Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh lạng sơn - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung
cấp và hậu thuẫn đắc lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Tuy nhiên,
nguồn lao động này vẫn còn ít cơ hội để phát huy khả năng cống hiến của mình
cho sự phát triển nông thôn. Đây là thách thức đối với chính lao động nông thôn
và các nhà hoạch định chính sách.
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang sống
ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng lao
động cả nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, năng
suất lao động thấp, phương thức sản xuất lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao.
Hiện lao động có việc làm và kỹ năng chuyên môn chỉ chiếm 16,8%, còn lại
83,2% là lao động chưa qua đào tạo, chưa có trình độ kỹ thuật chuyên môn.
Thêm vào đó, hầu hết các thị trường lao động vẫn chỉ tập trung chủ yếu ở các
tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và ở ba vùng kinh tế
trọng điểm. Ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, thị trường lao động lại chưa
phát triển nên dẫn đến thực trạng là nơi thừa, nơi thiếu lao động. Đây cũng chính
là hạn chế lớn nhất của lao động nông thôn làm cho việc khai thác nguồn nhân
lục ở đây vẫn còn yếu kém. Ngoài ra, lề lối làm ăn trong ngành nông nghiệp
truyền thống và tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế
tính chủ động sang tạo của người nông dân trong sản xuất, kinh doanh cũng như
khả năng tiếp cận thị trường của người lao động. Có thể thấy, cung lao động
nông thôn dồi dào nhưng chất lương chưa cao cả về văn hoá, kỹ năng chuyên
môn cũng như hiểu biết về pháp luật, kỹ năng sống.
Phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
chủ trương lớn của nước ta, nhằm nhấn mạnh đến việc sử dụng các nguồn nhân
lực một cách hiệu quả để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển. Do vậy, các
chính sách phát triển nông thôn cần được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kết
hợp hài hoà và hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trường một cách hài hoà.
Giải pháp cấp bách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cho lao
đông nông thôn, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiên thức để đáp

hạn chế, không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự giúp đỡ, góp ý
của các thầy, cô giáo và các độc giả.
Em xin chân thành cảm ơn !

2


PHẦN I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP & TỔ CHỨC
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI SỞ LAO ĐỘNG - THƯƠNG
BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH LẠNG SƠN.
1.1. Tổng quan về Sở Lao động – Thương binh và xã hội Tỉnh Lạng
Sơn:
1.1.1. Tóm lược quá trình hình thành và phát triển:
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Tỉnh Lạng Sơn được hợp nhất hai
ngành Sở Lao Động và Sở Thương binh Xã hội ngày 7/12/1987, do Uỷ Ban
nhân dân tỉnh Lạng Sơn ra quyết định số 517/UB-QĐ-TC.
Địa chỉ: Số 409 Bà Triệu, P. Đông Kinh, Tp Lạng Sơn, Tinh Lạng Sơn.
Giám đốc: Nông Thanh Bình.
Đơn vị quản lý: Uỷ ban nhân dân Lạng Sơn.
Điện thoại: (025) 3.8114.615.
Fax: (025) 3.870.287.
Email:
Website: />Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn tiền thân là hai sở
Lao đông và Sở Thương binh Xã hội hợp thành, quá trình hình thành và phát
triển của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội gắn liền với sự hình thành và
phát triển của hai sở Lao động và Sở thương binh Xã hội.
Ngày 28/08/1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký thông báo thành lập 13 Bộ
của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Trong đó Bộ Lao
động và Bộ Cứu tế Xã hội, tiền thân của Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội
ngày nay..

Tháng 6/1947, tại xã Phù Ninh huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra
hội nghị quan trọng, chọn ngày thương binh để đồng bào cả nước tỏ lòng hiếu
nghĩa bác ái đối với thương binh – tử sĩ. Hội nghị nhất trí chọn ngày 27/7 hàng
năm làm ngày thương binh toàn quốc.
Sau giải phóng được kiện toàn thêm một bước và có điều kiện thuận lợi hơn
trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của ngành. Văn phòng Ty Thương binh
– Cựu binh gồm các bộ phận: Văn thư, kế toán, quản lý công tác trại, vận động
nhân dân.địa điểm đặt tại Huyện Thoát Lãng.
Trong giai đoạn 1955- 1960 có 4 bộ thực hiện nhiệm vụ Lao động –
Thương binh và xã hội : Bộ Lao động, Bộ Thương binh – Cựu binh, Bộ Nội vụ
và Bộ Cứu tế xã hội. Từ Tháng 4/1959, Bộ Cứu tế xã hội giải thể, Bộ Lao động
đảm nhân công tác bảo hiểm xã hội, cải tạo tệ nạn xã hội.
Tại Lạng Sơn, công tác lao động, thương binh và xã hội do hai cơ quan đảm
nhiệm là Phòng Lao động tỉnh và Ty Thương binh – Cựu binh tỉnh. Từ cuối năm
1959, sau khi Bộ Thương binh – Cựu binh giải thể, công tác Thương binh liệt sỹ
giao cho bộ nội vụ phụ trách thì Ty Thương binh – Cựu binh tỉnh đổi thành Ban
Thương binh – Xã hội tỉnh. Phụ trách Phòng Lao động và Ban Thương binh –
Xã hội do các đồng chí uỷ viên Uỷ ban hành chính tỉnh đảm nhận. Tổ chức bộ
máy ngành lúc này vấn đơn giản và cán bộ viên chức còn ít. Ở các huyện cũng
chỉ có 1 đến 2 cán bộ kiêm nhiệm. Trong khi đó, khối lượng công việc của
ngành phải gánh vác lại nhiều và có phần phức tạp hơn thời kỳ kháng chiến
chống Pháp.
Ngày 27/7/1955, Chính Phủ quyết định đổi “ ngày Thương binh toàn quốc”
thành ngày Thương binh – Liệt sỹ.
Căn cứ theo Nghị định số 172/CP và Nghị định số 05/NĐ-LĐ, bộ máy
ngành Lao động Lạng Sơn có thay đổi mới: Phòng Lao động chuyển thành Ty
Lao động với số lượng cán bộ từ 13-14 người, ở thị xã và một số huyện đã có bộ
4



phòng

Phòng
Kế
hoạch
tài
chính

Thanh
tra

Phòng Việc làm - An toàn
Lao động

Phòng Dạy nghề
Trường
trung cấp
Nghề Việt
Đức

Phó giám
đốc

Trung tâm
giới thiệu
Việc làm

Phòng
Lao
động

Chữa bệnh
Giáo
dụcLĐXH

6


1.1.3. Tổng quan kết quả lao động;
- Giai đoạn năm 1986-1990: Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã
được tiến hành trong hoàn cảnh cả nước đẩy mạnh thực hiện ba chương trình
kinh tế lớn: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Ngành đã thực
hiện triển khai thực hiện các nhiệm vụ phù hợp từng thời điểm lịch sử, từng nội
dung công tác, hoàn thành tốt các chính sách, các chế độ đãi ngộ đối với các đối
tượng do ngành quản lý, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong
tỉnh chăm sóc, ổn định và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các đối
tượng chính sách, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh nhà
trong giai đoạn mới.
- Giai đoạn năm 1991 – 1995: Ngành có nhiều đổi mới về tổ chức bộ máy.
Năm 1994 Sở tiến hành giải thể Xí nghiệp Thương binh T 202 do hoạt động
kém hiệu quả. Đầu năm 1995, Bảo hiểm Xã hội tỉnh tách khỏi ngành Lao động _
Thương binh xã hội. Từ đây, ngành chỉ còn thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về bảo hiểm xã hội; việc quản lý đối tượng thực hiện công tác thu, chi trả
các chế độ bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm Xã hội tỉnh đảm nhận. Ngành Lao động
– Thương binh và Xã hội đã đóng góp tích cực vào sự phát triển toàn diện của
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh nhà . Với những thành tích đạt được, nhân
dịp kỉ niệm 45 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ ( 27/7/1992), ngành LĐ – TB &
XH đã được UBND tỉnh Lạng Sơn tặng bằng khen cho 16 tập thể và 64 cá nhân
từ tỉnh xuống xã và các ngành làm tốt công tác lao động – thương binh và liệt
sỹ.
- Giai đoạn năm 1996-2000: Những thành quả về mọi lĩnh vực công tác mà

động, luân chuyển, thuyên chuyển và các chính sách, chế độ đãi ngộ khen
thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, người
lao động của Sở theo sự phân công, phân cấp của Uỷ ban nhân dân.
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch
về bình đẳng giới, tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội địa phương.
Quản lý các nguồn kinh phí được cấp, quản lý tài sản, phương tiện, thiết bị
đảm bảo phục vụ cho các hoạt động của Sở, tổ chức thực hiện công tác văn thư
lưu trữ, bảo mật theo quy định của pháp luật.
Thực hiện công tác quản trị, đảm bảo cho hoạt động phục vụ của cơ quan
Lãnh đạo Sở, thực hiện công tác đối ngoại của Sở.
+Thực hiện việc theo dõi, đôn đốc và giúp lãnh đạo Sở thực hiện và áp
dụng Hệ thống quản lý theo chất lượng ISO của Sở.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc sở phân công.
Văn phòng Sở ngoài chức năng là thực hiện công tác quản trị nhân lực, còn
ghép với hành chính, tổng hợp, quản trị, văn thư lưu trữ,…
Tổng số cán bộ nhân viên của Văn phòng Sở gồm 12 người, trong đó số cán
bộ nhân viên chuyên trách về công tác quản trị nhân lực là 4 người, chiếm 8%
trong tổng số cán bộ, nhân viên của Sở.Có thể thấy, số lượng nhân viên phụ
trách công tác quản trị nhân lực của Sở là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu và
mức độ của công việc.
Bảng 1.2: Tổng số cán bộ nhân viên của văn phòng Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn
S
Họ và Tên
TT

Giới Năm
Trình độ
tính sinh

1975 ĐH Tổng Hợp

Luật

13 năm

4

Bùi Ngọc Tuyền

Nam 1983 ĐHKHXH&NV

Quản lý Xã hội 6 năm
8


5

Hoàng Thị Nga

Nữ

1957 TC Thương Nghiệp Thủ Quỹ

15 năm

6

Dương Thị Hường


Nguyễn Minh Hà

Nam 1971

Lái xe

10 năm

10 Tạ Hồng Quân

Nam 1981

Lái xe

6 năm

11 Lê Văn Đông

Nam 1976

Bảo vệ

10 năm (HĐ)

12 Hà Văn Huy

Nam 1982

Bảo vệ


2
Nguyễn thị Kim Phó
Chánh - Kiểm tra công tác vản
Quy
Văn phòng
thư, lưu trữ, in sao tài
liệu.
- Phụ trách công tác bình
đẳng giới.
- Tiếp đón khách đến cơ
quan công tác theo sự chỉ
đạo, phân công của Lãnh
9


đạo Sở.
- Chỉ đạo và thực
hiện công tác phục vụ
cac cuộc họp: soạn thảo
công văn, giấy mời, tiếp
đón đại biêu,..
Bùi Ngọc Tuyền
chuyên viên - Tổng hợp báo cáo tuần
tổng hợp
gửi Uỷ ban nhân dân.
- Theo dõi, báo cáo thực
3
hiện công tác cải cách
hành chính
- Thực hiện cơ chế

động chưa được quan tâm.
- Sử dụng nhân lực.
+ Thăng chức, đề bạt.
10


Việc lựa chọn cán bộ, công chức vào các vị trí lãnh đạo, phòng chuyên
môn và tương đương phụ thuộc vào trình độ, bằng cấp, năng lực kinh nghiệm,
công tác của cá nhân. Trong quá trình làm việc cán bộ, công chức đạt được
nhiều thành tích, không bị kỷ luật sẽ được cân nhắc vào những vị trí cao hơn.
+ Đánh giá thực hiện công việc:
Ở từng vị trí công việc sở đều có bản tiêu chuẩn thực hiện công việc, để từ
căn cứ đó có thể đánh giá được kết quả thực hiện công việc của từng người, để
xem mức độ hoàn thành công việc của từng cá nhân.
+ Công tác theo dõi thi đua khen thưởng.
Thi đua khen thưởng nhằm khuyến khích và tôn vinh các tập thể, cá nhân
thi đua lao động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập thành tích suất sắc góp
phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của ngành Lao động – Thương
binh và Xã hội và các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Cuối năm, trên
cơ sở đánh giá việc thực hiện công việc của từng cán bộ, công chức, viên chức,
từng phòng sẽ họp xét thi đua khen thưởng, sau đó sẽ đưa danh sách lên Hội
đồng xét thi đua khen thưởng của Sở, Sở sẽ họp hội đồng thi đua khen thưởng,
sơ kết tổng kết đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm và bình xét công khai, cân
nhắc xem xét, xem những ai đủ diều kiện khen thưởng, ai không đủ điều kiện thì
phấn đấu năm sau.
+ Lương.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước, do đó
mà quỹ tiền lương từ ngân sách nhà nước, chế độ trả lương cho cán bộ công
nhân viên căn cứ theo quy định của thang lương, bảng lương của nhà nước.
Lương hưởng theo hệ số lương, phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực. Lương được


Nhận văn bản đóng dấu.

Phát hành văn bản thực hiện.
+ Thưởng.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thường xét khen thưởng vào cuối
năm, và từng phòng chuyên môn sẽ đồng ý xét khen thưởng thông qua các tiêu
chí mức độ hoàn thành các nhiệm vụ, mức độ đi làm đúng giờ. Hình thức khen
thưởng chủ yếu là trao các loại giấy khen, bằng khen và một khoản tiền hoặc
một hiện vật theo quy định của cơ quan nhà nước. Các phòng chuyên môn nếu
hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ được thưởng bằng hiện vật hoặc vật chất vào dịp
cuối năm.
+Phúc lợi.
Công tác phúc lợi là rất quan trọng, một chương trình phúc lợi có hiệu quả
sẽ giúp cho việc nâng cao uy tín của tổ chức trên thị trường, thu hút nhân tài và
giữ chân nhân viên giỏi. Đồng thời phúc lợi cũng có vai trò giúp nâng cao đời
sống vật chất, và tinh thần cho cán bộ nhân viên, thúc đẩy họ làm việc và nâng
cao hiệu quả lao động.
Quỹ phúc lợi của Sở được lấy từ ngân sách nhà nước. Sở thực hiện đầy đủ
các chương trình phúc lợi bắt buộc cho cán bộ công nhân viên như: cán bộ công
nhân viên tại Sở đều được hưởng các chế độ Bảo hiểm như Bảo hiểm xã hội,
Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, hàng tháng cá khoản đóng Bảo hiểm đều
được trừ vào tiền lương mà họ nhận được. Ngoài ra các cán bộ, công chức, viên
chức đều được hưởng các loại trợ cấp ốm đau, bệnh tật, thai sản…. Hàng năm
Sở đều tổ chức ít nhất một chuyến du lịch tại các khu du lịch trên phạm vi toàn
quốc cho toàn cán bộ nhân viên, tổ chức các chương trình giao lưu, thể thao, tạo
cho họ một cảm giác vui vẻ, tạo quan hệ gần gũi, bầu không khí tập thể hài hoà
không mâu thuẫn.
Nhìn chung cán bộ nhân viên đều cảm thấy hài lòng với chương trình phúc
lợi cuả Sở. Cán bộ nhân viên làm việc hiệu quả, năng suất, có sự hiểu biết lẫn

hội, kiểm soát chặt chẽ tiến tới giảm dần tệ nạn ma tuý, mại dâm, nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác cai nghiện và quản lý sai cai nghiện, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội. Năm 2012 cần
tập chung vào những nhiệm vụ cần thiết sau:
- Việc làm – An toàn Lao động:
Thực hiện đồng bộ Chương trình mục tiêu Việc làm giai đoạn 2012 – 2015,
thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tiếp tục đề nghị Trung ương và đầu tư cơ
sở vật chất của Trung tâm Giới thiệu việc làm, triển khai sản giao dịch việc làm,
kết nối cung – cầu trên thị trường.
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tăng cường tuyên truyền chính sách, chế độ,
điều kiện, quy trình tuyển chọn, thông tin đầy đủ về thu nhập và sinh hoạt ở các
thị trường để người lao động có điều kiện tiếp cận.
Thực hiện đồng bộ dự án vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, lồng
ghép các chương trình, dự án tạo nhiều việc làm mới là hướng đi lâu dài và hiệu
quả nhằm góp phần thúc đẩy giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Triển khai Chương chình Quốc gia về bảo hộ lao động giai đoạn 2011 –
2015, khuyến khích các doanh nghiệp cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm tốt tập huấn, huấn luyện cho cán bộ
quản lý và lao động làm việc có yêu cầu làm việc nghiêm ngặt về an toàn vệ
sinh lao động.
13


- Lao động – Tiền lương – Bảo hiểm xã hội.
Thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người sử dụng lao
động và người lao động, tăng cườg xây dựng lao động hài hoà, ổn định và tiến
bộ trong doanh nghiệp.
Tiếp tục phối hợp với các hành trình hỗ trợ cho người nghỉ trước
01/01/1995 và số lao động nghỉ việc theo Quyết định 176/QĐ-HĐBT chưa được
hưởng chế độ.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011 –
2015; triển khai thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/05/2011 của Chính
phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020; tiếp tục rà soát
14


đánh giá đúng thực trạng để xây dựng giải pháp huy động nguồn lực thực hiện
xã hội hoá giảm nghèo, từng bước nhân rộng mô hình giảm nghèo phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng địa bàn, từng đối tượng, nhằm mục tiêu giảm nghèo
bền vững đến xã, thôn bản và hộ gia đình. Đổi mới phương pháp thực hiện dự án
nâng cao năng lực giảm nghèo, trong đó đào tạo, tập huấn cán bộ giảm nghèo,
hoạt động truyền thông và giám sát, đánh giá cần tăng cường mở rộng đến thôn,
bản.…
- Bảo trợ xã hội.
Thực hiện kịp thời, đầy đủ chính sách đã ban hành đối với những người yếu
thế, đảm bảo các đối tượng đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp xã hội, tạo
điều kiện để các đối tượng học nghề, vay vốn, tạo việc làm hoà nhập cộng đồng.
Theo dõi sát tình hình thiên tai, bão lụt, thiếu đói giáp hạt, chủ động xây
dựng phương án cứu trợ, đề xuất giải pháp khắc phục hậu quả, nhanh chóng
phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.
Phát triển nghề công tác xã hội theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày
25/03/2010, đào tạo và hình thành mạng lưới cán sự xã hội tại xã, phường, thôn,
bản chăm sóc đối tượng xã hội dựa vào cộng đồng.
- Bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào toàn dân tham gia bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em. Tạo điều kiện để trẻ em được sống trong môi trường thân thiện, lành
mạnh, an toàn; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xâm hại, phân biệt đối xử, ngược đãi
trẻ em. Xây dựng, triển khai thực hiện chương trình hành động quốc gia vì trẻ
em giai đoạn 2011-2020. Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 20112015 theo Quyết định 267/QĐ-TTg ngày 24/10/2010.
+ Phòng, chống tệ nạn mại dâm và cai nghiện phục hồi.

dẫn lồng ghép nội dung bình đẳng giới. Vì sự tiến bộ phụ nữ vào kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội trên địa bản.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Tỉnh Lạng Sơn đặt con người là
trung tâm của mọi sự phát triển, về nâng cao trình độ nhân lực là mối quan tâm
hàng đầu của Sở, có thể nói yếu tố con người là tài sản vô giá của Sở. Do dó mà
rất coi trọng công tác quản trị nhân lực, coi “ quản trị nhân lực là môt nghệ
thuật” trong sử dụng nhân lực phải biết triển khai tiềm năng của mỗi người, để
họ có thể phát huy hết khả năng vốn có của mình. Quản trị nhân lực bao gồm
các hoạt động như hoạch định nguồn nhân lực, tuyển chọn nhân lực, phân tích
và thiết kế công việc, đánh giá thực hiện công việc, các chính sách đào tạo, thù
lao, lương, thưởng ,….

16


Phần II: Chuyên đề chuyên sâu
Đề tài “ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH
LẠNG SƠN”.
2.1. Cơ sở lý luận.
2.1.1. Một số khái niệm
• Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là tổng thể tiềm năng về lao
động của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, là một bộ phận của
các nguồn nhân lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế – xã hội, như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là tiềm năng về lao động và được lượng hoá
hoặc là chỉ tiêu thống kê mà người ta căn cứ vào độ tuổi, khả năng lao động.
Nguồn nhân lực là dân số trong độ tuổi lao động (từ đủ 15 tuổi trở lên) có khả
năng lao động.
Ở Việt Nam, Nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao

quen thuộc lặp đi lặp lại nhiều lần trong một phần nhất định, khi phối hợp với
các công việc khác cần có sự hướng dẫn và giám sát của những người có trình
độ cao hơn. Lành nghề là được trang bị kiến thức và kĩ năng nghề ở diện rộng
chuyên môn sâu, có khả năng đảm bảo được công việc phức tạp của nghề, biết
phát hiện và sửa chữa những trục trặc kĩ thuật, có khả năng đưa ra một số sáng
kiến cải tiến đơn giản trong phạm vi hẹp, có khả năng kiểm tra, hướng dẫn
người khác một số công việc ở mức độ phức tạp trung bình, có tính độc lập và
chịu trách nhiệm cá nhân cao. Lành nghề ở trình độ cao là được trang bị kiến
thức chuyên môn vững vàng, kĩ năng thành thạo, có khả năng tự vận hành được
các thiết bị hiện đại và tự sử lý được các tình huống phức tạp, đa dạng trong một
dây truyền lao động, đọc và vẽ được hầu hết các bản vẽ kĩ thuật, các sơ đồ phức
tạp trong nghề, có khả năng lãnh đạo một nhóm, một tổ về chuyên môn nghề
nghiệp, giám sát và quản lý tốt các lao động bán lành nghề, lành nghề, có tính
độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân cao trong công việc...
• Đào tạo nghề.
Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến
thức về lý thuyết và kĩ năng thực hành một số nghề nào đó để sau một thời
gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm
việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới.
Đào tạo nghề có 3 giai đoạn cơ bản :
+ Đào tạo nghề cho người chưa biết gì về nghề trở thành người bán lành
nghề.
+ Đào tạo nghề cho người bán lành nghề trở thành người lành nghề (trong
đó có nhiều cấp bậc).
+ Đào tạo nghề cho người lành nghề trở thành những người lành nghề ở
trình độ cao.
2.1.2. Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thứ nhất, gắn đào tạo nghề với quy hoạch định hướng phát triển kinh tế, xã
hội của địa phương. Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, các địa
phương xác định nhu cầu đào tạo. Thực tiễn cho thấy, tất cả các xã trong mô

trình đào tạo giúp người học có được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn
nghề nghiệp nhất định để có thể làm việc theo nghề nghiệp đó sau khi ra trường;
đồng thời giáo dục cho người học những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu
nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất.
- Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất. Đây là đặc điểm cơ bản
nhất. Trong quá trình dạy – học, người học muốn nắm được nội dung nghề
nghiệp thì phải trực tiếp nhìn thấy quá trình sản xuất hay ít nhất thấy được mô
hình của nó. Muốn đào tạo nghề có kết quả phải có một số điều kiện cơ bản sau:
Máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ
giáo viên dạy lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư
phạm. Ngoài ra phải tính đến việc sử dụng các thành tựu kỹ thuật, công nghệ, tổ
chức sản xuất theo khoa học. Thiếu những điều kiện này, đào tạo nghề không
thể đạt hiệu quả cao.
- Đào tạo nghề là đào tạo thực hành sản xuất. Nội dung giảng dạy bao gồm
cả lý thuyết và thực hành, nhưng thời gian thực hành sản xuất giữ vai trò chủ
đạo và chiếm khoảng 2/3 thời gian đào tạo. Nội dung dạy lý thuyết và thực hành
được phản ánh trong kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học. Hiện nay,
khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, liên tục đổi mới công nghệ sản xuất. Vì thế,
trong vòng 5 đến 7 năm phải xây dựng danh mục nghề đào tạo một lần. Đây là
điểm khác biệt giữa đào tạo nghề với giáo dục phổ thông.
19


- Hình thức đào tạo đa dạng, phong phú. Đào tạo lưu động, cơ bản không
tập trung tại cơ sở đào tạo. Mở lớp đào tạo tại thôn bản, xã, không cố định tại
một chỗ.
- Đội ngũ giáo viên đa dạng, phong phú:
+ Giáo viên cơ hữu.
+ Giáo viên thỉnh giảng.
+ Giáo viên kiêm chức.

hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. Các dạng biểu hiện khác
đều bị cho là không thuộc phạm vi hoặc sự biến dạng của lý thuyết này”
(Fitzimons, 1999).
20


Nội dung chính của lý thuyết trên cho rằng, các cá nhân đầu tư vào giáo dục
và đào tạo nghề nhằm tích luỹ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, những
cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là nhân tố cơ bản cho sự phát
triển bền vững. Chính sự đầu tư này, dưới giác độ xã hội, tạo ra chất lượng
nguồn nhân lực và do đó, cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế. Nhà kinh tế học Becker đã đưa ra bằng chứng về mối tương
quan giữa trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và thu nhập: học vấn và kỹ
năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại. Khảo sát của Viện Nghiên
cứu Khoa học Dạy nghề cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người qua
đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông, thậm chí còn thấp hơn
cả tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học (Mạc Văn Tiến và cộng
sự, 2006). Đây chính là động lực để con người đầu tư vào giáo dục- đào tạo và
đào tạo nghề đồng thời có đã tác động tích cực làm cho chất lượng nguồn nhân
lực được nâng lên.
- Thứ ba, giáo dục- đào tạo nghề tạo ra sự “tranh đua” xã hội và trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ
năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với
những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm
người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được
việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội. Nhưng dù
sao, những trợ cấp đó chỉ mang tính tức thời, giúp họ “cầm cự” được trong cuộc
sống thường nhật, tạo cơ hội cho họ quay trở lại thị trường lao động. Nhưng nếu
những người này không tự tạo cho họ năng lực, nâng cao “vốn nhân lực” của
mình thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “bật” ra khỏi thị trường lao động. Muốn

6,7% GDP, Pháp 5,7%, Nhật 5,0... Ngoài ra, Chính phủ các nước công nghiệp
phát triển còn có chính sách huy động sự tham gia mạnh mẽ cuả các doanh
nghiệp, các tập đoàn lớn đầu tư cho phát triển giáo dục nghề nghiệp, nhất là phát
triển các trung tâm đào tạo chất lượng cao, tạo ra những nhà kỹ thuật, những nhà
phát minh, sáng chế hàng đầu trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. tạo
cho Nhật bản một vị thế là cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới.
Ngay ở Đông Nam Á, một số nước cũng đã có chiến lược đầu tư cho phát
triển giáo dục- đào tạo nghề khá ấn tượng, trong đó phải kể đến Brunei. Để trang
bị cho thế hệ trẻ những kiến thức và kỹ năng trong một thế giới hiện đại, Quốc
vương đã đề ra một số định hướng về chiến lược được gọi là " Hệ thống giáo
dục quốc gia cho thế kỷ XXI- SPN 21", hướng tới đào tạo con người phát triển
cả về trình độ và kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của các ngành, nghề cần thiết trong
những thập niên đầu thế kỷ mới; đồng thời, nâng cao trình độ kiến thức và kỹ
năng cho đội ngũ giáo viên, những người làm công tác giảng dạy, có tính chất
quyết định đối với công tác đào tạo thế hệ tương lai…
Ở nước ta, ngay từ Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Phát triển
giáo dục- đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững”. Phát triển giáo dục- đại học gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội;
xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; thực
hiện công bằng trong giáo dục.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã đề ra chủ trương phát
triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triển mạnh
hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung
cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu
lao động” và “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với
trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích
22


từ 15 km trở lên.
- Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập
của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và
dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ
trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ
sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa
học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
- Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành
về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở

23


nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản
vay để học nghề.
- Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng
chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập tối
đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao
đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội
trú.
- Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về
việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
• Chính sách đối với giáo viên, giảng viên
- Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản,
phum, sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy
nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động
hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công
tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum,
sóc.

trung tâm dạy nghề năm 2009 được hỗ trợ đầu tư xưởng thực hành, ký túc xá;
nhà công vụ cho giáo viên, nhà ăn, ô tô bán tải hoặc thuyền máy để chuyên chở
thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động, thiết bị dạy nghề cho 3 nghề
phổ biến và 3 - 4 nghề đặc thù của địa phương.
- 116 huyện đồng bằng mới thành lập trung tâm dạy nghề năm 2009 được
hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề.
- 09 trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở 09 tỉnh tập trung nhiều làng
nghề truyền thống được hỗ trợ đầu tư xây dựng và thiết bị dạy nghề.
- Tiếp tục hỗ trợ đầu tư thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề công
lập huyện được đầu tư giai đoạn 2006 - 2009 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu
đảm bảo chất lượng dạy nghề.
- Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho 100 trung tâm giáo dục
thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham gia dạy nghề
cho lao động nông thôn.
- Các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trường đại
học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã
hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở tư thục; trung tâm giáo dục thường
xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung
tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông
trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh
dịch vụ … có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy
nghề cho lao động nông thôn và được cung cấp chương trình, giáo trình, học liệu
và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề.
- Trình độ học vấn của đa số nông dân và lao động nông thôn còn thấp;
phần lớn lao động nông thôn nhất là lao động làm nông nghiệp và là lao động
lớn tuổi (khoảng từ 35 tuổi trở lên), do đó ít nhiều có tâm lý ngần ngại, sợ gặp
khó khăn khi tham gia học nghề;
- Ảnh hưởng của nền kinh tế tiểu nông, nhỏ lẻ, tập quán sản xuất, canh tác
theo kinh nghiệm lâu đời, cha truyền con nối,… tâm lý ít muốn thay đổi, ngại
tiếp thu cái mới, chỉ quan tâm cái lợi trước mắt, chưa quan tâm đến lợi ích lâu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status