Tiểu luận
Vai trò của Hồ Chí Minh đối
với mạng tháng 8 năm 1945
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 1 -
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã
xuất hiện nhiều anh hùng kiệt xuất. Những anh hùng này đều thực hiện một
nhiệm vụ chung mà cuộc đấu tranh ở bất cứ thời kỳ nào đều phải đảm nhận: bảo
vệ tổ quốc, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Song mỗi anh hùng ở mỗi
thời đại lại lãnh trách nhiệm khác nhau trong nhưng điều kiện và theo một yêu
cầu không giống nhau và truyền lại cho thế hệ sau tiếp biết.
Đây là điều kiện chúng ta tìm thấy ở Hồ Chí Minh một nét truyền thống
của anh hùng dân tộc trong quá khứ quyện chặt với một yếu tố của thời đại của
bản thân.
Các anh hùng dân tộc thường xuất hiện ở những thời điểm gay go phức tạp
nhất đối với vận mạnh dân tộc lúc mà quần chúng nhân dân cần có người tập
hợp, lãnh đạo các cuộc đấu tranh. Tư tưởng hành động sáng suốt của cá nhân
được đông đảo quần chúng ủng hộ đã đưa cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi.
Hồ Chí Minh đước sản sinh trong truyền thống dân tộc kết hợp với nhưng
điều kiện cụ thể của đất nước và quê hương, một yêu cầu của lịch sử Xã Hội
Việt Nam thế kỹ XX và thời đại.
Hồ Chí Minh hiện thân của tinh hoa dân tộc, có vai trò rất lớn trong sự
thắng lợi của CMVN. Đặc biệt là cách mạng tháng 8. Vậy Hồ Chí Minh đã có
vai trò như thế nào để đưa đến sự thắng lợi trong Cách Mạng tháng 8?.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài “Vai trò của Hồ Chí Minh đối với
thắng lợi của cánh mạ ng tháng 8 năm 1945 làm đề tài của bài tập lớn học phần
lịch sử Việt Nam cận đại”.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
- Liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài đã có nhiều công trình
nghiên cứu như cuốn “Vai trỏ của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam
tiến, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
Quê ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, đây là vùng đất rất giàu truyền thống
văn hóa, đấu tranh chống ngoại xâm.
Từ thuở thiếu thời Nguyễn Tất Thành đã tận mắt chứng kiến cuộc sống
nghèo khổ, bị áp bức, bốc lột đến cùng của dân tộc mình. Khi vào Huế, người
tận mắt nhìn thấy tội ác thục dân Pháp và thái độ ươm heng bon phong kiến
Nam Triều…Đã thôi thúc người đi tìm đương cứu nước.
Hồ Chí Minh có rất nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và
của cá nhân. Người là “ Anh hung dân tộc Việt Nam- Chiến sĩ cách mạng quốc
tế- danh nhân văn hóa thế giới”.
Từ 1911-1930” Tìm và xác định con đường cứu nước cho dân tộc.
Từ 1930-1945: Thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân
Việt Nam chiến đấu đưa đến sự thắng lợi của Cách Mạng tháng 8.
Từ 1945-1965: Trực tiếp lãnh đạo nhân dân chiến đấu chống đế quốc Mỹ,
đã tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại để nâng cao vị thế quốc tế của Cách
Mạng nước ta và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Ngày 2-9-1969 Hồ Chí Minh qua đời đó là sự tổn thất rất lớn của dân tộc
và nhân loại.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 4 -
1.2. Sự nghiệp cách mạng
Phát huy truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, truyền thống tốt
đẹp của gia đình, phương hướng, với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, Hồ Chí
Minh đã sớm nhận ra những mắt hạn chế của những bậc tiền bối đi trước.
Nguyễn Ái Quốc đã tự định ra cho mình một hướng đi mới.
Năm 1911 Nguyễn Tất Thành rời tổ quốc sang phương tây tìm đường cứu
nước.
Năm 1919 thay mặt những người yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi
bản yêu sách của nhân dân An Nam tới hội nghị Vécxây, đòi chính phủ Pháp
thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân Việt Nam.
Tháng 7 năm 1920 người đọc sơ khảo lần thứ 1 nhưng luận cương về vấn
đánh Nhật thì sẽ nhân cơ hội Phục quyền thống trị của chúng ở Đông Dương.
Bọn Nhật biết rõ âm mưu của Pháp Đờ Gôn Nhưng chứng chưa làm ngay cuộc
đảo chính để truất hẳn quyền bọn Pháp ở Đông Dương vì chúng biết rằng nếu
cuộc xung đột quyết liệt giữa Pháp và Nhật nổ ra thì nhân dân Đông Dương
nhân cơ hội đó nổi dậy tiêu diệt chúng. Chính vì vậy, mà Nhật-Pháp bề ngoài
tạm hòa hoãn được ngày nào hay ngày đó. Nhưng chiến tranh không không cho
phép chúng hòa hoản thế mãi đứng như nhân định ban thường vụ Trung Ương
Đảng: “ Sự hòa hoãn này có khác chi một cáu nhọt bộc, chứa chất bên trong
biết bao nhiêu vi trùng và máu mủ,chờ dịp chin mõm là vỡ tung ra…Cả hai
quân thủ của nhân dân ta là Pháp-Nhật đang đóng một tấm kịch vô cùng giả
dooivoo cùng nguy hiểm cho chúng, cả hai điều đang sửa soạn tiến tới chổ tao
sống mày chết quyết liệt cùng với nhau”. Nhưng tình hình ngày càng nguy
ngập ở Thái Bình Dương, đã buộc bọn Pháp xít Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ
Pháp độc chiếm Đông Dương để trừ mối họa quân Pháp đánh sau lưng khi quân
đồng minh đổ bộ vào Đông Dương.
Vì vậy, đêm 9-3-1945 Nhật nổ sung đánh Pháp cùng một lúc trên toàn
Đông Dương. Quân Pháp chống cự yếu ớt, chỉ trong 3 ngày đã hền nhát đầu
hang Nhật. Trong một thời gian ngắn ngủi, Toàn bộ máy thống trị thực dân
Pháp ở Đông Dương bị spj đổ hoàn toàn.
Sau ngày 9-03-1945, Nhật vẫn duy trì bộ máy hành chính cũ của Pháp, chỉ
thay thế viên chức của Pháp bằng viên chức của Nhật ở csc vị trí quan trọng.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 6 -
Lực lượng quân đội và cảnh sát của Pháp bị thay đổi khá triệt để. Hàng vạn
quân Pháp và cảnh sát bị bắt giam giữ. Quân Nhật và Hiến binh được triển khai
ở những vị trí chiến lược trên toàn Đông Dương. Nhật thành lập quân đội và
cảnh sát bản xứ. Lực lượng bảo an binh được thành lập. Chính phủ thân Nhật do
Trân Trong Kim đứng đầu đẫ thiết lập nhưng không có hữu hiệu mấy.
Sau khi lật đổ Pháp, Nhật chỉ giao cho Bảo Đại-Trần Trọng Kim cai quản
Trung Kì. Trước nguy cơ thất bại ngày càng đến gần, Nhật mới trao trả dần Bắc
Kì (2-05-1945), ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng (20-07-1945) và
tịch thu ruộng đất của bon đế quốc và bọn việt gian phản quốc chia cho nông
dân, chia lại công điền cho hợp lý.
Đế quốc tay sai là kẻ thù chủ yếu của dân tộc, phải chĩa mũi nhọn đấu tranh
đánh đổ chúng. Đó là chủ trương thực tế xã hội Việt Nam lúc đó là xã hội thuộc
địa, nửa phong kiến. Chủ trương đó nhằm phân hóa sâu sắc hang ngũ kẻ thù, tạo
đều kiện tranh thủ thêm bạn đồng minh của cách mạng, nhằm tập trung lực
lượng đánh đổ kể thù nguy hiểm nhất.
2.2.2. Công lao trong cuộc xây dựng lực lượng Cách Mạng
-Hồ Chí Minh có công lao lớn trong cuộc xây dựng Lực lượng cách mạng.
Lực lực lượng cách mạng bao gồm có lục lượng chính trị quần chúng và
lực lượng vũ trang nhân dân. Để có lực lượng chính trị Người cho thành lập Mặt
Trận Việt Minh ngày 19-05-1941) và đề ra Cương lĩnh 10 điểm cho Mặt Trận.
Mặt trận Việt Minh có thành phần rất rộng, bao gồm tất cả các giai cấp, các tầng
lớp yêu nước trong xã hội…Mặt trận Việt Minh và các hội cứu quốc chính là
lực lượng chính trị hung hậu, là tượng trưng cho khối đại đoàn kết toàn dân.
Đến ngày 22/12/1944 người ra chỉ thị thành lập Đội “VIệt Nam tuyên
truyền giải phóng quân” và đề ra hình thức hoạt động cho đội việt nam tuyên
truyền, nghĩa là vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang, nhưng lúc đầu
chính trị phải trọng hơn quân sự.
Đội việt nam tuyên truyền giải phóng quân chính là tiền thân của Quân đội
nhân dân Việt Nam ngày nay. Tới thang04-1945, Người lại cùng trung ương
Đảng cho triệu tập hội nghị quân sự Bắc Kỳ. Hội nghị đã ra quyết định thành
lập Ủy quân sự Bắc Kỳ và cho hợp nhất hai đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân và cứu quốc quân thành đội “Việt Nam giải phóng quân”. Nhờ có
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 8 -
hai lực lượng chính trị, vũ trang trên, ta đã sử dụng kết hai hình thức đấu tranh
chính trị, đấu tranh vũ trang để tiến hành tổng khởi nghĩa.
- Hồ Chủ Tịch có công lớn trong xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Căn cứ địa cách mạng có vai trò rất quân trọng vì là nhân tố thường
xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng nên khi đặt chân về nước Người
Tháng 2/1945. Hồ Chí Minh đi Côn Minh-Trung Quốc với quyết định bắt
liên lạc với phe Đồng Minh (Mỹ) nhằm tranh thủ sự ủng hộ. Quan hệ hợp tác
Việt-Mỹ được thiết lập trong công cuộc đấu tranh chống pháp xít Nhật.
2.2.4. Nhận định thời cơ và chớp thời cơ trong lảnh đạo tổng khởi nghĩa
cách mạng tháng 8 năm 1945
Vấn đề thời cơ khởi nghĩa đã được V. I. Lê-nin nêu rõ trong tác phẩm Chủ
nghĩa Mác và khởi nghĩa, coi khởi nghĩa là một nghệ thuật khi hội tụ ba điểm
chủ yếu: "Muốn thắng lợi, khởi nghĩa không được dựa vào một cuộc âm mưu,
một chính đảng, mà phải dựa vào giai cấp tiền phong. Đó là điểm thứ nhất.
Khởi nghĩa phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân. Đó là điểm thứ
hai. Khởi nghĩa phải dựa vào một bước ngoặt trong lịch sử của cuộc cách mạng
đang lên, khi mà tính tích cực của những bộ phận tiên tiến trong nhân dân lên
cao hơn cả, khi mà những dao động trong hàng ngũ địch và trong hàng ngũ
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 10 -
những người bạn mềm yếu, lừng chừng và không kiên quyết của cách
mạng, mạnh hơn cả. Đó là điểm thứ ba"(2). ở nước ta, thời điểm tháng 8-1945
thật sự là một bước ngoặt lịch sử khi Đảng và giai cấp tiên phong đã phát triển
mạnh mẽ, sẵn sàng đưa quần chúng vào hành động cách mạng với bản Chỉ
thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (ngày 12-3-1945) và
Quyết định của Hội nghị Đảng toàn quốc ở Tân Trào (tháng 8-1945), đồng thời
cao trào Kháng Nhật cứu nước đã mạnh hơn bao giờ hết, và kẻ thù (Nhật và
chính quyền tay sai) đã hoang mang, dao động, nhất là khi Nhật tuyên bố đầu
hàng Đồng minh (ngày 15-8-1945), và lực lượng quần chúng trung gian ngả về
hàng ngũ cách mạng. Đảng đã quyết tâm phát động khởi nghĩa trong điều kiện
như thế và đã giành thắng lợi.
Ngày 9/03/1945 đúng như dự đoán của Đảng và Hồ Chí Minh, Nhật tiến
hành đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, tạo ra tình hình khủng hoảng
chính trị sâu sắc. Đảng ta và Hồ Chí Minh chủ trương “phát động phong trào
kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. (thể hiện
trong chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau về hành động của chúng ta” vào ngày
động ráo riết chống phá. Trước tình thế trên Đảng ta đứng dầu là Hồ Chí Minh
đã có quyết định sang suốt: phát động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính
quyền từ quân đội Nhật với tư cách làm chủ nhà nước đón tiếp quân Đồng minh
vào giải giáp quân Nhật, trước khi quân Pháp tập hợp tàn quân và đưa quân
viễm chinh xâm lược nước ta một lần nữa để phá tan âm mưu của chủ nghĩa đế
quốc. Chủ trương trên được thể hiện trong Nhị quyết của Hội nghị toàn quốc
của Đảng( Từ 13 đến 14-08-1945) và Đại hội Quốc dân Tân Trào (Từ 16 đến
17-08-1945). Việc chớp lấy thời cơ cũa Đảng và Hồ Chí Minh trên đây rất sáng
suốt và kịp thời. Vì thời cơ Cách mạng than Tám chỉ diễm ra từ khi Pháp xít
Nhật đầu hang Đồng minh không điều kiện đến cuối tháng 8/1945, nếu khởi
nghĩa trước ngày Pháp xít Nhật đầu hàng (12-8) thì cách mạng không thể thắng
lợi được vì quân Nhật còn mạnh: còn nếu chần chừ không chớp lấy thời cơ, khi
quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật mới khởi nghĩa thì cách mạng cũng
không thành công vì thực tiễn lịch sử cho thấy khi quân Đồng minh vào Đông
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 12 -
Dương, chúng đã có âm mưu bóp chết cách mạng nước ta, tạo điều kiện cho
thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Ngay sau Đại hội Quốc Tân Trào, Hồ Chí Minh đã kiêu gọi nhân dân cả
nước nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Người nói: Giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy , lấy sức ta mà giải
phóng cho ta” Chính quyền quyết định sang suốt trên đây mà cuộc Tổng khởi
nghĩa tháng Tám 1945 đẫ diễn ra và giành được thắng lợi nhanh chóng (15
ngày), cơ bản trọn vẹn và ít đổ máu.
Có thể nói Cách mạng Tháng 8 thắng lợi bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong
đó có công lao to lớn của Hồ Chí Minh trong việc tích cực chuẩn bị mọi mặt và
kịp thời chớp lấy thời cơ.
2.2.5. Thảo và Độc tuyên ngôn độc lập
Sau khi tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.
Ngày 26/8/1945, Người đã chủ tọa buổi họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng,
đề nghị cải tổ Ủy ban Giải phóng Dân tộc Trung ương thành Chính phủ lâm thời
người chính là nền tảng của quyền dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do” . Và do đó, (Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập).
Mục tiêu của Cách mạng Tháng 8/1945 là giành độc lập cho dân tộc đồng
thời giành các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, gắn kết mục tiêu của dân tộc
với mục tiêu mang tính thời đại là đứng về phe Đồng minh giải phóng loài
người khỏi chủ nghĩa pháp xít, thực hiện các quyền thiêng liêng mà tạo hóa dẫn
ban cho mỗi dân tộc, mỗi con người- “quyền được sống, quyền được tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc “ và muốn đất nước nhanh chóng hội nhập với thế
giới hiện đại đang hình thành trong và sau cuộc Chiến Tranh thế giới thứ 2.
Việc trích dẫn Tuyên ngôn của các nước là nhằm khẳng định và đòi hỏi cộng
đồng quốc tế phải công nhận nền độc lập, tự do- nền tảng của vấn đề nhân
quyền và dân quyền của nhân dân Việt Nam vì các nước Đồng minh và cộng
đồng quốc tế đã công nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Trngphaanf cuối
bản Tuyên ngôn , Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Chúng tôi tin rằng các nước Đồng
minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêran
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 14 -
và Cựu Kim Sơn quyết không thể không công nhận quyền độc lập của nhân dân
Việt Nam”(…).
Tuyên ngôn đã tố cáo những tội ác tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân
dân ta, có tới trên 10 tội ác tày trời và ( hành động của chúng trái với nhân
đạovà chính nghĩa). Tuyên ngôn còn nhấn mạnh tới cuộc đấu tranh gan góc của
nhân dân ta chống pháp xít Nhật và thực dân Pháp.
Cuối cùng Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta trong
việc đấu tranh để bảo vệ nền độc lập và tự do đã giành được.
Bản Tuyên ngôn Độc lập đồng thời được xem là bản Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của Việt Nam.
=>Nhận xét: Tất cả những sự kiện trên đây đã chứng minh rằng Hồ Chủ
Tịch đã có công lao rất lớn trong việc chỉ đạo Cách mạng Tháng 8/1945. Từ
4. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB GD
tập II.
5. Huỳnh Công Bá , Lịch sử Việt Nam, (2004), NXB Thuận Hóa, Huế.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hằng – Sử 2A (16/02/19992) - 20 -
MỤC LỤC
Tiểu luận 1
Vai trò của Hồ Chí Minh đối với mạng tháng 8 năm 1945 1
A. MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
B. NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ
MINH 4
1.1. Cuộc đời 4
1.2. Sự nghiệp cách mạng 5
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG
THÁNG 8 NĂM 1945 5
2.1. Tình hình thế giới và trong nước 6
2.2. Vai trò của Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945 7
2.2.1. Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng hoàn chỉnh chủ yếu hướng chỉ đạo chiến
lược Cách Mạng 7
2.2.2. Công lao trong cuộc xây dựng lực lượng Cách Mạng 8
2.2.3. Công lao trong việc tranh thủ sự ủng hộ của Quốc tế 10
2.2.4. Nhận định thời cơ và chớp thời cơ trong lảnh đạo tổng khởi nghĩa cách mạng
tháng 8 năm 1945 10
2.2.5. Thảo và Độc tuyên ngôn độc lập 13