1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI NGỌC BÍCH
VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN
CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIÁO DỤC
Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN ĐÔ THỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2012 4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan
i chung va
̀
thanh niên đô thi
̣
ni riêng
13
1.2.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục ý thức pháp luật
đối với thanh niên đô thị
18
1.2.1.
Khái niệm "pháp luật", "giáo dục ý thức pháp luật" cho thanh
niên đô thi
̣
18
1.2.2.
Vai trò, mục đích của giáo dục ý thức pháp luật cho thanh
niên đô thi
̣
20
1.2.3.
Nội dung và hình thức giáo dục ý thức pháp luật cho thanh
niên đô thi
̣
26
1.2.4.
CHÍ MINH TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI THANH NIÊN ĐÔ THỊ
42
2.1.
Thực trạng thanh niên ni chung và thanh niên đô thị ni riêng
42
2.1.1.
Tình hình thanh niên đô thị những năm gần đây
42
2.1.2.
Thực trạng và nguyên nhân thanh niên ni chung và thanh
niên đô thị ni riêng vi phạm pháp luật
45
2.1.3.
Nhận định chung về thực trạng thanh niên ni chung và
thanh niên đô thị ni riêng
59
2.2.
Thực trạng vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên
ni chung và thanh niên đô thị
60
2.2.1.
Lực lượng làm công tác giáo dục ý thức pháp luật của tổ
chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
61
2.2.2.
Hệ thống công cụ, phương tiện, điều kiện làm công tác giáo
dục ý thức pháp luật của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh
2.3.3.
Nguyên nhân của thực trạng trên
75
2.3.4.
Những kh khăn, thách thức đặt ra cho tổ chức Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối
với thanh niên ni chung và thanh niên đô thị ni riêng hiện
nay
78
Chương 3: QUAN ĐIÊ
̉
M VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢƠ
̀
NG VAI TRÒ
CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ
CHÍ MINH TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO THANH NIÊN ĐÔ THỊ HIỆN NAY
79
3.1.
Quan điểm cơ bản về tăng cường vai trò Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối
với thanh niên đô thị hiện nay
79
3.2.
Các giải pháp phát huy vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối
với thanh niên đô thị hiện nay
80
3.2.1.
33
1.2
Mức độ quan tâm của thanh niên tới các lĩnh vực pháp luật
34
2.1
Hiểu biết của thanh niên về tuổi bắt đầu phải chịu trách
nhiệm hình sự
52
2.2
Hiểu biết của thanh niên về hình thức kết hôn hợp pháp
53
2.3
Hiểu biết của thanh niên về mức độ tổ chức giáo dục ý
thức pháp luật của địa phương
54
2.4
Trình độ đội ngũ cán bộ tuyên giáo của tổ chức Đoàn
thanh niên
63
2.5
Các chuyên trang, chuyên mục giáo dục ý thức pháp luật
trên báo, đài của Trung ương Đoàn
64
2.6
Các hình thức giáo dục ý thức pháp luật của tổ chức Đoàn
cho thanh niên đô thi
̣
thời gian qua
73
3.1
Độ tuổi phạm tội của tội phạm
50 9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình hội nhập với kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng; trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; bên cạnh nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, còn c nhiệm vụ hết sức quan trọng là đưa pháp luật vào cuộc
sống. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã rất coi trọng công tác
tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là đối với thanh niên
gp phần tạo điều kiện phát triển toàn diện, xây dựng một lớp thanh niên c ý
thức tổ chức kỷ luật, c ý thức công dân, chấp hành tốt pháp luật của Nhà
nước… đáp ứng nguồn nhân lực c chất lượng cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại ha đất nước.
Ngày 07/01/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg về việc
tăng cường công tác giáo dục ý thức pháp luật trong giai đoạn hiện nay xác định: " Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các thành viên khác của mặt trận phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan của chính phủ tổ chức thực hiện công tác giáo dục ý thức pháp luật" [7].
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, thời gian qua, tổ chức Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh các cấp đã tích cực triển khai công tác giáo dục ý thức pháp luật đối với
thanh niên với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, bước đầu đem lại kết quả gp phần
giúp cho thanh niên nâng cao hiểu biết về pháp luật, tạo thi quen nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số tồn tại cần khắc phục, đ là: chưa phát huy hết
vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp
hẹp, chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật, mục đích của giáo dục pháp luật
đối với quá trình hình thành ý thức pháp luật của con người Những nội
dung này được coi là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu về giáo dục pháp luật
ở các khía cạnh cụ thể và là những tài liệu tham khảo rất bổ ích trong công
tác giáo dục ý thức pháp luật cho thanh niên ni chung.
Tuy vậy, cho đến nay chưa c công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và chuyên biệt về vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
11
Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên đô thị hiện nay.
Với kết quả nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi hy vọng sẽ gp phần
khắc phục tình trạng nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên đô thi
̣
;
đánh giá thực trạng vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
trong giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên ni chung và thanh niên đô
thị ni riêng thời gian qua để tìm ra các hạn chế và nguyên nhân; trên cơ sở đ
đưa ra những phương hướng và giải pháp triển khai đồng bộ và thích hợp nhằm
phát huy vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong
giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên đô thị trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của tổ
chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật
đối với thanh niên đô thi
̣
.
cáo có liên quan. Kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; kế thừa
các đề tài đã nghiên cứu. Luận văn sử dụng kết quả khảo sát "tình hình thanh
niên" do Trung ương Đoàn tiến hành năm 2007; số lượng 3.722 phiếu trong
đo
́
co
́
đối tượng là thanh niên đô thị, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng
Nai, Cần Thơ một số trường đại học lớn ở Hà Nội và các lực lượng xã hội.
- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung được sử dụng nhằm làm
sáng tỏ thêm các nội dung nghiên cứu và hỗ trợ cho các phương pháp khác
trong quá trình thu thập thông tin (trong sử dụng trong Tọa đàm "Nâng cao
hiệu quả hoạt động mô hình Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật trong giáo dục
ý thức pháp luật đối với thanh niên" diễn ra vào tháng 03/2009 tại tỉnh Thừa
Thiên - Huế);
13
- Phương pháp phỏng vấn sâu với hệ thống các vấn đề mở, nhằm tìm
hiểu sâu hơn những vấn đề cần nghiên cứu được sử dụng tại Trường Phổ thông
Nội trú Dạy nghề số 1 thuộc Sở Công an thành phố Hà Nội vào năm 2008;
- Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi đại trà: Tham gia với Ban
Tuyên giáo, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Vụ Giáo
dục ý thức pháp luật, Bộ Tư pháp tiến hành khảo sát về "thực trạng nhu cầu
hiểu biết pháp luật của thanh thiếu niên" vào năm 2008.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn gp phần cung cấp thêm những cơ
sở lý luận cho hoạt động nghiên cứu về vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức pháp luật đối với thanh niên ni
chung và thành niên đô thị ni riêng. Luận văn đi sâu nghiên cứu đánh giá
thực trạng vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong
15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN
CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG VIÊ
̣
C GIÁO DỤC Ý THỨC
PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THANH NIÊN ĐÔ THI
̣1.1. NHƢ
̃
NG KHA
́
I NIÊ
̣
M CHUNG VÊ
̀
THANH NIÊN VÀ THANH NIÊN
ĐÔ THỊ
1.1.1. Khái niệm thanh niên, thanh niên đô thị
1.1.1.1. Khái niệm thanh niên
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: "Thanh niên là người còn
trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành" [49]. Thanh niên thường được xem như một
nhm xã hội lứa tuổi hoặc một lát cắt chu kỳ sống của con người (tuổi thanh
xuân), c sự khác nhau với các nhm đối tượng lứa tuổi khác vì c một số
đặc điểm tâm lí do lứa tuổi.
Một vấn đề thường được đặt ra khi xem xét vấn đề thanh niên là giới
hạn của tuổi thanh niên thường được bắt đầu từ tuổi nào đến tuổi nào trong
đời sống con người? C nhiều quan niệm khác nhau và cách trả lời khác nhau
động và chi phối của các quan hệ xã hội. Trong các mối quan hệ xã hội ấy,
người ta nhấn mạnh các vấn đề như: thanh niên c vai trò quan trọng trong
hiện tại, là lớp người c trách nhiệm xây dựng và làm chủ tương lai, họ vừa
là khách thể vừa là chủ thể của quá trình xã hội ha. Theo quan điểm này, lứa
tuổi thanh niên bắt đầu từ lúc vẫn còn là đối tượng của xã hội ha, nhưng đã
c thể bắt đầu c được năng lực tham gia từng phần quá trình sáng tạo ra
những lực lượng sản xuất của xã hội và quá trình mang những quan hệ xã hội
của một xã hội nhất định. Lứa tuổi thanh niên kết thúc vào lúc đã hoàn thành
việc xã hội ha để trở thành chủ thể của xã hội, tức là trở thành người c
năng lực trực tiếp sáng tạo ra những lực lượng sản xuất của xã hội và mang
các quan hệ xã hội của một xã hội nhất định. Như vậy, xã hội ha là một quá
trình chuẩn bị cho lớp người trẻ tuổi tham gia vào mọi lĩnh vực đời sống xã
hội một cách chủ động. Ni cách khác, đ là quá trình biến lớp người trẻ tuổi
từ chỗ là đối tượng của xã hội ha thành chủ thể của xã hội.
17
Khi xem xét sự phát triển trong vai trò của thanh niên với xã hội ta
thấy trải qua ba giai đoạn cơ bản. Giai đoạn thứ nhất, thanh niên chủ yếu
đng vai trò là đối tượng của những tác động xã hội dưới những điều kiện
khác nhau của chúng. Bước vào giai đoạn thứ hai, thanh niên bắt đầu đng
vai trò là yếu tố của lực lượng sản xuất và là người mang các quan hệ sản
xuất và tất cả các quan hệ xã hội khác. Giai đoạn này, trong khi vẫn là đối
tượng của những tác động xã hội, thanh niên đã là chủ thể của quá trình xã
hội. Trong giai đoạn thứ ba, thanh niên đã hoàn toàn thể hiện là yếu tố của
các lực lượng sản xuất và là người mang tất cả các quan hệ xã hội, thể hiện
toàn bộ xã hội đương thời của mình, và do đ tự phủ định tư cách thanh niên
của mình.
Việc phân chia giai đoạn lứa tuổi chủ yếu dựa trên sự thay đổi vị trí
xã hội và hoạt động xã hội của cá nhân, đồng thời chú ý nhiều vào những
thuộc tính của tuổi thanh niên với tư cách là một nhm dân cư - xã hội. Các
Sau khi từ bỏ cuộc sống du canh du cư, con người định cư trong các
điểm dân cư tập trung như làng, bản, ấp…gọi chung là điểm dân cư nông
thôn, do biết khai thác thiên nhiên mà sản phẩm lương thực ngày càng dư
thừa so với nhu cầu nên xuất hiện những người tách ra khỏi sản xuất nông
nghiệp để thực hiện trao đổi hàng ha. Do nhu cầu cuộc sống ngày càng đòi
hỏi cao hơn, một bộ phận người khác nữa tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp
để sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làm dịch vụ và quản lý xã hội, những người
lao động này và gia đình của họ đã tập trung lại tại địa điểm thích hợp, thay
đổi môi trường định cư thành các điểm dân cư mới chủ yếu là lao động phi
nông nghiệp, đ là điểm dân cư đô thị.
Vậy sự hình thành và phát triển các điểm dân cư đô thị là do sự phát
triển của phân công lao động xã hội, là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp.
Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được chấp nhận, là việc coi
đô thị và nông thôn như các hệ hệ thống xã hội được phân biệt dưới các đặc
trưng cơ bản sau:
19
+ Về quy mô dân số: Quy mô dân số của đô thị lớn hơn, mật độ dân
cư đông đúc hơn so với nông thôn. Ở nước ta theo quy định tại Nghị định
72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 các đô thị chia thành 5 loại, lớn nhất là đô
thị đặc biệt quy mô dân số từ 1,5 triệu trở lên, mật độ dân số 15.000
người/km
2
trở lên, nhỏ nhất là đô thị loại 5, dân số từ 4.000 người trở lên,
mật độ dân số từ 2.000ng/km
2
trở lên. Hiện nay ở nước ta thủ đô Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị đặc biệt c quy mô và mật độ dân số
cao nhất. Về các nhm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu
Khi ni đến đô thị, người ta không thể không ni đến khái niệm
"vùng đô thị" bởi mức độ ảnh hưởng và tác động của đô thị với những khu
vực xung quanh là rất lớn. Vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao
gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh c liên
hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ
công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đ thành phố
đô thị cốt lõi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị thường kết hợp
và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị
lớn hơn.
Các vùng đô thị thường được định nghĩa bằng việc sử dụng các tỉnh
hoặc các đơn vị chính trị cấp tỉnh làm đơn vị nền tảng. Tỉnh c chiều hướng
hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các kinh tế gia thường
thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị.
Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử
dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư (theo Dumlao &
Felizmenio 1976)
Thanh niên đô thị là những thanh niên đang sinh sống và làm việc tại
những khu đô thị hoặc vùng đô thị.
1.1.2. Đặc tính lứa tuổi thanh niên no
́
i chung va
̀
thanh niên đô thi
̣
nói riêng
1.1.2.1. Đặc tính lứa tuổi thanh niên là người chưa thành niên
Đây là lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm -
sinh lý, kinh nghiệm sống và trình độ nhận thức của họ còn bị hạn chế, thiếu
xung quanh đánh giá cao và quan hệ tốt với mình và sẽ cố gắng xứng đáng để
22
được khen (hay còn gọi là sự tự khẳng định). Các em còn nảy sinh khát vọng
làm chủ bản thân, những phản ứng và hành vi của mình c tác động đến bản
thân theo những chuẩn mực nhất định, với những mục đích cụ thể.
Ở tuổi chưa thành niên, những tiền đề cơ bản của một nhân cách hoàn
chỉnh đang được tạo thành và là cơ sở cho sự phát triển của các em đến tuổi
trưởng thành. Vì vậy, sự biến đổi trong thời kỳ này là vô cùng quan trọng cần
được tính đến. Những biến đổi trong này đôi khi mang tính chất phá vỡ tận
gốc những đặc điểm, những hứng thú và quan hệ đã c từ trước. Sự phát triển
này c tính mạnh mẽ và nhảy vọt. Nếu không biết và không tính đến thì quá
trình giáo dục, phòng ngừa sẽ không c hiệu quả và sự hình thành nhân cách
c thể sẽ diễn ra một cách tự phát gây kh khăn lớn cho công tác giáo dục.
1.1.2.2. Đặc tính lứa tuổi thanh niên là người thành niên
Đây là giai đoạn hoàn thiện về thể chất, trí tuệ và đạo đức, c những
đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của lứa tuổi. Về sinh lý, tuổi thanh niên là lứa
tuổi c sự phát triển hoàn thiện về thể chất. Sự hoàn thiện về thể chất thể hiện
ở sự cân đối giữa chiều cao và trọng lượng, sự hoàn hiện về hệ xương, hệ cơ,
hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ sinh dục. Sự trưởng thành về thể chất của
thanh niên cho phép họ c đủ sức khỏe để tiến hành đồng thời nhiều hoạt
động học tập, lao động, thể thao, vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội
khác một cách thoải mái. Trong cuộc đời mỗi người, không c thời kỳ nào
đạt được sức sống mạnh mẽ và cơ thể đẹp như thanh niên.
Về tâm lý, tuổi thanh niên được đặc trưng bởi tính phân ha sâu so
với thiếu niên của những phản ứng xúc cảm và những phương thức biểu hiện
trạng thái cảm xúc, bởi sự nâng cao tính tự kiểm tra, tự điều chỉnh. Tâm trạng
thanh niên ổn định và c ý thức hơn nhiều so với thiếu niên và tương quan
với phạm vi xã hội rộng lớn hơn nhiều. Ni như thế không phải là tâm lý
thanh niên đã hoàn toàn vững vàng, lứa tuổi thanh niên đang dần trưởng
độc đáo thể hiện sự tự do của tuổi trẻ, lứa tuổi không còn bị rằng buộc quá
nhiều với gia đình mà cũng chưa phải lo lắng cho gia đình riêng của mình.
Đ chính là lúc để họ tự thể hiện, tự khẳng định. Để tự khẳng định mình,
24
thanh niên thường tìm cách làm người khác ngạc nhiên, sửng sốt. Những thứ
họ dùng để "gây ấn tượng" thường là mốt trang phục, tiếng lng, những hành
động khác thường, những trò chơi mạo hiểm. Tm lại, là những việc ít người
muốn (dám) làm. Điều này giải thích tại sao hay c những hoạt động lệch
chuẩn xảy ra trong nhm thanh niên. Bởi vậy, thanh niên là thời của các thử
nghiệm và sai lầm, thời chọn lựa và ướm thử các vai trò xã hội. Với những
đặc điểm đ, trong văn ha nhm thanh niên thường hàm chứa những yếu tố
không đồng nhất, thậm chí trái ngược với hệ giá trị được cả xã hội chấp
thuận; đồng thời do ảnh hưởng của sự lan truyền trong nhm thanh niên mà
n luôn tiềm ẩn khả năng lôi kéo thanh niên ngả theo những ứng xử lệch
chuẩn, vi phạm pháp luật.
Thanh niên c mặt ở tất cả các vùng miền, các ngành, các thành phần
kinh tế, xã hội. Tùy theo môi trường hoạt động và đặc điểm nghề nghiệp mà
chia thanh niên thành nhiều nhm khác nhau, các đối tượng xã hội khác
nhau: thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, thanh niên học sinh - sinh
viên, thanh niên lực lượng vũ trang, thanh niên tôn giáo, thanh niên trí thức,
thanh niên dân tộc, thanh niên đô thị, thanh niên nông thôn Mỗi một nhm
này lại c những nét đặc trưng riêng biệt, họ c nhu cầu, sở thích riêng,
nguyện vọng riêng. Số lượng phân bố trong các nhm cũng khác nhau và
điều đ cũng phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Tm lại, thanh niên khác với các nhóm đối tượng lứa tuổi khác trong
xã hội; thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ,
luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình; tuy nhiên kinh nghiệm
sống và trình độ nhận thức của thanh niên (nhất là ở lứa tuổi chưa thành
niên) còn bị hạn chế; kiến thức về pháp luật và nếp sống chấp hành pháp luật
1.2.1. Khái niệm "pháp luật", "giáo dục ý thức pháp luật" cho
thanh niên đô thi
̣
1.2.1.1. Khái niệm "pháp luật"
Trong khoa học luật học, từ gc độ quy phạm học, khái niệm "pháp
luật" thường được quan niệm là:
26
Hệ thống các quy phạm pháp luật (quy tắc hành vi hay quy
tắc xử sự) các tính bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài, nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận)
thể hiện ý chí nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng
các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ
máy nhà nước. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước
và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội c nhà nước [33, tr. 209].
Trong cuộc sống và công tác, chúng ta thường nhắc đến các khái
niệm: "tuyên truyền pháp luật", "phổ biến pháp luật", "giáo dục pháp luật",
"giáo dục ý thức pháp luật". Nhìn chung, mọi người đều c quan niệm rằng
tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật là các nhiệm vụ nhằm nâng cao văn
ha pháp lý, ý thức pháp luật của nhân dân. Tuy vậy, việc hiểu một cách đầy
đủ về vấn đề này nhiều khi rất khác nhau; trên cơ sở một số nghiên cứu gần
đây, c thể khái quát về những quan niệm liên quan theo những cách hiểu
dưới đây.
1.2.1.2. Khái niệm "Giáo dục ý thức pháp luật"
Giáo dục là quá trình hoạt động c ý thức, c mục đích, c kế hoạch,
c tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức và những
tri thức cần thiết để người ta c khả năng tham gia mọi mặt của đời sống
xã hội [32].
So với tuyên truyền, phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận