Vai trò của nguyễn ái quốc với phong trào cách mạng ấn độ những năm 20 thế kỷ XX - Pdf 34

(TG) - Với cương vị là một chiến sĩ cộng sản quốc tế, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp
mình”, Nguyễn Ái Quốc không chỉ cổ vũ, đấu tranh cho dân tộc mình mà còn có những đóng
góp quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Ấn
Độ ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, “một biểu tượng kiệt
xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc Việt Nam”[1]. Người là “một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ
XX”[2], không chỉ đối với lịch sử dân tộc mà còn có những đóng góp vô cùng lớn lao cho lịch sử phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế; cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Tiêu
biểu và nổi bật cho những cống hiến đó, được thể hiện trong vai trò của một chiến sĩ cộng sản quốc tế
đối với phong trào cách mạng Ấn Độ.
Sau khi trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm nhiều đến phong trào cách mạng
thuộc địa ở Châu Á, trong đó có Ấn Độ - quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế
giới và tiếp tục nở rộ những tư tưởng Phật giáo, nghệ thuật và khoa học. Nhưng thực dân Anh đã xâm
lược và thống trị Ấn Độ một thời gian dài - hàng trăm năm. Để giành lại độc lập, tự do của mình, nhân
dân Ấn Độ đã anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.
Chính sách của thực dân Anh là dùng người Ấn trị người Ấn, họ xúi giục người Ấn theo đạo Hồi chống lại
đạo Bàlamôn, nay khen thưởng tiểu vương này, mai vỗ về tiểu vương khác (hồi đó Ấn chia làm trên 600
tiểu quốc), cho họ ghen tị nhau mà tranh nhau trung thành với Anh Hoàng. Nhờ thủ đoạn ấy và nhờ khí
giới tối tân nhất mà một nhóm người Anh giữ được một thuộc địa trên 300 triệu dân – “một xứ dân đông
gần gấp mười nước Anh hồi đó”[3].
Với vốn hiểu biết sâu rộng, tư duy chính trị nhạy bén cùng với vốn thực tiễn phong phú và ngòi bút sắc
sảo của mình, từ những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã có khá nhiều bài viết
về Ấn Độ. Người đã đấu tranh với chủ nghĩa thực dân bằng nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu là thông
qua các cơ quan ngôn luận, báo chí. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc không chỉ chứng tỏ rằng sự hiểu
biết của Người là rất sâu sắc mà còn xác nhận cương vị của một chiến sĩ quốc tế thông cảm, chia sẻ nỗi


khổ nhục, chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh, gây cho họ lòng tin vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân
tộc. Vai trò của Người đối với cách mạng Ấn Độ lúc đó được thể hiện ở những điểm sau:

công và đấu tranh vũ trang của quần chúng diễn ra sôi nổi nhưng đã bị thực dân Anh đàn áp dã man,
như cuộc bạo động của nông dân ở Malaba (Tây Nam Ấn Độ). Người viết: “Các cuộc khởi nghĩa ở Malaba
đang được dư luận hết sức chú ý. Đế quốc Anh đang phải chống đỡ khắp nơi. Nhắc lại lịch sử phong trào
cách mạng Ấn Độ lúc này là một việc lý thú”[8]. Đồng thời, Người nhắc lại truyền thống lịch sử đấu tranh
quật cường của mọi tầng lớp nhân dân Ấn Độ như là sự cổ động và kịp thời động viên tinh thần nhân
dân Ấn Độ trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Anh thống trị, bóc lột.
Lịch sử phong trào cách mạng ở Ấn Độ đã thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của
nhân dân trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống đế quốc Anh xâm lược. Người đã nêu những
tấm gương điển hình trong các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau như: “Năm
1880, nhà Triết học Rama Kơrisơna dùng tôn giáo để truyền bá cách mạng…”; sau đó, “Đamôđa và
Bankơrisơna kế tục sự nghiệp của Rama và giáo dục chủ trương cách mạng một cách dũng cảm, công
khai”[9]. Hoặc nhà báo TiLắc, thông qua ngòi bút sắc sảo của mình thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu
tranh. Bài viết xuất sắc của TiLắc - “Lời than của Xiôgi” có nội dung kể như sau: “Một ông vua tỉnh dậy từ
dưới mồ sâu, trở lại thăm vương quốc thân yêu, ông rất buồn khi thấy thần dân của mình phải chịu kiếp
nô lệ, khổ nhục. Ông kêu gọi tất cả những người Ấn Độ hãy thức tỉnh và hợp lực để lật đổ ách ngoại
bang và giành lại nền độc lập mà ông đã truyền lại cho họ”[10]. Thông qua các câu chuyện, Nguyễn Ái
Quốc muốn thức tỉnh quần chúng nhân dân Ấn Độ phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết đứng lên đấu
tranh giành lại độc lập dân tộc.


Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc cũng nêu ra những tấm gương nhà báo lao động hăng say, quên mình, những
biên tập viên, các báo xã hội chủ nghĩa như tờ Kêxari, Vihari… “Họ viết không lấy tiền và đôi khi còn được
trả công bằng những tháng, thậm chí những năm tù… Nhưng điều đó không làm thay đổi thái độ lẫn cách
suy nghĩ của họ”[11].
Bên cạnh đó, hàng loạt những hoạt động đấu tranh sôi nổi của nhân dân diễn ra ở Ấn Độ, cuộc vận
động đặc biệt lên cao từ sau chiến tranh Nga – Nhật. Cuộc đấu tranh đó thể hiện rõ tinh thần dân tộc
của người Ấn Độ, chẳng hạn: “Tượng nữ hoàng Víchtoria bị bôi nhọ vào đêm trước lễ kỷ niệm ngày sinh
của nữ hoàng. Bài hát Banđênataran – Bài Mácxâye của người Ấn Độ - được phổ biến nhanh chóng và
được hát bằng tất cả các thổ ngữ của người Ấn Độ”. Ngoài ra, việc tẩy chay hàng hóa Anh và làm tan rã
tinh thần các đơn vị lính bản xứ được nghiên cứu rất công phu; nhiều trung đoàn nổi lên bạo động…

thường niên năm 1929 ở Lahor…, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Vào lúc nửa
đêm ngày cuối cùng năm 1929, bước sang năm 1930, Nêru đã trịnh trọng kéo lá cờ đỏ ba sắc đỏ, trắng,
xanh lá cây (sau này màu đỏ được thay bằng màu vàng nghệ) được chọn làm quốc kỳ của nước Ấn Độ
độc lập trong tiếng hô vang của các đại biểu: “cách mạng muôn năm”. Ngay sau đó, nhiều cuộc biểu tình
đã được tổ chức ở toàn Ấn Độ vào ngày 26-1-1930. Ngày 26-1 được coi là ngày độc lập đầu tiên của Ấn
Độ. Hàng năm, cứ đến ngày 26-01, nhân dân Ấn Độ lại kỷ niệm “Ngày Độc lập” của mình”[14].
Trong “Thư gửi từ Ấn Độ”, với bút danh WANG, trên Tập san Inprekorr (Thư tín quốc tế), số 28, ngày 173-1928, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày thực trạng phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ, đặc biệt là ở
Bombay, Mađrat, Amêđabát… Người khẳng định: “Chưa bao giờ - ngay cả trong thời kỳ mà phong trào
bất hợp tác theo chủ trương của Găngđi lên đến tột đỉnh – tinh thần của đất nước sôi động đến mức
đó”[15].


Nhờ đó, không chỉ người Ấn Độ quan tâm đến vấn đề này mà ngay cả những người yêu chuộng hòa
bình, công lý, kể cả người Anh cũng kêu gọi nhân dân Ấn Độ đứng lên đấu tranh, bảo vệ độc lập dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra tấm gương điển hình là nữ tiến sĩ Bidan, một cụ bà 70 tuổi người Anh, trở
thành người dân tộc chủ nghĩa Ấn Độ đầy nhiệt huyết, rất tích cực trong phong trào dân tộc và được
nhân dân Ấn Độ rất yêu mến. Bà đã đưa ra lời kêu gọi vang dội: “Hỡi những người cách mạng của Ấn
Độ! Hãy đứng lên và đoàn kết lại! Tổ quốc cần đến tất cả các người”[16].
Thông qua những ví dụ cụ thể, những tấm gương điển hình, những sự kiện khác nhau, Nguyễn Ái Quốc
đã biểu dương tinh thần yêu nước sâu sắc, ý thức dân tộc chân chính của người Ấn Độ và những người
yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới.
Ba là, bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Ấn Độ,
đồng thời bổ sung vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – Lênin lý luận về thuộc địa.
Với những bằng chứng cụ thể, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời
thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đi theo lời kêu gọi của C.Mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết
lại”, đi theo con đường của cách mạng Tháng Mười Nga, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng để tự
giải phóng mình.
Sau khi bắt gặp chân lý cách mạng của thời đại (1920), tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân
tộc Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có những hoạt động lý luận và thực tiễn hết sức sôi nổi để
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

con đường cách mạng vô sản và đường lối của Quốc tế Cộng sản. Vì những lẽ đó, Hồ Chí Minh không chỉ
được UNESSCO tôn vinh với danh hiệu kép, là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của Việt
Nam mà còn được coi là Người khởi xướng cho phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa
thế kỷ XX. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, Việt


Nam cần kế thừa, phát huy hơn nữa các mối quan hệ truyền thống tốt đẹp đối với các nước trong khu
vực và trên thế giới, trong đó có Ấn Độ./.
ThS. Nông Thị Xuân
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status