N. C. Khanh, N. T. Tâm kinh tế ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI, Tr. 30-37 30
Những nhân tố tác động đến Sự trỗi dậy của kinh tế
ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI
Nguyễn Công Khanh
(a)
, Nguyễn Thị Tâm
(b)
Tóm tắt. Trong những năm đầu thế kỉ XXI, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế,
ấn Độ trở thành một hiện tợng của thế giới. Để có đợc sự phát triển mạnh mẽ ấy,
bên cạnh những nguồn lực về tự nhiên và xã hội, vai trò quyết định trớc hết thuộc
về nhân tố vĩ mô với các chính sách cải cách kinh tế, xã hội đúng đắn và kịp thời của
nhà nớc. Hệ quả trực tiếp của những chính sách kinh tế xã hội ấy là sự vơn lên
mạnh mẽ của các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm nh: công nghệ thông tin, điện
tử viễn thông, công nghiệp dợc phẩm, công nghệ sinh học, Bài viết này sẽ làm
sáng rõ hơn những điều đó
ớc sang thế kỉ XXI, với sự phát
triển kinh tế vợt bậc của mình,
ấ
n Độ đợc mệnh danh là con voi đang
không ngừng phát huy ảnh hởng sâu
rộng ở khu vực châu
á
vơn lên
Từ đầu thế kỷ XXI,
ấ
n Độ nổi lên là
điểm sáng kinh tế hấp dẫn nhất nhì
châu
á
. Với tốc độ phát triển thần kỳ,
từ một nền kinh tế lạc hậu, quốc gia
Nam
á
này đã từng bớc chuyển dần
sang một nền kinh tế phát triển cao dựa
vào thơng mại và công nghiệp. Với
những thành tựu nh: đứng thứ 5 trên
thế giới về thu hút đầu t FDI, thu
nhập đầu ngời hơn 500 USD/năm;
kinh tế tăng trởng đều đặn ở mức
trung bình 6-8%; xuất khẩu chiếm tỉ
trọng 43-47% tổng kim ngạch; công
nghiệp phần mềm tăng trởng hàng
năm vợt quá 50%
ấ
n Độ trở thành
văn phòng dịch vụ của thế giới và
đợc xem là một hiện tợng của thế kỉ
mới. Theo đánh giá của các tổ chức quốc
tế cũng nh các nhà nghiên cứu, đến
giữa thế kỷ XXI
ấ
ấ
n Độ không phải trải qua quá
trình công nghiệp hoá tuần tự thông
thờng nh các nớc khác
Mặc dù còn nhiều trở ngại trên con
đờng phát triển kinh tế nhng nhiều
học giả và chính khách nổi tiếng trên
thế giới dự đoán rằng
ấ
n Độ sẽ trở
thành một cờng quốc, một trung tâm
sức mạnh của thế giới trong vài thập kỉ
tới và đó cũng là mục tiêu của các nhà
lãnh đạo
ấ
n Độ. Thời báo châu
á
số
25/12/2003 viết từ nhiều năm nay các
nhà phân tích đã cho rằng đầu thể kỷ
XXI
ấ
n
Đ
ộ sẽ trở thành một nớc có sức
mạnh và ảnh hởng quan trọng ở Đông
Nam
á
. Quả thực những bằng chứng
gần đây cho thấy Chính phủ
á
và có vị trí chiến lợc
quan trọng trên bản đồ chính trị thế
giới.
ấ
n Độ có nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú với các mỏ khoáng sản
có trữ lợng lớn nh than đá hơn 120 tỉ
tấn, quặng sắt hơn 22,4 tỉ tấn (chiếm
1/4 trữ lợng thế giới), mangan khoảng
180 tỉ tấn (đứng thứ 3 thế giới) Ngoài
ra các khoáng sản nh crôm, bô xit,
đồng, kẽm, vàng, dầu mỏ đều là
những nguồn tài nguyên thiên nhiên
quý giá của
ấ
n Độ mà không phải quốc
gia nào cũng có đợc. Bên cạnh đó,
ấ
n
Độ còn có những đồng bằng phì nhiêu
vào loại lớn nhất thế giới nh: đồng
bằng Gange, đồng bằng Brahmaputra,
và các cao nguyên, thung lũng rộng
lớn nh: cao nguyên Đêcan, thung lũng
Assam, thung lũng Arvalli
ấ
n Độ còn là quốc gia có nguồn tài
nguyên sính vật phong phú. Rừng núi
ấ
N. C. Khanh, N. T. Tâm kinh tế ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI, Tr. 30-37 32
và phơng pháp t duy trừu tợng làm
cho đội ngũ làm công nghệ phần mềm
có u thế vợt trội.
Ngoài u thế về lực lợng lao động,
dân số đông còn tạo ra thị trờng rộng
lớn và giàu có. Trong xu hớng toàn cầu
hoá gắn liền với tự do hoá đây lại chính
là lợi thế của
ấ
n Độ trong việc phát
triển tối đa quy mô các doanh nghiệp
cũng nh quy mô các ngành nghề, công
nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ
Những lợi thế về tự nhiên, dân c
và nguồn lao động dồi dào chính là
những nhân quan trọng trong việc phát
triển kinh tế của
ấ
n Độ cũng nh nhiều
quốc gia khác. Tuy nhiên, để tạo nên sự
bứt phá mạnh mẽ về kinh tế trong
những năm đầu thế kỉ XXI ở
ấ
n Độ thì
n
Đ
ộ. Chúng ta phải biến
cuộc khủng hoảng này thành cơ hội để
xây dựng một
ấ
n
Đ
ộ mới
[5, tr. 12].
Phát biểu trớc Quốc hội, với t cách là
ngời đại diện bộ tài chính, M. Singhn
đã trích dẫn câu nói của đại văn hào
ngời Pháp V. Huygô để nhấn mạnh
việc
ấ
n Độ phải tiến hành đổi mới về
kinh tế: Không có sức mạnh nào trên
trái đất này có thể ngăn cản một ý
tởng khi thời khắc của nó đã điểm
.
Thủ tớng
ấ
n Độ N. Rao đã hoàn toàn
ủng hộ đề xuất của M. Singhn. Tháng
7/1991 đợc coi là mốc đánh dấu việc
triển khai cải cách kinh tế
ấ
33
Từ khi có quyết định cải cách mang
tính chuyển hớng chiến lợc này, ở ấn
Độ đã dấy lên một làn sóng mới về tự do
hoá nền kinh tế tạo ra những thay đổi
sâu sắc trong kinh tế thơng mại,
khuyến khích đầu t nớc ngoài đa
quốc gia Nam
á
này vơn lên vị trí cao
trong hàng ngũ các nớc đang tăng
trởng ở khu vực châu
á
- Thái Bình
Dơng và giải phóng sức mạnh tiềm
tàng của một quốc gia đang trong quá
trình chuyển đổi. Bằng chính sách cải
cách đúng đắn ấy, ấn Độ đã đạt đợc
nhiều thành tựu kì diệu, cùng với Trung
Quốc trở thành "đầu tầu châu
á
.
Bớc sang thế kỉ XXI, tình thế giới
và trong nớc có nhiều biến đổi đặt ra
những thách thức mới cho nền kinh tế
ấ
n Độ nh: những ảnh hởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á,
sự vơn lên mạnh mẽ của Trung Quốc
và các nớc công nghiệp mới (NIC), các
công nghệ thông tin
Một trong những nội dung quan
trọng của các cuộc cải cách kinh tế ở
ấ
n
Độ chính là việc thực hiện một cách có
hiệu quả chính sách ngoại giao kinh tế
trong thời kì mới. Bộ trởng ngoại giao
ấ
n Độ Solanki nói: kinh tế toàn cầu
hóa đã trở thành động lực quan trọng
nhất quyết định quan hệ quốc tế mới.
Các quan chức bộ ngoại giao
ấ
n Độ còn
khẳng định: Thành bại của chính sách
đối ngoại từ nay sẽ đợc quyết định bởi
đòn bẩy kinh tế. Trên tinh thần đó,
những chính sách mới đợc ban hành.
Chính sách hớng Đông mà nội dung
chủ yếu là vơn tới các nớc ở khu vực
Đông Nam
á
đã phát huy một cách đắc
lực.
ấ
n Độ sớm nhận thấy tiềm năng to
lớn từ việc hợp tác với khu vực này. Giới
lãnh đaọ
ấ
Tokyo và hầu hết thủ đô của các nớc
Đông Nam
á
để tăng cờng mối quan
hệ trong đó nội dung cuộc cải cách kinh
tế
ấ
n Độ và những cơ hội mà nó đa lại
luôn là chủ đề đợc đa ra để tuyên
truyền.
2.3. Sự nhảy vọt của những ngành
kinh tế mũi nhọn
Nếu nh nhân tố vĩ mô là các chính
sách cải cách kinh tế của giới lãnh đạo
đất nớc thì hệ quả trực tiếp của những
cuộc cải cách ấy chính là sự phát triển
mạnh mẽ của các ngành kinh tế vốn
đợc coi là đặc trng của thế kỷ mới
nh công nghiệp điện tử - tin học, công
nghệ dợc phẩm, công nghệ sinh học
Ngành công nghiệp điện tử
ấ
n Độ
giữ vai trò ngọn cờ đầu trong các ngành
công nghiệp. Từ sau cải cách kinh tế
1991,
ấ
n Độ trở thành đối thủ cạnh
tranh lớn nhất thế giới trong lĩnh vực
sáng tạo sản xuất, bảo trì các sản phẩm
năm tiếp theo. Doanh thu của lĩnh vực
công nghiệp viễn thông năm 1999-2000
là 40 tỉ rupi, đến 2003 - 2004 con số ấy
lên tới 52 tỉ rupi và đạt gần 65 tỉ rupi
trong năm 2007.
Công nghiệp phần mềm và internet
là lĩnh vực nổi bật nhất trong các
ngành công nghiệp mới của
ấ
n Độ. Đây
là ngành có thể tận dụng và khai thác
tài năng của đông đảo đội ngũ khoa
học kỹ thuật và kĩ s
ấ
n Độ, đợc coi là
ngành công nghiệp mũi nhọn. Không
nh các siêu cờng kinh tế khác,
ấ
n Độ
không đủ lực để phát triển ồ ạt các
ngành công nghệ cao, phát triển công
nghệ phần mềm là cách đi ngắn nhất
để
ấ
n Độ có thể bắt kịp những cờng
quốc nh Mỹ, sẽ không có cơ hội này
nếu chọn ngành công nghiệp khác làm
mũi nhọn. Khẩu hiệu đa ra là: Công
nghiệp phần mềm ấn Độ là kiểu mẫu
của sức mạnh và thành công [3, tr.
mềm của
ấ
n Độ đợc xuất khẩu sang
Mỹ, 30% sản phẩm đợc xuất khẩu
sang các nớc công nghiệp Tây Âu.
ấ
n
Độ hiện có nhiều trung tâm phần mềm
không chỉ nổi tiếng trong nớc mà còn
đợc nhiều khách hàng thế giới biết đến
nh Hyderbade, Bangalore,
Kanakata Một trong những trung
tâm phát triển nhanh nhất về ngành
công nghiệp này là Bangalore - nơi đợc
mệnh danh là Thủ đô tin học mới, là
Cao nguyên Silincon để so sánh với
Thung lũng Silincon của Mỹ ở
Califocnia. Những thành quả liên tiếp
này đã tạo thêm niềm phấn khích cho
các nhà công nghiệp phần mềm và đặt
ra tham vọng cho chính phủ
ấ
n Độ đa
đất nớc này trở thành siêu cờng phần
mềm vào năm 2008, với mức xuất khẩu
đạt 50 tỷ đôla và dự kiến sẽ đạt 80 tỷ
vào năm 2010.
Bên cạnh sự vơn lên mạnh mẽ của
ngành công nghiệp điện tử - tin học,
ngành công nghiệp dợc phẩm cũng góp
nớc. Ngành công nghiệp dợc phẩm
nớc này chiếm giữ khoảng 6 tỉ USD
trong tổng số 550 tỷ USD của thị trờng
công nghiệp dợc phẩm toàn cầu. Theo
ớc tính, đến năm 2015 doanh thu của
thị trờng dợc phẩm
ấ
n Độ sẽ tăng
hơn 3 lần, đạt 20 tỷ USD so với 6,3 tỷ
USD hiện nay, và
ấ
n Độ sẽ trở thành
nớc đứng thứ 10 toàn thế giới trong
lĩnh vực này, so với vị trí thứ 14 năm
2005, vợt qua Brazil, Mexico, Hàn
Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngành công nghệ sinh học cũng
nằm trong lĩnh vực chiến lợc mà ấn
Độ tập trung đầu t phát triển với chủ
trơng: Công nghệ sinh học giúp xoá
đói giảm nghèo, tiến bớc hội nhập
[4,
tr. 65]. Lĩnh vực công nghệ sinh học ấn
Độ có đợc tốc độ tăng trởng 25%
trong 4 năm liên tiếp vừa qua và hớng
tới mục tiêu đạt tổng thu nhập 5 tỷ
là 140,56 kg. Hiện nay thu nhập của
công nhân làm việc trong ngành nông
nghiệp đã tăng khoảng 8% trên năm,
nhanh hơn tốc độ tăng trởng kinh tế
của quốc gia. Trong những năm gần đây
ấ
n Độ trở thành nớc xuất khẩu nông
sản lớn với kim ngạch hơn 6,7 tỉ USD
năm 2002-2003 và 7,5 tỉ triệu USD năm
2003-2004. Những sản phẩm cây công
nghiệp nh chè, mía, bông, cà phê, gia
vị, sữa cùng với các sản phẩm của
ngành lâm nghiệp và ng nghiệp nh
gỗ tếch, gỗ hồng mộc, tôm, cá là
những sản phẩm xuất khẩu tiêu biểu
của
ấ
n Độ đủ sức cạnh tranh với hầu
hết các quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh các ngành kinh tế mũi
nhọn trên thì sự khởi sắc của ngành
ngoại thơng, du lịch, dịch vụ, giao
thông vận tải cũng là nhân tố quan
trọng đa đến sự trỗi dậy của nền kinh
tế
ấ
n Độ những năm đầu thế kỉ XXI.
Từ đầu thế kỷ XXI, ấn Độ nổi lên là
điểm sáng kinh tế hấp dẫn nhất nhì
châu á, với tốc độ phát triển thần kỳ.
đợc những bài học kinh nghiệm quý
báu trên con đờng phát triển đất nớc
trong thời kì mới.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008 37
Tài liệu tham khảo
[1] Trịnh Cờng,
ấ
n Độ với mục tiêu trở thành cờng quốc, Nghiên cứu Đông Nam
á
Số 4, 2005, tr. 12-14.
[2] Lêmôci,
ấ
n Độ sẽ là một Trung Quốc mới, Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 4,
1995, tr. 55-59.
[3] Phạm Quang Diệu, Con đờng phát triển của
ấ
n Độ trong kỷ nguyên toàn cầu
hoá, Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 1, 2005, tr. 40-47.
[4] Đỗ Đức Định, Mời năm cải cách kinh tế
ấ
n Độ, Nghiên cứu Đông Nam
(a)
Khoa Lịch Sử, Trờng Đại học Vinh
(b)
45A, Khoa Lịch Sử, Trờng Đại học Vinh.