157PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN NĂM 2015 - Pdf 34

PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU
KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN NĂM 2015
GS.TS. Trần Thọ Đạt
TS. Hà Quỳnh Hoa
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

1. Giới thiệu
Trong thời gian qua, để giảm thiểu những tổn thương cho nền kinh
tế khi bị tác động bởi những biến động của thị trường tài chính quốc tế,
cũng như những bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước, Chính phủ Việt Nam
đã khá năng động trong việc thực thi các chính sách kinh tế nhằm ổn
định kinh tế vĩ mô, trong đó phải kể đến chính sách tài khóa (CSTK) và
chính sách tiền tệ (CSTT). CSTK và CSTT là hai chính sách kinh tế vĩ
mô quan trọng được Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng để điều
tiết kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả của hai công cụ này ở các nước khác
nhau là không giống nhau. Mỗi chính sách đều có điểm mạnh và điểm
yếu riêng đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng nhằm đem lại hiệu quả cao
nhất. Ở Việt Nam, việc phối hợp đã có cơ sở pháp lý và hai cơ quan của
chính phủ là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính cũng đã có
những bước phối hợp trong quá trình xây dựng và điều hành.
Tuy nhiên, các kết quả đạt được còn tương đối khiêm tốn, nguyên
nhân một phần là do sự bị động trong việc thực thi các chính sách cũng
như sự kết hợp chưa nhịp nhàng và ăn khớp của CSTK và CSTT. Hiện
tại, việc nghiên cứu mang tính định lượng tác động trong việc phối hợp
giữa CSTT và CSTK ở Việt Nam còn ít, và không nhiều nghiên cứu
chỉ ra được sự kết hợp của hai chính sách này ở Việt Nam. Bài viết này
phân tích thực trạng về chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự phối
157





khu vực và trên thế giới (Hình 6). Nghiên cứu của Ủy Ban Giám sát
Tài chính Quốc gia cho thấy, lạm phát cao là kết quả của nhiều nguyên
nhân, bao gồm: lạm phát nhập khẩu (biến động giá nhiên liệu và lương
thực - thực phẩm trên thị trường thế giới); lạm phát chi phí đẩy (điều
chỉnh tỷ giá, điều chỉnh lương và điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ
bản như giá xăng tăng); lạm phát cầu kéo (tổng cầu tăng quá nhanh,
tổng phương tiện thanh toán luôn duy trì tốc độ tăng quá cao so với nhu
cầu hấp thụ của nền kinh tế); lạm phát luôn cao hơn nhiều so với nhiều
nước trong khu vực gây ra “kỳ vọng lạm phát” cao hơn tạo thành “lạm
phát tâm lý”.
Hình 2. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam và một số nước trong khu vực (%)

Nguồn: ADB, TRADING ECONOMICS.

2.1.3. Đầu tư và thương mại
Hình thành vốn của Việt Nam trước khủng hoảng có xu hướng tăng
nhanh làm tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng tăng trong giai đoạn này,
do đó đã giúp Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng cao thời kỳ 20012007. Tuy nhiên, xu hướng giảm đã thể hiện ngày càng rõ từ khi Việt
Nam thực hiện giảm tốc đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11 (24/2/2011)
về giảm tổng cầu nhằm kiểm soát lạm phát, tỷ lệ hình thành vốn/GDP
(Hình 7) đã giảm mạnh xuống còn 27,24% năm 2012 và làm tỷ lệ tổng
vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của năm 2012 và 2013 chỉ còn 30,4%.

159


Hình 3. Hình thành vốn của Việt Nam và một số nước trong khu vực (%GDP)


những bước tiến mạnh nhờ vào việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu
rộng vào thị trường quốc tế. Trong giai đoạn 2006-2011, kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa trung bình đạt 67 tỷ USD/năm, bằng 2,8 lần con số
của thời kỳ 2000-2006. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng 34,15%,
lên mức 96,9 tỷ USD. Thời kỳ 2007-2011, kim ngạch nhập khẩu có
tốc độ tăng cao, đặc biệt trong hai năm đầu sau khi Việt Nam trở thành
thành viên của WTO. Năm 2006, kim ngạch nhập khẩu tăng 22% thì
năm 2007 tỷ lệ này đạt 39,8%. Sau khủng hoảng 2008-2009, tuy hoạt
động xuất nhập khẩu có giảm nhưng mức độ thâm hụt thương mại vẫn
cao, bình quân giai đoạn 2009-2011, thâm hụt thương mại đạt khoảng
11,8 tỷ USD. Tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu tăng nhanh, từ mức 16,4% vào
thời kỳ 2001-2006 lên mức 21,6% giai đoạn 2007-2011; tuy nhiên, tỷ
lệ này đã giảm mạnh vào năm 2011. Đến năm 2012 và 2013, Việt Nam
đã có sự thay đổi trong cán cân thương mại, nếu thời kỳ trước là sự
thâm hụt trầm trọng trong cán cân thương mại thì giai đoạn này cán cân
thương mại bắt đầu chuyển sang thặng dư (2012: 748,8 triệu USD và
2013: 863 triệu USD).
Như vậy, có thể thấy thời gian 2001-2013, nền kinh tế Việt Nam có
những biến động lớn về các biến số kinh tế vĩ mô. Đặc biệt trong thời
kỳ từ sau khủng hoảng kinh tế đến nay tăng trưởng có xu hướng giảm
161


so với thời kỳ trước và tốc độ tăng thường thấp hơn mục tiêu Chính
phủ đặt ra, tuy vậy, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn đạt mức độ
tăng trưởng trung bình trong khu vực Đông Nam Á. Lạm phát của Việt
Nam trong thời gian qua cũng có những biến động thất thường và có xu
hướng cao hơn các nước trong khu vực. Chêch lệch đầu tư và tiết kiệm
thời kỳ hậu khủng hoảng gia tăng mạnh làm xu hướng tăng thâm hụt
cán cân thương mại. Tuy nhiên, những năm gần đây điều này đã được

2.3.1. Thực trạng điều hành CSTT
Cùng với tiến trình cải cách nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã có nhiều đổi mới, đặc biệt là trong việc hoạch định và thực thi
CSTT, nhờ vậy ngành ngân hàng đã có những đóng góp không nhỏ vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an
sinh xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập
sâu và rộng với nền kinh tế thế giới kéo theo thương mại và chu chuyển
vốn quốc tế diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn, việc xây dựng và điều hành
CSTT trở nên phức tạp và khó khăn hơn, đặc biệt từ năm 2007 trở lại
đây, bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước có nhiều thay đổi.
Từ năm 2007 trở về trước, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn dưới
10% và đặc biệt thấp vào đầu những năm 2000, đồng thời thực hiện
chương trình kích cầu thúc đẩy tăng trưởng của chính phủ thì CSTT đã
được thực hiện nới lỏng trong suốt thời gian dài. Tốc độ tăng cung ứng
tiền tệ của nước ta luôn cao hơn hẳn các nước trong khu vực (Hình 10).
Bước sang năm 2008, do áp lực lạm phát gia tăng, CSTT đã được thực
hiện thặt chặt nhằm chống sự gia tăng của giá cả. Tốc độ tăng cung ứng
tiền tệ năm 2008 đã giảm đi hơn một nửa so với năm 2007. Qua đó lạm
phát đã được kìm giữ song lại là rào cản cho tăng trưởng.
Hình 6. Tỷ lệ tăng M2 của Việt Nam và một số nước trong khu vực

Nguồn: ADB, TRADING ECONOMICS.

163


Năm 2009, CSTT đã phản ứng kịp thời với cuộc khủng hoảng và
suy thoái kinh tế toàn cầu. Việc chuyển hướng CSTT từ thắt chặt sang
nới lỏng đã giúp tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý.
Năm 2011, công cuộc thắt chặt CSTT nhằm kiềm chế lạm phát, ổn

Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014 mục tiêu

Lạm phát (%)
MT
6

8
8,2-8,5
8,5 7
6,5 5
6,5
7- 7,5
6,5 5
5,5
5,8

TH
6,0
6,8
7,04
7,24
7,7
8,4
8,17
8,5
6.18
5,32
6,87
5,89
5,03
5,42
 

Các chỉ tiêu tiền tệ
Thực hiện
%M2

14-Dec

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Báo cáo thường niên NHNN.

Công cụ điều hành của CSTT thời gian qua đã được NHNN điều
chỉnh linh hoạt. Ngoài các công cụ thông thường như nghiệp vụ thị
trường mở, dự trữ bắt buộc, tỷ giá, công cụ lãi suất (lãi suất cơ bản, lãi
suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu- Hình 7), v.v... thì trong những
hoàn cảnh đặc biệt về kinh tế NHNN đã đưa thêm những công cụ khác
trong điều hành. Chẳng hạn như việc thực hiện hỗ trợ lãi suất 4% năm
2009 khi nền kinh tế gặp khó khăn trong tăng trưởng, áp dụng trở lại
trần tín dụng và trần lãi suất huy động năm 2011 nhằm chống lạm phát,
triển khai gói hỗ trợ 30.000 tỷ cứu thị trường bất động sản, v.v...

165


Hình 7. Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu

Nguồn: NHNN.

2.3.2. Thực trạng điều hành chính sách tài khóa thời kỳ 2001-2013
Thu-chi NSNN thực hiện trong giai đoạn 2001-2013 liên tục tăng
(Hình 8). Số thu năm 2013 lớn gấp 7,61 lần năm 2001. Tuy số chi năm
2012 có điều chỉnh giảm xuống một chút nhưng tính đến năm 2013 thì
số chi cũng đã tăng lần gấp 7,17 lần so với năm 2001.
Hình 8. Quy mô thu, chi và thâm hụt NSNN năm 2001-2013

* Ghi chú: số liệu 2001-11 là số quyết toán, năm 2012 là số ước tính lần 2 và
năm 2013 là số ước tính lần 1.

* Ghi chú: số liệu 2001-11 là số quyết toán, năm 2012 là số ước tính lần 2 và
năm 2013 là số ước tính lần 1.
Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ Tài chính.

167


Hình 10. Tình hình thực hiện vượt dự toán thu - chi qua các năm 2001-2011(%)

* Ghi chú: Số liệu 2001-11 là số quyết toán, năm 2012 là số ước tính lần 2 và
năm 2013 là số ước tính lần 1.
Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ Tài chính.

Dựa trên số liệu quyết toán hàng năm giai đoạn 2001-2011 (Hình
10) cho thấy so với dự toán thu - chi các năm thì số thực hiện thu- chi
đều vượt khá cao. Tổng thu thực hiện so dự toán hàng năm giai đoạn
2001-2011 bình quân vượt 21,21%. Tổng chi vượt dự toán bình quân
hàng năm là 14,24%. Như vậy, số thu thực hiện vượt dự toán là cao hơn
mức vượt chi. Tuy nhiên, do số tuyệt đối về chi NSNN ở các năm đều
cao hơn so với số thực hiện thu NSNN, cho nên số tuyệt đối về thâm hụt
NSNN vẫn có xu hướng tăng.
Mức độ động viên thu NSNN giai đoạn 2001-2013 liên tục tăng
trong các năm. Nếu tính trung bình giai đoạn 2001-2005 mức độ động
viên thu NSNN chỉ bằng 25,34% so với GDP thì trung bình giai đoạn
2006-2010 đã tăng lên 29,24% (Hình 11). Do thực hiện chính sách thắt
chặt nhằm chống lạm phát theo Nghị quyết 11 và những khó khăn nền
kinh tế gặp phải trong giai đoạn 2011-2013 đã làm mức thu NSNN
bình quân giai đoạn này giảm xuống so với các giai đoạn trước và
tương đương chỉ đạt khoảng 24,48% GDP. Tính trung bình cho giai
đoạn 2001-2013 thì mức độ động viên thu ngân sách vẫn đạt khoảng

2001-2013 chi cho hoạt động của bộ máy ở Việt Nam là 55,4% tổng chi
NSNN (Hình 13). Sở dĩ khoản mục chi này chiếm tỷ trọng lớn trong
169


tổng chi NSNN là vì trong hơn 10 năm qua thu nhập bình quân của dân
cư đã tăng khá mặc dù có những thời kỳ kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó
khăn. Do vậy khu vực hành chính, sự nghiệp liên tục mở rộng phạm vi
hoạt động và cung cấp các dịch vụ công cộng, điều đó đồng nghĩa với
việc chi tiêu sẽ tăng lên. Ngoài ra, trong giai đoạn này, Chính phủ cũng
đang triển khai thực hiện chương trình cải cách tiền lương trong các đơn
vị hành chính, sự nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tiễn nên chi
thường xuyên luôn giữ tỷ trọng lớn trong chi tiêu NSNN hàng năm. Do
khoản chi tiêu này chiếm tỷ trọng lớn, nên nếu không kiểm soát được
mà để cho khoản chi này tiếp tục tăng lên thì đây sẽ là một trong những
lý do đẩy thâm hụt NSNN tăng theo.
Hình 12. Cơ cấu chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên (% GDP)
giai đoạn 2001-2013

* Ghi chú: số liệu 2001-11 là số quyết toán, năm 2012 là số ước tính lần 2 và
năm 2013 là số ước tính lần 1.
Nguồn: Bộ Tài chính.

Hình 13. Cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên trong tổng chi NSNN;
và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 2001-2013(%)

* Ghi chú: số liệu 2001-11 là số quyết toán, năm 2012 là số ước tính lần 2 và
năm 2013 là số ước tính lần 1.
Nguồn: Bộ Tài chính (đơn vị %).


thật sự ổn định trong trung và dài hạn, nên các doanh nghiệp thường gặp
khó khăn khi chính sách thay đổi. Các chính sách chạy theo việc xử lý
thực tiễn quá nhiều nên tính bền vững thấp và hiệu lực, hiệu quả không
cao. Chính sách vẫn còn mang đặc thù của việc can thiệp hành chính
171


vào nền kinh tế mà chưa hoàn toàn dựa trên các cơ sở lý thuyết để gián
tiếp điều tiết nền kinh tế, v.v...
2.3.3. Thực trạng phối hợp CSTK và CSTT ở Việt Nam
Về lý thuyết, CSTK có thể tác động đến CSTT thông qua hai kênh:
trực tiếp và gián tiếp. Về tác động trực tiếp, CSTK có thể tác động đến
CSTT bằng nhiều cách. Thứ nhất, CSTK mở rộng có thể dẫn đến thâm
hụt ngân sách quá mức và do đó có thể đẩy Chính phủ đến việc phải yêu
cầu NHNN tạm ứng để tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Vì vậy, CSTK
mở rộng sẽ dẫn đến CSTT mở rộng, làm gia tăng nguy cơ lạm phát và
gây khó khăn cho cán cân thanh toán. Ngay cả khi Chính phủ không
cần NHNN tạm ứng để bù đắp thâm hụt ngân sách, tức là Chính phủ có
thể vay trực tiếp từ dân chúng thì việc vay này của Chính phủ cũng gây
quan ngại về hiệu ứng “hút cạn nguồn vốn” khi nguồn vốn còn lại dành
cho khu vực tư nhân sẽ ít đi và lãi suất cao hơn. Do đó, tăng trưởng kinh
tế có khả năng bị ảnh hưởng. Nếu Chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách
bằng vay nợ nước ngoài, rủi ro về tỷ giá và cán cân thanh toán tổng thể
cũng làm cho NHNN quan ngại và sẽ phải có các đối sách tương ứng.
Ngoài ra, CSTK còn có thể tác động đến CSTT qua tác động gián tiếp
đến kỳ vọng thị trường.
Ngược lại, CSTT mở rộng sẽ dẫn tới lạm phát tăng cao, tỷ giá tăng,
chi tiêu NSNN cho đầu tư, cho chi thường xuyên và chi trả nợ cũng tăng
lên do giá tăng và do vậy thâm hụt NSNN cũng sẽ tăng theo. Vì vậy, để
ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát có hiệu quả, thường phải

điều hành. Thời kỳ này, hàng loạt các Luật, quy định được ban hành
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển thị
trường. Chính sách thuế có sự điều chỉnh giảm, lãi suất được tự do hóa,
v.v... Giai đoạn 2000-2007, CSTT hầu như đều có thay đổi mang hướng
thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, đối với CSTK thì không luôn thực hiện
mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng mà cũng phải thực hiện chống lạm phát
như năm 2004, khi lạm phát tăng Chính phủ đã phải điều chỉnh giảm chi
NSNN từ mức tăng 32% năm 2003 chỉ còn 15,5% vào năm 2004.
Tuy vậy, thời kỳ 2000-2007, lạm phát luôn được giữ ở mức dưới
10% (Hình 17). Năm 2007 do cán cân thanh toán thặng dư lớn, để ổn
định tỷ giá NHNN đã mua vào một khối lượng lớn ngoại tệ cho dự trữ
quốc gia. Cũng trong thời kỳ này, sự mở rộng tín dụng quá mức (Hình
173


15), trung bình khoảng 32% tăng một năm (năm 2007 tăng trưởng tín
dụng cao nhất đạt 53,89%). Điều này đã đẩy cung ứng tiền tệ năm 2007
tăng kỷ lục, ở mức tăng 46%. Sự gia tăng cao cung ứng tiền tệ năm
2007 cùng với tỷ lệ tăng chi NSNN 25,3% (cao hơn so với những năm
trước) đã làm tăng lạm phát năm 2007 và có ảnh hưởng trễ sang năm
2008. Tỷ lệ lạm phát bình quân năm 2008 lên đến mức 23,12%, gấp gần
3 lần tỷ lệ lạm phát năm 2007.
Hình 14. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tăng cung tiền và tỷ lệ tăng chi NSNN (%)

Nguồn: Niên giám thống kê, Bộ Tài chính, NHNN& ADB.

Hình 15. Tốc độ tăng trưởng tín dụng (%)

Nguồn: NHNN.



hồi, tuy nhiên lạm phát có dấu hiệu tăng, khi đó CSTT nới lỏng kết hợp
với CSTK thắt chặt đã được thực hiện giúp tăng trưởng kinh tế mà vẫn
kiểm soát được lạm phát. Năm 2011, NHNN thực hiện CSTT chặt chẽ
song với sự mở rộng của CSTK đã làm cho lạm phát năm 2011 tăng
trở lại ở mức bình quân năm trên 18%. Sau năm 2011, với chương trình
cắt giảm chi tiêu đầu tư công cùng với thắt chặt tăng trưởng tín dụng,
lạm phát đã được kiểm soát ở mức thấp song tăng trưởng kinh tế lại bị
giảm sút.
Như vậy, về mặt chủ trương thì việc phối hợp hai chính sách kinh
tế vĩ mô là CSTK và CSTT trong điều hành kinh tế của Chính phủ đã
có và cũng đã triển khai. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách cho
thấy chưa có được sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách gây lạm
phát tăng cao vào năm 2008 và năm 2011, gây bất ổn kinh tế vĩ mô.
3. Phân tích định lượng và đề xuất phương án phối hợp CSTK
và CSTT cho năm 2014 và 2015
Cơ sở lý thuyết của sự phối hợp hai chính sách được thể hiện trong
mô hình IS-LM, CSTT tác động đến sự dịch chuyển của đường LM,
CSTK ảnh hưởng tới đường IS. Sản lượng trong mô hình IS-LM thay
đổi chính là phản ánh mức độ dịch chuyển của đường tổng cầu. Qua
đó, phân tích được tác động đối với sản lượng (tăng trưởng) và mức giá
chung (lạm phát).
Điều này có nghĩa là để phân tích tác động của hai chính sách trên
đến sản lượng và giá cả thì chúng ta cần phải tìm được hệ số co giãn
của cầu tiền đối với thu nhập và lãi suất (thông qua ước lượng hàm cầu
tiền), tìm hệ số co giãn của đầu tư đối với lãi suất thông qua hàm đầu tư,
đồng thời xác định độ lớn của số nhân chi tiêu.
Phần phân tích này được chia thành 3 nội dung: ước lượng hàm cầu
tiền, ước lượng hàm đầu tư, và ước lượng số nhân chi tiêu. Do tình hình
kinh tế Việt Nam năm 2013 chưa có sự thay đổi đột biến về thể chế cũng

đổi của lãi suất. Với nền kinh tế vẫn bị đô-la hóa thì tỷ giá hối đoái cũng
là một biến giải thích nhu cầu nắm giữ tiền của Việt Nam. Theo kết quả
ước lượng được cho thấy sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng dương
đến sự gia tăng của cầu tiền rộng.
Ngoài thu nhập, lãi suất, tỷ giá thì còn có các nhân tố khác có khả
năng ảnh hưởng tới nhu cầu nắm giữ tiền ở Việt Nam được ẩn chứa
đằng sau giá trị của con số -10,92 của phương trình cầu tiền ước lượng
được. Hệ số này có giá trị âm cho thấy khi công nghệ thanh toán được
áp dụng, sự phát triển của thị trường tài chính hoặc sự đa dạng của các
tài sản thay thế tiền thì sẽ làm cho cầu tiền giảm đi.
Sau khi thực hiện một số kiểm định liên quan và loại bỏ các biến
không có ý nghĩa thống kê trong mô hình cầu tiền M2 ngắn hạn, và
thực hiện một số kiểm định thống kê cần thiết, hàm cầu tiền ngắn hạn
được ước lượng bằng mô hình ECM. Kết quả ước lượng được trong
phương trình cầu tiền M2 ngắn hạn cho thấy các biến đều có ý nghĩa
177


thống kê. Đồng thời, để kiểm định tính ổn định của hàm cầu tiền ngắn
hạn, các kiểm định CUSUM và CUSUM-Squares đã được thực hiện.
Kết quả cho thấy hàm cầu tiền ước lượng được nhìn chung là ổn định
trong thời kỳ nghiên cứu từ năm 2000 đến 2012 với mức ý nghĩa thống
kê 5%. Như vậy, trong thời kỳ nghiên cứu những thay đổi liên quan tới
chính sách, thể chế, cải cách tài chính vẫn chưa đủ mạnh để có thể gây
ra những cú sốc đột biến gây ảnh hưởng phi tuyến tới quan hệ giữa các
biến số trong hàm cầu tiền.
Tóm lại, hàm cầu tiền ước lượng được là phù hợp với lý thuyết, có
khả năng giải thích thực tiễn và thỏa mãn các kiểm định thống kê. Hàm
cầu tiền ổn định trong thời gian nghiên cứu nên có thể sử dụng trong
phân tích và dự báo. Dựa trên hàm cầu tiền đã ước lượng, có thể tính

của toàn xã hội mà tách đầu tư từ ngân sách nhà nước ra khỏi tổng đầu
tư để chỉ xem xét hành vi đầu tư của khu vực tư nhân.
Hàm đầu tư được ước lượng cho chuỗi số liệu theo quý, từ quý 1
năm 2000 đến quý 4 năm 2012. Các biến trong mô hình hàm đầu tư ước
lượng được có dấu phù hợp với lý thuyết và đều có ý nghĩa thống kê ở
mức ý nghĩa 5%.
LNPINVR = -5,59 + 1,175LNY – 0,227LNGINR – 0,0221R +
0,462LNPINVR(-1)
Se (1.6586) (0.2859) (0.0869) (0.0099) (0.1334)

(2)

R2 = 0,8667
Đầu tư của khu vực tư nhân (PINVR) phụ thuộc thuận chiều với
biến động kinh tế thông qua biến GDP (Y). Nếu tăng trưởng kinh tế tăng
thêm 1% thì đầu tư tư nhân thay đổi thuận chiều 1,175%. Biến phản ánh
chi phí của đầu tư là lãi suất (IR) có biến động ngược chiều. Khi lãi suất
tăng thêm 1% thì đầu tư của khu vực tư nhân giảm đi 0,022%. Kết quả
này cho thấy một sự thay đổi nhỏ của đầu tư theo thay đổi của lãi suất.
Điều này khá phù hợp với thực tế, đó là ở Việt Nam các doanh nghiệp
tư nhân chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có đủ tài sản
bảo đảm để thế chấp vay vốn ngân hàng, bởi vậy các doanh nghiệp của
khu vực tư nhân khó tiếp cận với vốn vay. Hàm ước lượng được cũng
cho thấy hai bộ phận của tổng đầu tư của toàn xã hội là đầu tư tư nhân
(PINVR) và đầu tư từ ngân sách nhà nước (GINR) có quan hệ ngược
chiều với nhau. Đầu tư chính phủ tăng thêm 1% thì đầu tư tư nhân giảm
179


đi 0,22%. Đầu tư là một biến kinh tế vĩ mô có sự thay đổi theo chu kỳ

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ thuế thu nhập bình quân được ước
lượng dựa trên cơ sở số liệu về tổng thuế thu nhập mà chính phủ thu
180


được trong mối quan hệ với tổng giá trị GDP của cả nền kinh tế. Kết quả
ước lượng được trình bày trong phương trình (3) cho thấy tỷ lệ thuế thu
nhập bình quân đạt 16,5% thu nhập.
TAX = 0.165Y – 4267.8
Se (0.001793)

(516.5482)

R2 = 0.965

DW = 2.1

(3)

b. Hàm tiêu dùng (CONS)
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu định lượng về hàm tiêu dùng chưa
được quan tâm đúng mức. Một trong những lý do là vì hạn chế trong
chuỗi số liệu thống kê về các biến giải thích tiêu dùng.
Hiện tại, do hạn chế về số liệu hiện có ở Việt Nam, chuỗi số liệu
được sử dụng trong hồi quy hàm tiêu dùng là chuỗi số liệu theo quý thời
kỳ từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2011. Phương pháp hồi quy OLS
2 bước được sử dụng để ước lượng hàm tiêu dùng, kết quả hàm tiêu
dùng ước lượng được như sau:
CONS = 0.65YD + 12497.9
Se (0.084026)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status