đào tạo nghề cho lao động nông thôn hà tĩnh - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THÀNH NAM

ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HÀ TĨNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
1.1.3. Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn 14
1.1.4. Nội dung và hình thức đào tạo nghề: 15
1.1.5. Các yếu tố ảnh hƣớng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn 18
1.2. Kinh nghiệm và bài học rút ra từ công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn của tỉnh Quảng Trị. 22
1.2.1. Kinh nghiệm công tác đào tạo nghề 22
1.2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra 28
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN HÀ TĨNH TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 30
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Hà Tĩnh 30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội 32
2.1.3. Một số khó khăn, hạn chế 37
2.2. Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh . 38
2.2.1. Mạng lƣới, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề (Bảng 3) 38
2.2.2. Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 41
2.2.3. Đội ngũ giáo viên dạy nghề 43
2.2.5. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại các xã điểm xây dựng
nông thôn mới (Bảng 4) 45
2.3. Đánh giá chung về thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Hà Tĩnh. 49
2.3.1.Ƣu điểm 49
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 51
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HÀ TĨNH THỜI GIAN TỚI 55
3.1. Quan điểm và mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh 55
3.1.1. Quan điểm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 55
3.1.2. Mục tiêu về đào tạo nghề 56
3.2. Giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Hà Tĩnh 58

ĐH -CĐ
Đại học, cao đẳng
7
GD- ĐT
Giáo dục – đào tạo
8
GQVL
Giải quyết việc làm
9
GVDN
Giáo viên dạy nghề
10
KHCN
Khoa học công nghệ
11
KT- XH
Kinh tế - xã hội
12
KTNN
Kinh tế nông nghiệp
13
LĐ, TB & XH
Lao động- Thƣơng binh và Xã hội
14

Lao động
15
LĐNT
Lao động nông thôn
16

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội
có tính toàn cầu, là sự quan tâm đặc biệt của mỗi một quốc gia trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chủ nghĩa xã hội trƣớc hết là nhằm làm
cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi ngƣời có công ăn,
việc làm, đƣợc ấm no và đƣợc sống hạnh phúc”. Đối với các nƣớc đang phát
triển có lực lƣợng lao động lớn nhƣ Việt Nam đào tạo nghề là tiền đề quan
trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình
thành thể chế kinh tế thị trƣờng, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến
kịp khu vực và thế giới.
Đảng, Nhà nƣớc ta đã đề ra nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối thiết thực, hiệu
quả trong công tác đào tạo nghề cho lao động, nhất là lao động nông thôn
nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, chuyển
đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá, tạo nhiều việc làm cho ngƣời lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện
đời sống của nhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rõ: " Hoàn thiện pháp
luật về dạy nghề, ban hành chính sách ƣu đãi về đất đai, thuế, đào tạo giáo
viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham
gia đào tạo nghề. Đổi mới phƣơng thức, nâng cao chất lƣợng dạy và học, gắn
dạy nghề với nhu cầu thực tế" [5, tr 227]. . Mặt khác nƣớc ta đang trong thời
kỳ hội nhập mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) sẽ làm tăng cơ hội việc làm, sẽ xuất hiện
những nghề mới ở các lĩnh vực, khu vực mới.

2
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá mạnh mẽ nhƣ hiện nay sẽ xảy ra

phục vụ công tác dạy nghề cho lao động nông thôn; sự phối hợp giữa các cấp,
các ngành trong tổ chức thực hiện chƣa chặt chẽ…
Từ đó những câu hỏi đặt ra là: Tầm quan trọng của công tác đào tạo
nghề đối với lao động nông thôn Hà Tĩnh? Công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn Hà Tĩnh trong thời gian qua nhƣ thế nào? Những giải pháp
chủ yếu nào đƣợc đƣa ra để thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề cho
lao động nông thôn Hà Tĩnh?
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên tác giả đã chọn Đề tài "Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh" để thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Qua đó, nhằm phân tích thực trạng, đồng thời đề xuất những giải pháp chiến
lƣợc trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề giải quyết việc
làm cho ngƣời lao động theo những hƣớng khác nhau, có thể kể tên một số
công trình tiêu biểu sau:
“Dạy nghề cho lao động nông thôn - Mục tiêu và Chính sách” của tác
giả Phạm Văn Luyện, Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động Thƣơng binh và xã
hội. Tác giả nhấn mạnh một số kết quả đạt đƣợc và những bất cấp trong công
tác đào nghề cho lao động nông thôn hiện nay và đƣa ra mục tiêu tổng quát,
mục tiêu cụ thể và việc thực hiện các chính sách đƣợc đƣa ra trong Đề án đào
tạo nghề cho lao động nông thôn của Chính phủ.
“Kỹ năng tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm cho lao động nông
thôn” của tác giả Vũ Xuân Hùng, Tổng cục dạy nghề. Tác giả cho rằng việc

4
tuyên truyền đƣợc coi là một trong những giải pháp và hoạt động quan trọng
trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cho nên, cần nâng cao
nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội, cán bộ, công chức và lao
động nông thôn về vai trò đào tạo nghề đối với tạo việc làm, tăng thu nhập và

“Sự tham gia của cơ sở dạy nghề trong việc triển khai thực hiện thí
điểm mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn theo vị trí việc làm tại doanh
nghiệp và đưa doanh nghiệp về khu vực nông thôn”, tác giả: Phạm Vũ Khiêm,
Hiệu trƣởng Trƣờng Cao đẳng nghề Long Biên. Theo tác giả: Ở khu vực nông
thôn, nguồn nhân lực dồi dào, trong khi diện tích đất lại bị thu hẹp do chuyển
đổi cơ cấu nông nghiệp thành công nghiệp, vì vậy ngƣời lao động nông thôn
cần phải chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp với bản thân mình.
“Tổ chức dạy nghề gắn với thế mạnh của địa phương và việc hỗ trợ
vốn, xây dựng thương hiệu hàng hóa và tổ chức thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho lao động nông thôn” của Ban Chỉ đạo Đề án 1956 tỉnh Bắc Kạn. Trong
đó, nhấn mạnh Ban Chỉ đạo tỉnh đã chỉ đạo kịp thời các ngành, địa phƣơng,
các cơ sở dạy nghề tổ chức thực hiện các hoạt động của Ban Chỉ đạo Đề án
Chính phủ; đã ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, hƣớng dẫn và tạo điều kiện
cần thiết để triển khai các hoạt động của Đề án tại tỉnh.
“Nâng cao chất lượng lao động trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế của
Phạm Văn Tuyền. Trong luận văn tác giả đã làm rõ thêm một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn chất lƣợng lực lƣợng lao động trong điều kiện kinh tế thị
trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa; làm rõ
thực trạng chất lƣợng lực lƣợng lao động hiện nay ở tỉnh Thanh Hóa. Tìm ra

6
những bất cập giữa chất lƣợng lực lƣợng lao động và yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đề
xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng lực lƣợng lao động tỉnh
Thanh Hóa.
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn chất lượng chưa theo kịp số
lượng” của tác giả Diệp Anh đăng trên báo Hà Tĩnh, số tháng 7/2013. Tác giả
cho rằng: Qua 3 năm triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
theo Quyết định 1956-QĐ/TTg, Hà Tĩnh đã tổ chức đƣợc hàng trăm lớp dạy

lao động nông thôn… Tuy nhiên, chƣa có công trình nào đề cập và phân tích
một cách có hệ thống vấn đề đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn ở Hà
Tĩnh thực sự thiết thực trong thời gian gần đây. Do vậy, Đề tài là một công trình
nghiên cứu có tiếp thu những thành tựu khoa học có liên quan nhƣng có tính độc
lập, không lặp lại các công trình khác.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hà Tĩnh thời gian qua, từ đó đề
xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo nghề
cho lao động nông thôn ở Hà Tĩnh. Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Đề tài tập
trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào
tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

8
- Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông
thôn ở Hà Tĩnh những năm tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở
Hà Tĩnh. Tập trung vào các đối tƣợng chính sách ƣu đãi ngƣời có công với
cách mạng, hộ nghèo, ngƣời tàn tật, ngƣời bị thu hồi đất canh tác; lao động
thuộc diện hộ cận nghèo và các đối tƣợng lao động nông thôn khác ở khu vực
nông thôn ở Hà Tĩnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và sự cần
thiết đào tạo nghề; phân tích đánh giá thực trạng đào tạo nghề trong thời gian
qua từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác
đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hà Tĩnh
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.1. Khái niệm đào tạo nghề:
* Nghề: Theo giáo trình Kinh tế lao động của trƣờng Đại học kinh tế
quốc dân Hà Nội: Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống
phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà
một ngƣời lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong
một lĩnh vực lao động nhất định.
Quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định về khái niệm
nghề. Cho đến nay thuật ngữ “Nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau. Đối với nƣớc Nga, “Nghề” đƣợc định nghĩa "Là một loại hoạt
động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thƣờng là nguồn gốc của sự
sinh tồn"; Khái niệm “Nghề” ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về
kỹ năng, kỹ xảo của một ngƣời để từ đó tìm đƣợc phƣơng tiện sống"; Khái
niệm “Nghề” ở Anh: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong
khoa học nghệ thuật"; Khái niệm “Nghề” ở Đức: "Là hoạt động cần thiết cho
xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở trình độ
nào đó".
Còn đối với Việt nam, nhiều định nghĩa nghề đƣợc đƣa ra trong đó có
định nghĩa: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội
quy định mà giá trị của nó trao đổi đƣợc. Nghề mang tính tƣơng đối, nó phát

dạy nghề và học nghề. Dạy nghề “Là hoạt động dạy nghề và học nhằm trang

12
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để
có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”.
Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
của ngƣời lao động để đạt đƣợc một trình độ nghề nghiệp nhất định”. [2, tr 1].
Đào tạo nghề cho ngƣời lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
ngƣời lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo
nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề. Theo giáo trình Kinh tế lao
động của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội thì: Đào tạo nghề là đào tạo
nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn
nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận đƣợc một số công việc
nhất định.
Nhƣ vậy, các khái niệm trên đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến
thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể
hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao ngƣời lao động ngay
trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn
nhân lực, coi công nhân nhƣ cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên
tiến hiện nay.
Thực tế, trong các văn bản pháp quy chính thức, cũng nhƣ trong đời sống
xã hội, các thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” đƣợc dùng khá phổ
biến, còn thuật ngữ “đào tạo lao động kỹ thuật” chỉ mới xuất hiện gần đây.
Đây cũng chính là bƣớc phát triển mới về tƣ duy nhằm làm rõ hơn và nâng
lên tầm cao mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp so với quan niệm truyền
thống trƣớc đây coi đào tạo nghề chỉ là đào tạo lực lƣợng lao động chân tay,
mang tính cơ bắp, trong quá trình lao động chủ yếu sử dụng lao động cơ bắp
của con ngƣời. Quan niệm này về dạy nghề không còn phù hợp với nền sản
xuất hiện đại. Khái niệm dạy nghề theo quan niệm mới phải phù hợp với điều
kiện kỹ thuật - công nghệ phát triển, sử dụng trong sản xuất ngày càng phổ

ngƣời trong độ tuổi có khả năng lao động nhƣng hiện tại chƣa tham gia hoạt
động kinh tế.
Đặc điểm của ngƣời nông dân và lao động nông thôn nƣớc ta là cần cù,
chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho
hoạt động của mình. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của LĐNT trong
giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán làm việc theo cảm tính,
ngƣời nông dân không có sự tƣ vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của
những ngƣời có kinh nghiệm; thiếu việc làm, không tìm đƣợc việc làm, thời
gian nhàn rỗi; phần lớn chƣa có nghề và chƣa đƣợc đào tạo nghề một cách bài
bản là những đặc trƣng cơ bản của LĐNT. Chính đặc điểm của ngƣời nông
dân nhƣ trên làm cho vai trò đào tạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định
sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và
thành công của phong trào xây dựng nông thôn mới nói riêng.
1.1.3. Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt vừa có
tính nhân văn, vừa có tính xã hội cao cả, có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển vốn con ngƣời, nguồn nhân lực, tăng trƣởng kinh tế, tạo việc làm, tăng
thu nhập cho ngƣời lao động, giảm nghèo, thực hiện dân chủ, công bằng xã
hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đào tạo nghề là một trong
những giải pháp đột phá của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đào
tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp, phục
vụ CNH, HĐH; góp phần đảm bảo an ninh xã hội. Thực tiễn quá trình phát
triển kinh tế tại Việt Nam, khi lao động nông thôn đƣợc sử dụng tốt thì kinh tế
phát triển nhanh và bền vững, nhất là quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa
cần hết sức chú trọng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn để tránh rơi vào
tình trạng khó khăn, gây lãng phí nguồn lao động nông thôn. Vì vậy, đào tạo

15
nghề và nâng cao chất lƣợng ĐTN cho lao động nói chung và lao động nông
thôn nói riêng là yêu cầu cấp bách của nền kinh tế.

b. Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định
các hình thức đào tạo thích hợp. Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế
hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào
tạo. Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo
này hay hình thức đào tạo khác. Những hình thức đào tạo nghề đang đƣợc áp
dụng chủ yếu hiện nay là:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc,
chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức. Kèm
cặp trong sản xuất đƣợc tiến hành dƣới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân
và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất. Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học
nghề đƣợc một công nhân có trình độ tay nghề cao hƣớng dẫn. Ngƣời hƣớng
dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch. Với hình thức kèm
cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề đƣợc tổ chức thành từng tổ và phân
công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ
nghề nghiệp và phƣơng pháp sƣ phạm nhất định. Quá trình đào tạo đƣợc tiến
hành qua các bƣớc:
Bƣớc 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa
hƣớng dẫn thợ học nghề. Trong bƣớc này, ngƣời hƣớng dẫn vừa sản xuất vừa
phải giảng cho ngƣời học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành,
qui trình công nghệ, phƣơng pháp làm việc. Ngƣời học theo dõi những thao
tác, phƣơng pháp làm việc của ngƣời hƣớng dẫn. Đồng thời doanh nghiệp

17
hoặc phân xƣởng tổ chức dạy lý thuyết cho ngƣời học do kỹ sƣ hay kỹ thuật
viên đảm nhận.
Bƣớc 2: Giao việc làm thử, ngƣời học bắt tay vào làm thử dƣới sự kiểm
tra uốn nắn của ngƣời hƣớng dẫn.
Bƣớc 3: Giao việc hoàn toàn cho ngƣời học nghề khi ngƣời học nghề có
thể tiến hành công việc độc lập đƣợc, nhƣng vẫn theo dõi, hƣớng dẫn giúp đỡ

động; ngƣời học sẽ có thể vừa học, vừa thực hành nâng cao tay nghề và
chuyên môn trong thời gian ngắn. Tuy là loại hình đào tạo ngắn hạn nhƣng để
thu hút ngƣời học cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng cho ngƣời học thì các trung
tâm phải đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất trang thiết bị giảng dạy, bên
cạnh đó đội ngũ giáo viên phải có trình độ năng lực, nhất là năng lực thực
hành để truyền đạt kỹ năng thực hành một cách hiệu quả nhất cho học viên để
trong thời gian ngắn có thể trang bị cho họ tay nghề đáp ứng yêu cầu thị
trƣờng lao động.
1.1.5. Các yếu tố ảnh hướng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn
a. Hệ thống cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách của Nhà nƣớc có ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển
đào tạo nghề cả về quy mô, cơ cấu và chất lƣợng đào tạo nghề nói chung và
đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng. Các chính sách chung khuyến
khích phát triển hệ thống đào tạo lao động kỹ thuật chủ yếu tác động vào
những mặt, những khâu trọng yếu để tạo ra khuôn khổ pháp lý, môi trƣờng
kinh tế - xã hội – tâm lý khuyến khích tất cả các lực lƣợng xã hội tham gia
phát triển dạy nghề. Nếu không có hệ thống chính sách đồng bộ thì công tác
đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ không có căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ
chức thực hiện. Để tạo động lực phát triển đào tạo nghề nói chung, đào tạo
nghề cho lao động nông thôn nói riêng, cần phải hoàn thiện hệ thống văn bản

19
quy phạm pháp luật và hệ thống chính sách liên quan. Tập trung xây dựng
một số chính sách về đầu tƣ, kế hoạch tài chính; chính sách về đào tạo, bồi
dƣỡng giáo viên dạy nghề; chính sách đối với ngƣời học nghề… Nâng cao
năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Xây dựng các
cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các doanh
nghiệp, ngƣời sử dụng lao động đối với lao động sau đào tạo, phát triển các
dịch vụ tƣ vấn cho lao động nông thôn tham gia học nghề.


cũng rất khác nhau (chƣa có nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, bồi dƣỡng,
nâng bậc thợ). Sự khác biệt này đòi hỏi đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất
đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau, giáo viên phải có đủ cả về số lƣợng
và chất lƣợng mới có thể đáp ứng yêu cầu.
Đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề cũng có ảnh hƣởng quan trọng đến chất
lƣợng đào tạo nghề, nhất là trƣớc bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh
trong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những ngƣời
thực sự có trình độ, năng lực, đạo đức, phẩm chất để quản lý, điều hành công
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn có hiệu quả.
* Đối tƣợng học nghề: là nhân tố quan trọng, có tính chất quyết định đối
với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Trình độ văn hóa, sự hiểu
biết, tâm lý, nhu cầu…của ngƣời học đều có ảnh hƣớng tới quy mô và chất
lƣợng đào tạo. Trình độ văn hóa cũng nhƣ khả năng tƣ duy của ngƣời lao
động càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề
càng tốt, khi ấy chất lƣợng đào tạo nghề càng cao và ngƣợc lại.
* Chƣơng trình, giáo trình đào tạo: Chƣơng trình đào tạo là điều kiện

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm rút ra Điều kiện tự nhiên Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status