Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc ra đời của Đảng
Cộng Sản Việt Nam
I.Tìm ra con đường giải phóng Việt Nam theo con đường
CMVS (1911-1920)
1 . Bối cảnh lịch sử Việt Nam khi Bác ra đi tìm đường cứu nước
a)Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các hiệp ước
Harmand( 1883), Patenotre (1884), đầu hàng thực dân Pháp, song phhong trào
đấu tranh chống thực dân Pháp vẫn diễn ra.
Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do
Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động đã mở cuộc tấn công trại lính Pháp ở
cạnh kinh thành Huế(1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi
chạy ra Tân Sở( Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó hàm Nghi bị
Bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Kì,
Bắc Trung Kì, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và
Đình Công Tráng( 1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật(1883-1892),
Hương Khê của Phan Đình Phùng(1885-1895). Cùng với thời gian này còn nổ
ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài
đến năm 1913.
Phong trào Cần Vương thất bại chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong
kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra.
b) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
Đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoiaf,
chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà
nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Ông lập ra Hội Duy Tân( 1904),
tổ chức phong trào Đông Du( 1906-1908). Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật để
chống đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm chờ thời cơ. Giữa lúc đó CM
Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi(1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam
Quang Phục Hội( 1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ
trang bạo đông chống Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành
công.
tranh đòi thả Phan Bội Châu(1925), lễ truy điệu và tang Phan Chu Trinh, đấu
tranh để thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh(1926). Cùng với phong trào đấu
tranh chính trị, tiểu rư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa
tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tụ do dân chủ. Tuy nhiên, càng về
sau, cùng với sự thay đổi của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng
bị phân hóa mạnh. Có bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư
sản, có bộ phận chuyển dần sang quỹ đạo CMVS( tiêu biểu là Phục Việt, Hưng
Nam).
Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời
và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng( 25-12-1927). Cội nguồn Đảng này
là Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài,Nguyễn
Khắc Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của
khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiếu tư sản ,
địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp.
Về tư tưởng, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theio chủ trương đánh đuổi
đế quốc, xóa bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có
một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng
chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng chưa bao giờ có
một hệ thống tổ chức thống nhất.
Ngày 9-2-1929, một số Đảng viên của Việt Nam quốc dân Đảng ám sát tên
trùm mộ phu Badanh( Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên khủng bố phong
trào yêu nước. Việt Nam quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế
hết sức bị động, các lãnh tụ của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một
trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng “ không thành công cũng thành nhận”.
Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên
Bái bùng nổ với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. Ở một số
địa phương như Thái Bình, Hải Dương…cũng có những hoạt động phối hợp.
Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực
dân Pháp dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng
hàng ngàn chiến sỹ yêu nước bị bắt và kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn
Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách
mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.
Một cuộc khảo sát có một không hai ở Mỹ, Anh và Pháp đã giúp Nguyễn Ái
Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo,
người áp bức và người bị áp bức. Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc bản chất
của chủ nghĩa đế quốc.
Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo
khổ. Nguyễn Tất Thành nói với người bạn “Tại sao người Pháp không “khai
hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?”.
Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh
khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất
Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay
da đen cũng không đáng một xu.
Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ, Người dành một phần
thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập,
nghiên cứu Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi thăm pho tượng Thần Tự do,
Nguyễn Tất Thành không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà xúc
động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng.
Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở lại
Pháp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh mạng, phá huỷ
vô vàn của cải. Qua đó Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa
tư bản.
Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư
sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy,
Người vẫn đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là “những cuộc cách mạng
không đến nơi”.
Vào cuối năm 1917, giữa lúc chiến tranh Thế giới sắp kết thúc, Người trở lại
nước Pháp. Tại đây, Người lao vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp,
tham gia Đảng Xã hội Pháp, lập ra hội những người Việt Nam yêu nước với tờ
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những
người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa
số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ
nghĩa xã hội?
Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc
ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều
cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-
1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong
trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra
quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngày trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục
theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ
ba, con đường cách mạng.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng
những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ
con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của
Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế
thứ hai. Luận cương của Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu
nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành
Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô
sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người
Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.