,
HX:EtOAC 10:1

CHCl3:MeOH

BS-2
(480 mg)

BS-14
(15 mg)

F5.1
F3.2

BS-13
(5 mg)

F7

SKC, SiO2
CHCl3:MeOH (20:1)

F5.3



F7

F6
1.SKC, RP18, MeOH:H2O (1:1)
2.SKLMĐC, RP18, MeOH:H2O (6:4)

SKC, RP18
MeOH:H2O (4:6)

BS-9
(42 mg)

BS-6
(10 mg)

F7.1

F7.2

F7.3
BS-7
(5 mg)

BS-8
(12 mg)

Hình 3.4 Sơ đồ phần lập các hợp chất từ cặn chiết etyl axetat cây xạ can
Cặn BS/W (4,7gam)
SK cột, CH2Cl2 : MeOH (4:1)

Hằng số vật lý và dữ liệu phổ các hợp chất phân lập được từ cây xạ can
Hợp chất BS-1 (15)
Bột màu vàng nhạt, mp. 168-169oC, C20H18O8, ESI-MS m/z 385 [M-H]¯ .

E4.3


10

15

H-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 7,77 (1H, s, H-2); 6,56 (1H, s, H-8); 6,67
(2H, s, H-2′, H-6′); 5,99 (2H, s, -O-CH2-O-); 4,00 (3H, s, OCH3-5); 3,81 (6H, s, OCH3-3′,
5′), và 3,77 (3H, s, OCH3-4′).
13
C-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 56,0 (OCH3-3′, 5′); 60,6 (OCH3-4′); 60,9
(OCH3-5); 92,9 (C-8); 102,1 (-O-CH2-O-); 106,6 (C-2′, 6′); 113,4 (C-10); 125,4 (C-3);
127,3 (C-1′); 135,2 (C-6); 137,9 (C-4′); 141,5 (C-5); 150,8 (C-2); 152,8 (C-3′, 5′); 152,9
(C-7); 154,5 (C-9); và 175,3 (C-4).
Hợp chất BS-2 (16)
Tinh thể màu vàng, mp. 235-236oC, C16H12O6, ESI-MS m/z 299 [M-H]¯
1
H-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 3,87 (3H, s, OCH3-6); 6,41 (1H, s, H-8); 6,84
(2H, dd, J=8,5; 1,5Hz, H-3′, 5′); 7,35 (2H, dd, J=8,5; 1,5Hz, H-2′, 6′); và 7,99 (1H, s, H2).
13
C-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 60,9 (OCH3-6); 94,9 (C-8); 106,6 (C-10);
116,2 (C-2′,6′); 123,1 (C-3); 124,1 (C-1′); 131,3 (C-3′, 5′); 132,7 (C-6); 154,4 (C-5);
154,7 (C-7); 154,8 (C-2); 158,5 (C-9); 158,6 (C-4′); và 182,4 (C-4).
Hợp chất BS-3 (17)
Tinh thể màu vàng nhạt, mp. 237-238°C, C17H14O7, ESI-MS m/z 329 [M-H]¯ .

1
H-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 3,89 (3H, s, OCH3); 6,54 (1H, s, H-8); 6,56
(1H, s, H-6); 6,93 (2H, d, J=8,5 Hz, H-3′, 5′) và 7,82 (2H, d, J=9,0 Hz, H-2′, 6′).

methylchroman-4-one có độ quay cực là [α ]D = +53,2. Điều này xác nhận hợp chất EB1a có cấu hình ở C-2 là S. Do vậy, hợp chất EB-1 được xác định là (2S)
dihydroeleutherinol-8-O-β-D-glucopyranoside. Đây là hợp chất mới lần đầu tiên được
phân lập từ thiên nhiên.

1

Hình 4.1d, h Cấu trúc của hợp chất EB-1a và EB-1
4.1.2 Kết quả nghiên cứu hoạt tính kháng viêm
4.1.2.1 Kết quả nghiên cứu hoạt tính kháng viêm của các cặn chiết của củ sâm đại
hành
Với hoạt tính kháng viêm theo đường bôi, cả 4 cặn chiết methanol, n-hexan, ethyl
axetat và cặn chiết nước của củ sâm đại hành đều không có khả năng ức chế khối viêm
cục bộ theo đường bôi so với đối chứng Dexamethasone.
Kết quả nghiên cứu theo đường uống cho thấy chỉ có cặn chiết etyl axetat (EB-Et) ức
chế được trên 50,0 % thể tích khối viêm so với đối chứng âm (không sử dụng hoạt chất)
với % ức chế khối viêm là 52,12%. Chất đối chứng dương Indomethacine có hoạt tính ổn
định và ức chế được 64,59% khối viêm.
4.1.2.2 Kết quả nghiên cứu tác dụng ức chế sự sản sinh cytokine gây viêm từ tế bào
tua DC sinh ra ở tuỷ xương được kích thích bởi LPS của các hợp chất phân lập được
từ củ sâm đại hành
Đầu tiên, chúng tôi đã sử dụng phương pháp nhuộm màu MTT để đánh giá ảnh hưởng
đến khả năng sống sót của tế bào của 14 hợp chất phân lập được từ củ sâm đại hành. Sau
đó đã tiến hành thử hoạt tính ức chế sự sản sinh cytokine gây viêm từ tế bào tua DC sinh
ra ở tuỷ xương được kích thích bởi LPS của các hợp chất phân lập được từ củ sâm đại
hành.


hydroxyl tương ứng ở các vị trí C-5, C-8, và C-10.
Sự có mặt của một phân tử đường trong phân tử hợp chất EB-1 được khẳng định
thêm bằng việc thủy phân EB-1 trong môi trường axit thu được 1 đơn vị đường Dglucose và aglycone EB-1a. Ngoài ra, vị trí của đường glucose ở C-8 được khẳng định
thêm bởi tương tác giữa H-1' glc (δH 4,93) và C-8 (δC 161,4) trên phổ HMBC.
Để xác định cấu hình tuyệt đối của C-2 trong phân từ hợp chất EB-1 chúng tôi đã
tiến hành ghi phổ CD của EB-1. Phổ CD của hợp chất EB-1 cho thấy hiệu ứng cotton
xung quanh 319 nm, tương tự như hợp chất (2S)-5-hydroxy-6,8-dimethoxy-2-methyl-4H2,3-dihydronaphtho[2,3-b]-pyran-4-one, điều này gợi ý cấu hình ở C-2 của EB-1 là cấu
hình S.
Thêm vào đó để khẳng định thêm cấu hình của EB-1, chúng tôi đã xác định cấu hình
aglycone EB-1a bằng cách so sánh độ quay cực của EB-1a với hợp chất 225
methylchroman-4-one và hợp chất (R)-dihydroeleutherinol ( [α ] D =+8,8). Độ quay cực
của EB-1a đo được là [α ] 25
= –38,3, trong khi đó hợp chất (S) 5,7-dihydroxy-2D
methylchroman-4-one có độ quay cực là [α ] D = –58,6 và hợp chất (R) 7-methoxy-2-

11
13

C-NMR (CD3OD) δ (ppm): 60,9 (OCH3-7); 92,1 (C-8); 104,3 (C-10); 115,6 (C3′,5′); 135,6 (C-3); 121,8 (C-1′); 129,5 (C-2’, 6’); 97,6 (C-6); 160,3 (C-5); 164,8 (C-7);
147,4 (C-2); 156,3 (C-9); 159,5 (C-4′); và 176,8 (C-4).
Hợp chất BS-7 (21)
Dạng bột vô định hình màu vàng, C16H12O7, ESI-MS m/z 315 [M-H]+.
1
H-NMR (CD3OD và CDCl3) δ (ppm): 3,89 (3H, s, OCH3-6); 6,46 (1H, s, H-8);
6,85 (2H, d, J = 2,0Hz, H-2′, 6′), 7,02 (1H, d, J =1,5 Hz, H-5′), và 8,01 (1H, s, H-2).
13
C-NMR (CD3 OD và CDCl3 ) δ (ppm): 60,9 (OCH3-6); 94,9 (C-8); 106,6 (C-10);
116,2 (C-2′); 117,3 (C-5′); 121,6 (C-1′); 123,5 (C-3); 124,2 (C-6′); 132,6 (C-6); 146,0 (C3′); 146,5 (C-4′); 154,4 (C-5); 154,6 (C-7); 154,8 (C-2); 158,5 (C-9) và 182,4 (C-4).
Hợp chất BS-8 (22)
Dạng bột màu trắng, mp. 285-286oC, C35H60O6, ESI-MS m/z 575 [M-H]¯ .

s, H-2), 5,45 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-1″), 3,32 (m, H-2″), 3,41 (m, H-3″), 3,34 (m, H-4″),
3,38 (m, H-5″), 3,44 (m, Ha-6″), and 3,65 (m, Hb-6″).
13
C-NMR (125 MHz, DMSO) δC (ppm): 154,7 (C-2), 121,0 (C-3), 180,8 (C-4),
152,9 (C-5), 132,5 (C-6), 157,5 (C-7), 94,1 (C-8), 152,5 (C-9), 106,5 (C-10), 122,1 (C-


12

13

1′), 130,2 (C-2′), 115,1 (C-3′), 156,6 (C-4′), 115,1 (C-5′), 130,2 (C-6′), 100,2 (C-1″), 73,3
(C-2″), 76,7 (C-3″), 69,7 (C-4″), 77,3 (C-5″), 60,7 (C-6″), 60,3 (OCH3 -6).
Hợp chất BS-11 (25)
Dạng bột vô định hình màu vàng, C21H20O11, ESI-MS m/z 471 [M+Na]+
1
H-NMR (500 MHz, DMSO) δH (ppm): 5,45 (1H, d, J=8,0 Hz, H-1″), 6,20 (1H, d, J =
2,0 Hz, H-6), 6,43 (1H, d, J = 2,0 Hz, H-8), 6,88 (2H, dd, J = 2,0, 8,0 Hz, H-3′, H-5′) và
8,03 (2H, dd, J = 2,0, 8,0 Hz, H-2′, H-6′).
13
C- NMR (125 MHz, DMSO) δC (ppm): 158,5 (C-2), 135,3 (C-3), 179,5 (C-4), 163,0
(C-5), 99,9 (C-6), 165,9 (C-7), 94,8 (C-8), 159,0 (C-9), 105,7 (C-10), 122,7 (C-1′), 132,3
(C-2′), 116,1 (C-3′), 161,5 (C-4′), 116,1 (C-5′), 132,3 (C-6′), 104,1 (C-1″), 75,7 (C-2″),
78,0 (C-3″), 71,3 (C-4″), 78.0 (C-5″), 62,6 (C-6″).
Hợp chất BS-12 (26)
Dạng bột màu vàng, mp. 240-242oC, C21H20O12, ESI-MS m/z 487 [M+Na]+
1
H -NMR (500 MHz, CD3OD) δH (ppm): 5,23 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-1″), 6,15 (1H, d,
J = 2,0 Hz, H-6), 6,35 (1H, d, J = 2,0 Hz, H-8), 6,88 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-5′), 7,71 (1H,
d, J = 2,0 Hz, H-2′) và 7,56 (1H, d, J = 2,0, 8,0 Hz, H-6′).

Me

O

5

Me
4

4a

6

Me

O

6a

2

10a

7

1a

O

6a


O

Me
OH

O

10

O
3
4

12

13

ODsac

6

Me(β)

5

H
O

HO


ODsac

O

9

HO

6

3

5

4

HO
HO

OH

O

OH

HO HO

Dsac



Glc

OH

OH

O

O
HO
HO
HO

OH

(R) 7-acetyl-3,6-dihydroxy8-methyltetral-1-one
(EB10)
OMe

Me

1
O

O

OH

O


12

13

ODsac
O

Dsac

Eleuthoside C (EB7)
Me

6

Me(α)

O

OH

1
11

O

5

O


OH

9

1
11

O

H

Eleutherin (EB5)
OMe

OH

14

Me(α)

Me

O

(–)-hongconin (EB4)
9

O

OMe


2

10a

7

10

GlcO
HO
HO
HO

4

4a

10

OMe

O

5
6

Deoxyerythrolaccin
(EB14)
Lần đầu tiên phân lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status