VAI TRÒ CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC THÀNH LẬP
ĐẢNG CSVN?
- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công,
Người tham gia những hoạt động chính trị sôi nổi ngay trên đất Pháp như : tham gia hoạt
động trong phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp.
- Tháng 6 - 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp
gửi “ Bản yêu sách 8 điểm” đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và
đòi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc
Việt Nam.
Mặc dù không được chấp nhận, nhưng “ Bản yêu sách” đã gây tiếng vang lớn đối với
nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp. Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc từ đó
được nhiều người biết đến.
- Tháng 7-1920 : Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận
cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình. Từ đó, Người
hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đi theo Quốc tế thứ III.
- Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua vào cuối tháng 12-1920,
Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III, tham gia sáng lập
Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ
lập trường yêu nước chuyển sang lập trường Cộng sản.
- 1921: Người sáng Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp để tuyên truyền, tập hợp lực
lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- 1922 : Ra báo “ Le Paria” ( Người cùng khổ ) vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã
man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải
phóng.
- 1923 : Sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế Cộng
sản.
- 1924 : Dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.
Ngoài ra, Người còn viết nhiều bài cho báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân và viết cuốn
sách nổi tiếng “ Bản án chế độ thực dân Pháp” - đòn tấn công quyết liệt vào chủ nghĩa
độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn dân tộc diễn ra hết sức gay
gắt, hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau liên tiếp nổ ra
nhằm giải quyết mâu thuẫn chủ yếu đó. Tiêu biểu là phong trào Cần Vương do vua Hàm
Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu; phong
trào cải cách của Phan Chu Trinh, khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị
thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả
năng tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc.
Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời
Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920 Nguyễn Tất Thành-
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác- Lê nin; đây không chỉ là bước ngoặt đối với
cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà còn là bước ngoặt của cách
mạng Việt Nam. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc:
Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh” để “trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai
cấp mọi nơi”. Từ nhận thức đó Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành
lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam, Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa
Mác-Lê nin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên
tự giác; đưa phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản.
Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở số nhà 5D, Hàm Long, Hà
Nội, gồm có Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc
Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Văn Tuân và Dương Hạc Đính.
Ngày 1-5-1929, tại Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hương
Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra đề nghị thành lập Đảng Cộng sản. Đề nghị dó không
được chấp nhận, trở về nước, ngày 17-6-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản
5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929 An
Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản
Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành
Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta.
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Năm 1941, cuộc chiến tranh thế giới đã bước sang năm thứ ba. Tháng 6- 1941, phát xít
Đức mở cuộc tấn công Liên Xô. Cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô
bắt đầu. Tính chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi về căn bản. Trên thế giới hình thành
hai trận tuyến: một bên là lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu, một bên là khối phát
xít Đức, Ý, Nhật.
Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (Hội nghị lần thứ tám). Hội nghị đã nêu một số
mâu thuẫn cần giải quyết lúc bấy giờ như mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc
Pháp – phát xít Nhật. Hội nghị chủ trương trước hết phải giải phóng các dân tộc Đông
Dương ra khỏỉ ách áp bức Pháp - Nhật. Hội nghị chủ trương thành lập Việt Nam độc lập
đồng minh (Việt Minh) gồm các tổ chức quần chúng, cùng nhau giải phóng dân tộc.
Từ sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng trở thành hạt nhân quy tụ sức
mạnh đoàn kết dân tộc. Lực lượng cách mạng giương cao ngọn cờ đại nghĩa của Việt
Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng.
Giữa lúc đó, chiến tranh thế giới thứ hai đã có những chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức bị
tiêu diệt và phải đầu hàng. Ở châu Á, quân phiệt Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Ngay
lúc đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Trào (Tuyên
Quang) quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước
khi quân đồng minh kéo vào.
Ngày 16 - 8 - 1945, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí,
nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua đề nghị tổng khởi nghĩa của
Mặt trận Việt Minh. Đại hội đã nhất trí tán thành quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua
10 chính sách của Việt Minh, lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ
Chí Minh đứng đầu. Ngay sau đó, Hồ Chủ tịch đã gửi thư tới đồng bào cả nước kêu gọi
nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền '' Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã
đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Tiến lên!
Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”
Tại Hà Nội, không khí cách mạng vô cùng sôi động. Các tầng lớp nhân dân hăng hái gia
một tầm cao mới.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng
xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỉ tại Việt Nam, đồng thời lật nhào chế độ quân
chủ chuyên chế tồn tại ngàn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng
sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp đã trở thành một đảng cầm
quyền và hoạt động công khai.
Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi đã mở đầu cho thời kì suy sụp của chủ nghĩa thực
dân cũ, góp phần vào quá trình giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới.
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN.
Đầu năm 1848, một văn kiện lịch sử chấn động thế giới ra đời. Đó là bản ''Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản'':
Những năm 30 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân các nước châu Âu phát triển rất
nhanh, tuy vậy chưa hình thành một khối thống nhất, chưa có sự lãnh đạo của một chính
đảng cách mạng. Giai cấp vô sản chưa hiểu rõ lý thuyết khoa học về bản chất của chủ
nghĩa tư bản, về nguồn gốc bị bóc lột, về sứ mệnh lịch sử và về con đường tự giải phóng
cho mình. Do đó, các cuộc đấu tranh của họ luôn bị thất bại. Trên cơ sở tổng kết kinh
nghiệm của phong trào công nhân, Mác và Ăng- ghen đã tiến hành nghiên cứu lý luận
khoa học và xây dựng mối liên hệ rộng rãi với những đoàn thể công nhân của các nước.
Mác và Ăng-ghen đặc biệt chú trọng đến một đoàn thể cách mạng bí mật của những công
nhân thủ công Đức sống lưu vong ở Pa-ri có tên còn gọi là ''Đồng minh những người
chính nghĩa''. Sau khi Pa-ri trở thành trung tâm, đoàn thể bí mật này mở rộng sang Luân
Đôn, sau đó phát triển ở Thụy Sĩ, Đức và Pháp, bắt đầu trở thành một tổ chức công nhân
mang tính chất quốc tế.
Nhân vật tiêu biểu của đồng minh này là Vai-tơ-lin, người Đức, từ lâu ông đã vô cùng
căm ghét chủ nghĩa tư bản, muốn thực hiện một ''chủ nghĩa cộng sản bình quân'' và hy
vọng có thể dựa vào âm mưu bí mật bạo động của một số ít người để thực hiện điều đó.
Tư tưởng này có ảnh hưởng rất lớn trong phong trào công nhân thời bấy giờ. Mác và
Ăng-ghen thấy rằng, muốn làm cho ''Đồng minh những người chính nghĩa'' phù hợp với
yêu cầu cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, cần phải từ bỏ quan điểm về chủ
nghĩa cộng sản không tưởng của Vai-tơ-lin.
như vậy mới làm cho họ nhận rõ những chủ trương sai lầm, kể cả cái ''chủ nghĩa cộng sản
bình quân'' của Vai-tơ-lin. Cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt, biểu thị sự đồng tình với quan
điểm của Mác.
Mùa xuân năm 1847, Mác và Ăng-ghen gia nhập “Đồng minh những người chính nghĩa”
ở Luân Đôn và tiến hành cải tổ tổ chức này. Ít lâu sau, Đồng minh triệu tập Đại hội đại
biểu lần thứ nhất.
Tại Đại hội này, căn cứ vào đề nghị của Mác và Ăng-ghen, ''Đồng minh những người
chính nghĩa'' đổi tên thành “Liên đoàn nhũng người cộng sản'' và thông qua cương lĩnh
mới, lấy khẩu hiệu ''Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại'' thay thế cho khẩu hiệu mơ hồ:
''Mọi người đều là anh em''.
Mùa thu năm đó, Liên đoàn những người cộng sản triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ hai.
Các đại biểu đều thấy cần phải có một tuyên ngôn làm cương lĩnh cho hoạt động của Liên
đoàn. Mác và Ăng-ghen đã bắt tay vào viết bản Tuyên ngôn. Tháng 2 năm 1848, ''Tuyên
ngôn Đảng Cộng sản'' chính thức được công bố tại Luân Đôn.
Sự ra đời của ''Tuyên ngôn Đảng Cộng sản'' đã gây chấn động toàn thế giới. Tuyên ngôn
đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản,
chứng minh quy luật tất yếu chế độ tư bản sẽ bị diệt vong và chế độ cộng sản sẽ thắng lợi.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển rất quan trọng của chủ nghĩa xã
hội khoa học. Những nguyên lý C .Mác và Ph.Ăng- ghen trình bày trong tác phẩm này là
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế. Trải qua mọi thử thách, hơn một thế kỷ qua, trong phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi giải quyết nhưng chủ nghĩa Mác vẫn
là kim chỉ nam dẫn đường.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về đảng và
xây dựng đảng. Những tư tưởng đó có ý nghĩa thiết thực trong công tác xây dựng đảng
của Đảng ta. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định: Sự lãnh đạo của
Đảng là điều kiện quyết định mọi thắng lợi của cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng là tất
yếu trong tất cả các giai đoạn cách mạng.
Đảng ta khẳng định vấn đề nâng cao bản chất giai cấp công nhân là tư tưởng xuyên suốt
trong công tác xây dựng đảng để bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo. Tư
những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Từ
chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến, xã hội Việt Nam xuất
hiện hai mâu thuẫn cơ bản ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc
Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ
phong kiến. Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa
dân tộc với đế quốc xâm lược là chủ yếu. Nhiệm vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và
nhiệm vụ chống phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập dân
tộc và đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt
ra.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng.
Hàng trăm phong trào, cuộc khởi nghĩa oanh liệt dưới ngọn cờ của các sĩ phu và các nhà
yêu nước đương thời, nhưng đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo. Nguyên
nhân cơ bản dẫn đến thất bại là thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn.
2. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu
nước, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. Bước
ngoặt lớn trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra khi Người đọc toàn văn: Sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người hiểu
sâu sắc những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc, đó là con đường cách
mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với
chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách
mạng giải phóng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Từ đây
Người dứt khoát đi theo con đường cách mạng của Lênin. Nguyễn Ái Quốc là người
Việt Nam đầu tiên tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường đúng đắn
giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách mạng thuộc địa,
nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam. Tháng 12-1924, Nguyễn Ái
Quốc về Quảng Châu Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.
Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm
lược thống nhất đất nước
Sau thời gian học tập ở Liên Xô, tháng 4-1930 đồng chí Trần Phú trở về nước hoạt
động. Theo đề nghị của Nguyễn Ai Quốc, Trần Phú tham gia Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ chuẩn bị kỳ họp thứ nhất của
BCHTW và dự thảo Luận cương chính trị.
Hội nghị BCHTW lần thứ nhất họp từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930 tại Hương Cảng
(Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì, đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ
cần kíp của Đảng, dự thảo Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và Điều lệ các
tổ chức quần chúng. Theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đã đổi tên ĐCSVN
thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị đã bầu BCHTW chính thức, đồng chí
Trần Phú được bầu là Tổng Bí thư.
Tháng 3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một địa điểm ở phố
Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới và trong
nước, Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trước mắt là:
Củng cố và phát triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc.
Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị và Điều lệ Đảng; thông qua các nghị quyết về
vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính và các nghị quyết về công
tác liên minh phản đế, công tác trong các dân tộc thiểu số, về đội tự vệ và cứu tế đỏ.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu
làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ai
Quốc là đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng
sản, với tư cách Trưởng đoàn đại biểu Đảng ta, đồng chí Lê Hồng Phong đã được bầu là
Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng; Đại hội đã đánh
dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ
trong nước ra ngoài nước, thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân,
nông dân và các tầng lớp nhân dân khác dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngay 22-6-1938 Lê Hồng Phong bị bắt tại Sài Gòn, sau 6 tháng tù giam, chúng đưa về
sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lịch sử trọng đại vừa
tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vừa có nghĩa vụ giúp đỡ các Đảng
cách mạng ở Lào và Cămpuchia đấu tranh thắng lợi.
Trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng nước
ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế
giới, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh đã phân tích rõ
tính chất, những mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam và chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách
mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn
độc lập và thống nhất, xóa bỏ hình thức bóc lột phong kiến, làm cho người cày có
ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo xác định lực lượng cách mạng Việt Nam gồm
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc.
Động lực của cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
giai cấp tư sản, chủ yếu là công nhân và nông dân. Lực lượng lãnh đạo cách mạng là
giai cấp công nhân. Báo cáo Bàn vè cách mạng Việt Nam là một văn kiện lịch sử rất
quan trọng, đã bổ sung hoàn chỉnh và phát triển lý luận của Đảng ta về cách mạng dân
tộc, dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến hành trong điều kiện một nước thuộc
địa, nửa phong kiến.
Đại hội đã thảo luận và nhất trí thông qua Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự
khuyết. Ban Chấp hành đã bầu Bộ Chính trị. Chủ tịch Đảng là đồng chí Hồ Chí Minh,
Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong quá
trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội đề ra đã đáp ứng yêu
cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng và thực sự là những
đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.
Hơn 9 năm sau Đại hội Đảng lần thứ II (1951) cách mạng Việt Nam đã có những thay
đổi lớn. Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5-9-1960 đến ngày
10-9-1960. Về dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt
hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước
Trong lời khai mạc Đại hội, đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch Đảng đã khái quát nhiệm
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Tiếp theo Báo cáo Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ đọc báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ
Đảng. Báo cáo chỉ rõ trước tình hình mới, yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Đảng là
phải ra sức củng cố Đảng về mặt tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững và nâng cao hơn
nữa tính chất giai cấp và tính chất tiên phong của Đảng để nâng cao sức chiến đấu và
năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng có khả năng lãnh đạo Nhà nước, lãnh
đạo quản lý kimh tế và văn hoá, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm
tròn nghĩa vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ
viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính
thức và 2 uỷ viên dự khuyết; Ban Bí thư Trung ương Đảng có 7 đồng chí. Đồng chí Hồ
Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư
thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trong diễn văn bế mạc Đại hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khẳng định: Đại hội
lần thứ hai đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ
là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên
hoà bình, độc lập, thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội lần thứ IV của
Đảng là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; là Đại hội tổng kết những
bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là Đại hội thống nhất Tổ quốc
đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội họp từ ngày 14 đến 20-12-
1976 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1008 đại biểu thay mặt cho 1,5 triệu đảng viên trong cả
nước. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã đọc Diễn văn khai mạc; đồng chí Lê Duẩn đọc Báo
cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng chí Phạm Văn Đồng đọc Báo
cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước 5 năm lần
thứ hai (1976-1980); Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng
do đồng chí Lê Đức Thọ trình bày.
Báo cáo Chính trị đã tổng kết quá trình đấu tranh anh dũng, bền bỉ, liên tục và thắng lợi
vẻ vang của quân và dân ta chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lớn nhất và vô cùng ác
sản trong cả nước và thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi
mặt, tạo nên cuộc sống hòa hợp dân tộc, chan hòa từ Bắc đến Nam. Thắng lợi của hai
cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn. Báo cáo
nêu bật những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa; đồng thời xác định rõ hai
nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, bảo
vệ vững chắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường
lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do
Đại hội lần thứ IV của Đảng vạch ra.
Báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng có vị trí
đặc biệt quan trọng và chỉ rõ nhiệm vụ then chốt của công tác xây dựng Đảng hiện nay
là tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi đường
lối của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, làm cho Đảng ta luôn luôn giữ vững bản chất cách
mạng và khoa học, một Đảng thật sự trong sạch, có sức chiến đấu cao, gắn bó chặt với
quần chúng.
Đại hội đã nghe Báo cáo phương hướng nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế
và xã hội trong 5 năm 1981-1985 và những năm 80 do đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy
viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trình bày.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên
dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức
và 2 ủy viên dự khuyết, đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư.
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội từ
ngày 15 đến ngày 18-12-1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu
đảng viên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị đọc Diễn văn khai mạc
Đại hội. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đọc Báo cáo Chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa V. Đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Bộ Chính trị đọc Báo
cáo phương hướng mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm (1986-1990).
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội nhận định năm năm qua là
một chặng đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Chúng ta đã đạt được
ngày 27-6-1991. Dự Đại hội có 1176 đại biểu đại diện cho 2.155.022 đảng viên. Đồng
chí Võ Chí Công đọc Diễn văn khai mạc. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc Báo cáo của
Ban Chấp hành Trung ương về các văn kiện Đại hội VII. Báo cáo đánh giá việc thực
hiện đổi mới hơn 4 năm trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đề ra phương hướng nhiệm
vụ chủ yếu trong 5 năm (1991-1995). Công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu
bước đầu: Tình hình chính trị của đất nước ổn định. Nền kinh tế có những bước phát
triển đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của 3 chương
trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, huy động được nguồn lực sản xuất của xã
hội, tốc độ lạm phát được kiềm chế, đời sống của một bộ phận nhân dân được cải thiện.
Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng
Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 146 ủy viên. Hội nghị lần thứ nhất Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí. Đồng chí
Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội lần thứ VII là Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 28-6
đến ngày 1-7-1996 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 đảng viên. Đại hội có nhiệm
vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyets Đại hội VII; tổng kết 10 năm đổi mới; đề ra
mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước
đến năm 2000 và định hướng đến năm 2020; bổ sung sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban
Chấp hành Trung ương mới.
Báo cáo Chính trị đã khẳng định những thành tựu quan trọng đã đạt được: Đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5
năm. Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội. Giữ vững ổn định chính trị,
củng cố quốc phòng, an ninh. Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ
thống chính trị. Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham
gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.
Đảng cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nước ta còn nghèo và kém phát triển.
vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12-1997) đã chấp nhận đề
nghị của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười về việc chuyển giao chức vụ Tổng Bí thư. Ban
Chấp hành Trung ương đã bầu đồng chí Lê Khả Phiêu, Ủy viên Thường vụ, Thường
trực Bộ Chính trị, giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị
đánh giá cao công lao của các đồng chí cố vấn và chấp thuận đề nghị của các đồng chí,
để các đồng chí được kết thúc nhiệm vụ Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban
Chấp hành Trung ương suy tôn các đồng chí Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt làm
Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã bầu bổ
sung 4 đồng chí ủy viên Trung ương Đảng vào Bộ Chính trị.
Đại hội lần thứ IX của Đảng là “Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới” họp tại
Hà Nội từ ngày 19 đến 22-4-2001, dự Đại hội có 1.168 đại biểu đại diện cho 2.479.719
đảng viên trong toàn Đảng. Đồng chí Trần Đức Lương, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính
trị đọc diễn văn khai mạc. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đọc báo cáo của Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII về các văn kiện trình Đại hội IX.
Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000, Báo cáo Chính trị khẳng định 5
nhóm thành tựu quan trọng: Kinh tế tăng trưởng khá; văn hóa - xã hội có những tiến bộ;
đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tình hình chính trị, xã hội cơ bản ổn định;
quốc phòng và an ninh được tăng cường; công tác xây dựng Đảng được chú trọng; hệ
thống chính trị được củng cố; quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập
kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả. Bên cạnh những thành
tựu, Đại hội cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nền kinh tế phát triển chưa vững
chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; một số vấn đề văn hóa, xã hội bức xúc và gay gắt
chậm được giải quyết; cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để
phát triển; tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.
Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội xác định động lực chủ yếu để
mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện bằng được
mục tiêu “ dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 đồng chí ủy viên chính
thức và 21 đồng chí ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí; Ban Bí thư gồm 8 đồng chí; đồng chí
Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.
Hai bổ sung của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành, phát triển của Đảng Cộng sản
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng
viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
1. Khi bàn về sự ra đời của đảng cộng sản, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga
và châu Âu, V.I.Lê-nin đề cập hai yếu tố: chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân
kết hợp với nhau. Chủ nghĩa Mác (sau này là chủ nghĩa Mác - Lê-nin) sinh ra trước
hết từ bên ngoài giai cấp công nhân. Bản thân phong trào công nhân có phát triển
mạnh đến đâu đi chăng nữa, nhưng không có chủ nghĩa Mác - Lê-nin soi sáng thì
giai cấp công nhân không thể nào phát triển lên được trình độ tự giác, cùng lắm chỉ
đạt tới "chủ nghĩa công đoàn" mà thôi, chỉ dừng lại ở hình thức đấu tranh kinh tế,
không ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình là ngưới đào huyệt chôn CNTB và xây
dựng xã hội mới: xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin
không thể mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học được nếu nó không đi
vào phong trào công nhân. Phong trào công nhân trở thành "cái cốt vật chất" cho chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn có sức sống mạnh mẽ.
Nhưng, ngoài hai yếu tố chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phong trào công nhân, Hồ Chí
Minh còn đề cập thêm yếu tố thứ ba nữa khi nói về quy luật hình thành Đảng Cộng
sản Việt Nam - đó là phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh viết: "chủ nghĩa Mác - Lê-
nin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành
lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10,
Nxb CTQG, H., 1996, tr.8). Đây là điểm bổ sung rất quan trọng và đúng đắn của Hồ
Chí Minh về quy luật hình thành đảng cộng sản so với luận điểm của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin. Từ luận điểm của Hồ Chí Minh trên đây, có mấy vấn đề đáng chú ý: Một
là, thời điểm mà Hồ Chí Minh nêu luận điểm trên là dịp kỷ niệm 30 năm Ngày thành
Hồ Chí Minh nêu thêm phong trào yêu nước, coi đó là một trong ba yếu tố cấu thành
cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì những lý do chủ yếu sau: a) Chủ
nghĩa yêu nước là giá trị tinh thần trường tồn trong lịch sử Viêt Nam có vai trò rất
lớn và là nhân tố chủ đạo quyết định thắng lợi của sự nghiệp chống giặc ngoại xâm
của dân tộc ta. ở Việt Nam, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân. Chỉ
riêng trong 80 năm thực dân Pháp đô hộ nước ta, phong trào yêu nước của nhân dân
ta vẫn dâng lên mạnh mẽ. Phong trào yêu nước liên tục và bền bỉ trong mấy nghìn
năm dựng nước và giữ nước đó đã kết thành chủ nghĩa yêu nước và, cao hơn nữa,
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã trở thành giá trị đạo đức tốt đẹp nhất trong cộng
đồng dân tộc, đồng thời nó là tinh hoa văn hóa dân tộc. b) Khi giai cấp công nhân ra
đời và có phong trào đấu tranh thì phong trào yêu nước không bài xích mà kết hợp
được ngay với phong trào công nhân. Cơ sở của sự kết hợp ấy là do ở nước ta tồn tại
mâu thuẫn cơ bản giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn đế quốc và tay sai.
Chính vì thế, các phong trào đều có yêu cầu chung, mục tiêu chung, "mẫu số
chung": giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước hùng cường. ở châu Âu, phong trào
yêu nước phi vô sản thường là mâu thuẫn với phong trào công nhân. Trái lại, ở nước
ta, điểm tương đồng giữa hai phong trào đó là cơ bản. Thậm chí, nhiều phong trào
yêu nước lúc đầu theo xu hướng dân chủ tư sản, dần dần - do tác động của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin cũng như của phong trào công nhân - đã chuyển dần sang xu hướng
cộng sản chủ nghĩa. Thực tế này thể hiện rõ nhất trong những năm 20, nhất là từ
năm 1925 trở đi. c) Nói đến phong trào yêu nước Việt Nam phải kể đến vai trò của
nông dân. Đầu thế kỷ 20, nông dân Việt Nam chiếm khoảng 95% dân số. Phong trào
đấu tranh của nông dân chống ngoại xâm và bè lũ tay sai đã có một bề dày truyền
thống. Giai cấp nông dân Việt Nam lại là bạn đồng minh tự nhiên với giai cấp công
nhân. Do điều kiện lịch sử chi phối, đến những năm 20 và 30, ở Việt Nam không có
công nhân nhiều đời. Công nhân Việt Nam xuất thân chủ yếu trực tiếp từ những
nông dân không có ruộng (bần, cố nông - những người bị bóc lột địa tô). Khi không
có việc ở các làng quê (theo mùa vụ), người nông dân tìm đến các cơ sở công
nghiệp, chủ yếu là các mỏ than và các khu đồn điền, để làm thuê với tư cách là công
nhân - những người bị bóc lột giá trị thặng dư, đến mùa lại về quê làm thuê cho địa
mạng. Hồ Chí Minh thực thi quan điểm của mình, tổ chức ra Mặt trận Việt Minh tập
hợp tất cả mọi lực lượng không phân biệt dân tộc, tôn giáo, gái trai, giàu nghèo
miễn là ngưới Việt Nam có tinh thần yêu nước, đứng lên dấu tranh giành độc lập
dân tộc. Nếu không coi trọng phong trào yêu nước, không chú ý đến các lực lượng
khác ngoài vô sản, chỉ chú trọng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phong trào công nhân
thôi thì sẽ không hình thành được Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, có thể kết luận
rằng, quan điểm của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam
là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của
Việt Nam, một nước kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, nơi có số lượng giai cấp công
nhân ít so với dân cư. Bằng việc đó, luận điểm của Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa
quốc tế đối với những nước có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam, ghi một mốc son
trong việc phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, một cống hiến xuất sắc vào kho tàng lý
luận về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. 2. Riêng về mối quan hệ
giữa dân tộc và giai cấp trong quy luật phát triển của Đảng, Hồ Chí Minh có một
cách nhìn hết sức đúng đắn và sáng tạo khi đề cập chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam,
gắn nó với dòng chảy của trào lưu cộng sản chủ nghĩa, chứ không tách biệt, đối lập
nó với vấn đề giai cấp. Nhờ được vũ trang quan điểm như thế, Đảng ta đã giải quyết
tốt vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong
xây dựng xã hội mới. Trong cuốn sách Hồ Chí Minh, những bài viết 1941-1969 do
Alain Ruscio biên soạn, xuất bản ở Pa-ri năm 1990, từ trang 69 đến trang 74, có in
bài của Hồ Chí Minh viết năm 1924 ở Mát-xcơ-va nhan đề: "Báo cáo về Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb CTQG,H., 1995 đã in lại
bài này vào phần Phụ lục, tr. 464-469) Trong bản báo cáo đó, Hồ Chí Minh cho
rằng: "Cuộc đấu tranh giai cấp (ở phương Đông - MQT) không diễn ra giống như ở
phương Tây Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng
dân tộc học phương Đông Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính
nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho ngưới cu-li biết phản
đối, nó làm cho những người "nhà quê" phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế
muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh
với người Pháp và người Trung Quốc, nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho
trước hết và bao trùm lên xã hội Việt Nam là yêu cầu giải phóng dân tộc. Hơn nữa,
xã hội Việt Nam chưa đạt tới sự phân hóa một cách sâu sắc như ở các nước kinh tế
phát triển ở châu Âu. Do vậy, Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa dân tộc là "động lực
lớn của đất nước" và chính sách phát động chủ nghĩa dân tộc là "một chính sách
mang tính hiện thực tuyệt vời". Hồ Chí Minh không đề cập chủ nghĩa dân tộc chung
chung, mà nó nằm trong dòng chủ lưu hợp với xu thế của thời đại là tiến lên chủ
nghĩa cộng sản. Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc là nấc thang
để tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Theo đó, chúng ta cần hiểu chủ nghĩa dân tộc đó có
định hướng cho sự phát triển tiến bộ của xã hội, không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc
cực đoan. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc đã phát huy tác
dụng và đã thành công, nhưng dẫn đến hoặc là triều đại phong kiến này thay thế cho
triều đại phong kiến khác, hoặc là lại nảy sinh chủ nghĩa dân tộc sô-vanh và chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi. Quan điểm về chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh không có
gì chung với tư tưởng dân tộc của phong kiến Việt Nam. Chính do không thấy hết sự
khác biệt căn bản này mà một số người đã hiểu lầm Hồ Chí Minh. Quan điểm độc
đáo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa dân tộc gắn liền và tiến tới chủ nghĩa cộng sản là
quan điểm đúng với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam, là sự bổ sung và
làm giàu thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin ,"bằng dân tộc học phương Đông". Trong
những quan điểm về xây dựng Đảng nói chung, trong quy luật hình thành, phát triển
của Đảng nói riêng, còn có rất nhiều vấn đề chứng tỏ Hồ Chí Minh bổ sung và vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi chỉ xin
nêu hai vấn đề như trên để cùng trao đổi.
SO SÁNH CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ 2/1930 VỚI 10/1930
Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hơp nhất ba tổ
chức cộng sản đã nhất trí thành lập một Đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam là Chính cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, là sự
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cách mạng Việt Nam. Đây chính
là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh đã nêu lên những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Mác-Lênin đặt nền tảng vững chắc cho thắng lợi của cách mạng về sau này. Đó là điều
rất căn bản.
Bên cạnh sự nhất trí trên một số vấn đề then chốt thuộc chiến lược cách mạng, Luận
cương chính trị còn góp phần bổ sung, cụ thể hoá Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam trên cơ sở bước đầu tổng kết
phong trào cách mạng sau khi Đảng ta ra đời. Luận cương nêu rõ: cách mạng Việt Nam
phải hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, tiến
lên xây dựng xã hội cộng sản (cách mạng XHCN). Trong giai đoạn đầu phải chống đế
quốc và chống phong kiến, thực hiện mục tiêu “Độc lập dân tộc” và “Người cày có
ruộng”. Phải xây dựng lực lượng cách mạng rộng lớn của toàn dân, trong đó công nhân
giữ vai trò lãnh đạo, công nhân và nông dân là hai động lực chính của cách mạng.
Phương pháp cách mạng là sử dụng bạo lực cách mạng. Cách mạng Việt Nam phải có sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được thắng lợi. Cách mạng Việt Nam
là một bộ phận và có quan hệ mật thiết với cách mang thế giới; tăng cường đoàn kết với
giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, kể cả nhân dân Pháp.
CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Chương I
Thế giới và Việt Nam
1. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chế độ phát xít sụp đổ, cuộc tổng khủng hoảng của
chủ nghĩa tư bản thêm trầm trọng, Liên Xô ngày càng cường thịnh, phong trào dân chủ
lên cao. Thế giới chia làm hai phe: phe dân chủ chống đế quốc do Liên Xô lãnh đạo,
phe đế quốc phản dân chủ do Mỹ cầm đầu.
Phe dân chủ ngày một mạnh, phe đế quốc ngày một suy. Cán cân lực lượng giữa hai
phe đã nghiêng hẳn về phe dân chủ.
Muốn thoát khỏi nạn khủng hoảng, đế quốc Mỹ và các đế quốc khác đang ra sức chuẩn
bị chiến tranh thứ ba và mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược. Nguy cơ chiến tranh
đã rõ rệt. Nhiệm vụ trung tâm của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới lúc này là
đấu tranh bảo vệ hoà bình. Dưới sự lãnh đạo của Liên Xô đứng đầu là thống chế Xtalin,
phe dân chủ mở rộng thành mặt trận hoà bình thế giới, kiên quyết chống bọn gây chiến.
Phong trào hoà bình sâu rộng, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử. Đế quốc gây ra
I - Xã hội Việt Nam
1. Trước hồi thuộc Pháp, xã hội Việt Nam cǎn bản là một xã hội phong kiến. Nền tảng
của xã hội đó là kinh tế nông nghiệp phần lớn có tính chất kinh tế tự nhiên. Ruộng đất
là của vua quan và địa chủ phong kiến.
Nông dân bị bóc lột áp bức nặng nề hơn, sống rất cực khổ. Họ càng thống khổ hơn khi
có bọn phong kiến nước ngoài đến thống trị. Họ cần được giải phóng. Họ cần có ruộng