TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN SINH HỌC
----------
LÊ THỊ NGỌC HÀ
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA
CỦA CAO PHÂN ĐOẠN LÁ CÂY Ô RÔ
(Acanthus ilicifolius L.) IN VITRO
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SINH HỌC
Cần Thơ, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN SINH HỌC
----------
LÊ THỊ NGỌC HÀ
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA
CỦA CAO PHÂN ĐOẠN LÁ CÂY Ô RÔ
(Acanthus ilicifolius L.) IN VITRO
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SINH HỌC
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, tháng 05 năm 2015
Lê Thị Ngọc Hà
i
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên kết quả nghiên
cứu của tôi dƣới sự hƣớng dẫn của Cô Đái Thị Xuân Trang. Các số liệu và kết
quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc cá
nhân nào công bố trong bất kỳ luận văn nào trƣớc đây.
Cán bộ hƣớng dẫn
Tác giả luận văn
Ký tên
Ký tên
TS. Đái Thị Xuân Trang
Lê Thị Ngọc Hà
ii
Những vấn đề còn hạn chế:
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
c) Nhận xét đối với sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ từng nội dung
chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
d) Kết luận, đề nghị và điểm:
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2015
Cán bộ hƣớng dẫn
TS. Đái Thị Xuân Trang
iii
Luận văn tốt nghiệp
Trƣờng Đại Học Cần Thơ
Khoa Khoa Học Tự Nhiên
Bộ Môn Sinh Học
Trường Đại học Cần Thơ
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
------------
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của cao phân đoạn lá cây Ô
Rô (Acanthus ilicifolius L.) in vitro” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá kháng oxy
hóa của lá cây Ô Rô. Khả năng kháng oxy hóa đƣợc xác định dựa vào phƣơng
pháp TAS (Total Atioxidant Status). Cao methanol lá cây Ô Rô đƣợc tách
phân đoạn thành cao hexane, cao chloroform và cao ethyl acetate. Kết quả
khảo sát cho thấy cả ba loại cao phân đoạn đều có khả năng kháng oxy hóa
nhƣng ở mức độ khác nhau. Cao ethyl acetate cho hiệu quả loại bỏ gốc tự do
cao nhất là 80,00 ± 0,57% ở nồng độ 3 mg/mL, trong khi cao chloroform và
cao hexane chỉ cho hiệu quả loại bỏ gốc tự do lần lƣợt là 56,22 ± 3,23% và
37,31 ± 2,56% khi ở cùng nồng độ. Giá trị EC50 của cao hexane là 4,89
mg/mL, cao chloroform là 2,84 mg/mL và cao ethyl acetate là 0,64 mg/mL
cho thấy hiệu quả loại bỏ gốc tự do của cao phân đoạn lá cây Ô Rô cao hơn
chất kháng oxy hóa chuẩn vitamin C (EC50 = 66,34 mg/mL) rất nhiều lần
nhƣng lại thấp hơn so với cao methanol (EC50 = 0,094 mg/mL). Khả năng
kháng oxy hóa của cao hexane, chloroform và ethyl acetae cao hơn vitamin C
lần lƣợt là 14,23 và 104 lần.
Từ khóa: Cây Ô Rô (Acanthus ilicifolius L.), TAS, lão hóa, gốc tự do,
chất kháng oxy hóa.
v
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
vi
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
3.2.3 Dụng cụ và thiết bị ..................................................................... 16
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu...................................................................... 17
3.3.1 Phƣơng pháp tách phân đoạn cao methanol lá cây Ô Rô ........... 17
3.3.2 Khảo sát khả năng kháng oxy hóa tổng số (Total Antioxidant
Statsus (TAS) essay) in vitro của cao phân đoạn lá Ô Rô .................. 18
3.3.3 Cách xác định giá trị EC50 .......................................................... 18
3.3.4 Thống kê và phân tích số liệu .................................................... 18
CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 19
4.1 Khảo sát khả năng kháng oxy hóa tổng số (Total Antioxidant Status
(TAS) assay) in vitro ....................................................................................... 19
4.2 Khảo sát khả năng kháng oxy hóa tổng số (TAS) của các loại cao phân
đoạn lá cây Ô Rô in vitro ................................................................................. 20
4.2.1 Khả năng kháng oxy hóa của cao phân đoạn hexane ................. 20
4.2.2 Khả năng kháng oxy hóa của cao phân đoạn chloroform .......... 22
4.2.3 Khả năng kháng oxy hóa của cao phân đoạn ethyl acetate ........ 23
4.3 Đánh giá khả năng kháng oxy hóa và hàm lƣợng chất kháng oxy hóa có
trong cao hexane, chloroform, ethyl acetate .................................................... 26
CHƢƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................... 29
5.1 Kết luận ................................................................................................ 29
5.2 Kiến nghị .............................................................................................. 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 30
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 34
vitamin C ......................................................................................................... 19
Hình 4.2: Hiệu quả kháng oxy hóa của cao hexane......................................... 21
Hình 4.3: Hiệu quả kháng oxy hóa của cao chloroform .................................. 23
Hình 4.4: Hiệu quả kháng oxy hóa của cao ethyl acetate ................................ 25
Hình 4.5: Hiệu quả kháng oxy hóa của các loại cao phân đoạn lá cây Ô
Rô ..................................................................................................................... 27
ix
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CAT: Catalase enzyme
DNA: Deoxyribonucleic acid
EC50: Effective concentration of 50%
GPx: glutathion peroxidase
H2O2: Hydrogen peroxide
LDL: Low Density Lipoprotein
NFkB: Nuclear factor kappa B
Ox–LDL: Oxidized low-density lipoprotein
RNS: Reactive nitrogen species
ROS: Reactive sulfua species
RSS: Reactive oxygen species
SOD: Superoxide dismutase
SSTT: Sa sút trí tuệ
TAS: Total Antioxidant Status
TBARS: Thiobarbituric acid reactive subtances
nhà nghiên cứu chấp nhận nhƣ một lời giải thích về sự lão hóa. Trong những
năm sau đó, thuyết đƣợc nghiên cứu mở rộng và cho thấy gốc tự do không
những gây ra quá trình lão hóa mà còn là nguyên nhân của các bệnh liên quan
đến tuổi tác (Harman, 2009). Gốc tự do là nguyên nhân làm tế bào già đi và
gây ra các rối loạn trong cơ thể dẫn đến các bệnh lý nghiêm trọng khác nhƣ
ung thƣ, viêm khớp, xơ vữa động mạch, bệnh Alzheimer, và bệnh đái tháo
đƣờng (Clancy và Birdsall, 2013). Do đó, việc tìm ra những hợp chất kháng
oxy hóa có khả năng loại bỏ gốc tự do hoặc ức chế các quá trình gián tiếp sinh
ra gốc tự do là điều cần thiết để ngăn ngừa nhiều loại bệnh tật.
Hiện nay nhu cầu sử dụng các loại thuốc chống lão hóa ngày càng tăng
cao, nhƣng các loại thuốc làm đảo ngƣợc đồng hồ sinh học này chƣa có những
bằng chứng đáng tin cậy về tác dụng của nó cũng nhƣ tác dụng phụ có thể có.
Để tránh những tác dụng phụ không mong muốn mà các loại thuốc trên thị
trƣờng gây ra, các nghiên cứu đang hƣớng đến việc tìm ra nguồn dƣợc liệu
chứa các chất kháng oxy hóa tự nhiên có khả năng làm sạch các gốc tự do có
hại cho cơ thể.
1
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có
hệ thực vật phong phú và đa dạng hàng đầu thế giới (khoảng 12000 loài thực
vật bậc cao) (Phạm Hoàng Hộ, 2003), với nguồn dƣợc liệu dồi dào và truyền
thống sử dụng dƣợc liệu có nguồn gốc tự nhiên từ lâu đời (gần 4000 loài cây
thuốc) (Võ Văn Chi, 1999). Đây là một nguồn nguyên liệu vô cùng quý giá
cho các nghiên cứu về hợp chất thiên nhiên, cũng nhƣ những nghiên cứu về
hoạt tính sinh học theo hƣớng hiện đại.
CHƢƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan gốc tự do
2.1.1 Nguồn gốc gốc tự do
Các gốc tự do là các phân tử có một điện tử đơn lẻ ở lớp ngoài cùng
(Riley, 1994). Cấu hình này của gốc tự do không ổn định và luôn có xu hƣớng
lấy điện tích của các phân tử liền kề nhƣ protein, lipid, carbohydrate và acid
nucleic. Trong hệ thống sinh học, các gốc tự do có nguồn gốc từ oxy, nitơ và
các phân tử lƣu huỳnh. Những gốc tự do trong nhóm này đƣợc gọi là dạng oxy
phản ứng (ROS: Reactive oxygen species), dạng nitơ phản ứng (RNS:
Reactive nitrogen species) và dạng lƣu huỳnh phản ứng (RSS: Reactive sulfua
species).
ROS bao gồm các gốc tự do nhƣ superoxide (•O2−), hydroperoxyl
(HO2•), hydroxyl (OH•), nitricoxide (NO•), và các loại khác nhƣ hydrogen
peroxide (H2O2), acid hypochlorous (HOCl) và peroxyl nitrite (ONOO−).
RNS đƣợc bắt nguồn từ NO• thông qua các phản ứng với •O2− để hình thành
ONOO−. RSS dễ hình thành từ các phản ứng của ROS.
Các gốc tự do đƣợc tạo ra một cách tất yếu trong quá trình trao đổi chất
và tùy vào nồng độ mà chúng có tác động tốt hoặc xấu đến cơ thể. Ở nồng độ
thấp, gốc tự do là các tín hiệu làm nhiệm vụ điều hòa phân ly tế bào
(Apoptosis); kích hoạt các yếu tố phiên mã (NFkB, p38-MAP kinase,…) cho
các gen tham gia quá trình miễn dịch, kháng viêm; điều hòa biểu hiện cho các
gen mã hóa cho các enzyme kháng oxy hóa (Favier, 2003; Pincemail, 2006).
Ngoài ra, gốc tự do còn là nguồn cung cấp năng lƣợng cho cơ thể, tạo ra chất
màu melanin cần cho thị giác, góp phần sản xuất prostaglandins giúp ngăn
ngừa sự nhiễm trùng, tăng cƣờng miễn dịch, dễ dàng cho sự truyền đạt tín hiệu
thần kinh, co bóp cơ thịt (Halliwell, 1991). Tuy nhiên, phần lớn các gốc tự do
đều hoạt động mạnh và gây nhiều tổn hại cho cơ thể. Nhiều nghiên cứu cho
thấy, gốc tự do hủy hoại tế bào bằng cách oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại
(Cadenas, 1989). Bên cạnh đó, nhân tố môi trƣờng cũng góp phần làm tăng
các gốc tự do nhƣ: căng thẳng, mệt mỏi, thuốc trừ sâu, khói thuốc lá, dƣợc
phẩm, những thói quen ăn uống không khoa học, thực phẩm có chất màu tổng
hợp, nƣớc có nhiều chlorine và ngay cả oxy (Halliwell, 1991; Amstrong,
2002).
2.1.2 Tác hại của gốc tự do
Gốc tự do luôn tồn tại trong cơ thể và các electron tự do của chúng luôn
có xu hƣớng kết đôi với electron khác để tạo ra liên kết hóa học hoặc có thể
phản ứng với gốc tự do khác và phân tử trung hòa. Nhƣ vậy, gốc tự do có thể
biến các phân tử ban đầu trung hòa trở thành gốc tự do, tác động đó sẽ tạo ra
phản ứng dây chuyền trong cơ thể gây ảnh hƣởng đến các phospholipid và
lipoprotein màng. Các gốc tự do tấn công phospholipid màng tế bào làm thay
đổi tính mềm dẻo của màng, thay đổi chức năng của nhiều thụ thể trên màng
do đó thay đổi tính thấm của màng cũng nhƣ việc trao đổi thông tin giữa màng
tế bào và môi trƣờng. Sự phá hủy các đại phân tử sinh học bởi các gốc tự do là
nguyên nhân của rất nhiều bệnh nguy hiểm. Sự oxy hóa các LDL (Low density
lipoprotein) có vai trò vận chuyển cholesterol dẫn đến sự hình thành các mảng
lipid trên thành mạch máu, giai đoạn đầu tiên của bệnh cao huyết áp và bệnh
tim mạch. Sự oxy hóa các DNA bởi các gốc tự do gây nên biến dị di truyền là
4
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
một trong những nguy cơ phát triển ung thƣ. Nhiều enzyme và protein vận
chuyển cũng bị oxy hóa và vô hoạt bởi gốc tự do (Favier, 2003; Gardès-Albert
et al., 2003; Pincemail et al., 1998). Các gốc tự do cũng tham gia vào quá trình
gây các bệnh suy giảm hệ thần kinh nhƣ Alzheimer, trong đó hiện tƣợng chết
của các enzyme kháng oxy hóa nhƣ superoxide dismutase (SOD), catalase
(CAT) và glutathion peroxidase (GPx). Tế bào thực vật có chứa enzyme SOD
5
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
có thể chuyển đổi •O2− thành H2O2 và O2. Tiếp theo đó, H2O2 đƣợc enzyme
catalase chuyển đổi thành H2O và O2. Chất kháng oxy hóa có thể phản ứng
trực tiếp với các gốc tự do và phá hủy chúng, sau đó các gốc oxy hóa sẽ trở
thành các gốc tự do mới nhƣng hoạt động ít hơn và ít nguy hiểm hơn so với
các gốc tự do mà nó đã vô hiệu hóa. Chất kháng oxy hóa hiệu quả nhất trong
cơ thể là các enzyme nhƣ GPx, CAT, SOD (Mates et al., 1999).
Hệ thống các chất kháng oxy hóa của cơ thể ngƣời có nguồn gốc từ bên
trong (chất kháng oxy hóa nội sinh) và bên ngoài cơ thể (chất kháng oxy hóa
ngoại sinh). Các chất kháng oxy hóa nội sinh bao gồm các protein (ferritin,
transferrin, albumin) và các enzyme kháng oxy hóa (superoxide dimautase,
glutathion peroxidase, catalase). Các chất kháng oxy hóa ngoại sinh là các
phân tử nhỏ đƣa vào cơ thể bao gồm vitamin E, vitamin C, các carotenoid và
các hợp chất phenolic (Lachman et al., 2000).
Chất kháng oxy hóa nội sinh đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì
các chức năng tối ƣu của tế bào và bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, trong trƣờng
hợp các quá trình oxy hóa sinh ra quá nhiều gốc tự do, chất kháng oxy hóa nội
sinh không thể đáp ứng đủ để giữ cân bằng cho cơ thể thì chế độ ăn uống hay
chất kháng oxy hóa ngoại sinh có thể đƣợc yêu cầu để duy trì các hoạt động
tối ƣu. Hiện nay, hƣớng đi tìm các chất kháng oxy hóa ngoại sinh đang rất
đƣợc quan tâm. Hợp chất kháng oxy hóa trong thực phẩm đóng vai trò quan
trọng nhƣ một yếu tố bảo vệ sức khỏe do đặc điểm chính của chúng là có khả
α–tocopherol là hợp chất có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất. Tính chất
kháng oxy hóa của α–tocopherol thể hiện qua việc ngăn chặn phản ứng của
các gốc tự do bằng cách nhƣờng một hydro của gốc phenol cho gốc lipid
peroxyl (LOO•) để biến gốc tự do này thành lipid hydroperoxide (LOOH).
Trong quá trình phản ứng, α–tocopherol bị chuyển hóa thành α–tocopheroxyl
hoạt động kém và bền do đó chấm dứt những phản ứng dây chuyền theo cơ
chế gốc (Buettner, 1993; Langseth, 1995) (Hình 2.1).
Hình 2.1: Phản ứng khử gốc lipid peroxyl (LOO•) của α–tocopherol
(Nguồn: http://www.westcottresearchandconsulting.com/antioxidants.htm)
7
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
Vitamin E còn có vai trò quan trọng trong việc phòng chống xơ vữa động
mạch thông qua việc ngăn cản quá trình oxy hóa LDL của gốc tự do
(Steinberg, 1992; Witztum, 1994). Theo Morrow và Rorberts (1997), sự hình
thành isoprostanes, sản phẩm tạo ra trong quá trình oxy hóa lipid, là nguyên
nhân làm bệnh xơ vữa động mạch tăng đáng kể ở động vật thiếu vitamin E.
Hơn nữa, việc loại bỏ gốc tự do oxy hóa lipid ngăn cản sự hình thành
isoprostanes bằng cách bổ sung vitamin E đã đƣợc chứng minh trong các mô
hình động vật (Liu et al., 1999) và cả cơ thể ngƣời (Upritchard et al., 2003).
Vitamin C: Vitamin C hay còn gọi là ascorbic acid đƣợc tìm thấy nhiều
trong thực phẩm tƣơi, rau củ và trái cây. Vitamin C đóng vai trò hết sức quan
trọng trong nhiều hoạt động của cơ thể nhƣ: giúp cho cấu trúc collagen ổn
định, cần thiết cho sự lành vết thƣơng, tăng cƣờng sức đề kháng. Vitamin C là
Những tác dụng trong việc kháng oxy hóa và làm giảm gốc lipid peroxyl sau khi
bổ sung carotenoid đã đƣợc chứng minh (Upritchard et al., 2003). Các carotenoid
thƣờng đƣợc biết đến là β–carotene, α–caroten, β–cryptoxanthin, lycopene và
zeaxanthin, nhƣng đƣợc nghiên cứu nhiều nhất là β–carotene, một chất kháng
oxy hóa mạnh có thể làm giảm nhanh các các phân tử O2 ở mức năng lƣợng cao
(singlet oxygen) (Di Mascio et al., 1991).
Melatonin (C13H16N2O2): Melatonin là một hormone có ở động vật có
vú đƣợc tổng hợp từ serotonin. Theo Aydogan et al (2006), melatonin góp
phần làm giảm thiệt hại do quá trình oxy hóa lipid. Khả năng kháng oxy hóa
mạnh mẽ của melatonin đƣợc tác động bằng cách kích thích sự biểu hiện và
hoạt động của các enzyme kháng oxy hóa nhƣ glutathione peroxidase,
superoxide dismutase, NO synthetase (Nishida, 2005). Nồng độ melatonin đặc
biệt cao trong ty thể và nhân tế bào (Aydogan et al., 2006).
2.3 Đại cƣơng về một số bệnh liên quan đến lão hóa và gốc tự do
2.3.1 Các bệnh lý ở não
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng lão hóa và đặc biệt là lão hóa não có
liên quan với hoạt động của các gốc tự do. Sự tích lũy gốc tự do trong thành
phần các tế bào thần kinh là nguyên nhân cơ bản của sự lão hóa và thoái hóa
thần kinh não (Kolosova et al., 2006). Gốc tự do làm tổn hại thành mạch máu
và tế bào não, gây nên nhiều bệnh lý về mạch máu não nhƣ chứng đau nửa
đầu, thiếu máu não và tai biến mạch máu não, gây suy giảm trí nhớ, sa sút trí
tuệ, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson... Trong đó, hội chứng sa sút trí tuệ
(SSTT) là một trong những bệnh mãn tính do lão hóa thƣờng gặp nhất ở ngƣời
cao tuổi. Sa sút trí tuệ là tình trạng suy giảm trí nhớ kèm theo một hoặc nhiều
các chức năng nhận thức khác bị rối loạn nhƣ mất ngôn ngữ (Aphasia), mất sử
dụng động tác (Apraxia), mất nhận thức (Agnosia), hay rối loạn chức năng
thực hiện (Executive funtion) xảy ra ở những ngƣời trƣớc đây tình trạng nhận
thức và các chức năng thần kinh cao cấp khác hoàn toàn bình thƣờng. Sự suy
giảm các chức năng nhận thức này đủ để gây ảnh hƣởng đến cuộc sống hằng
ngày của bệnh nhân.
chứng gần đây đã chỉ ra rằng quá trình oxy hóa là một nguyên nhân tiềm tàng
của bệnh Alzheimer (Nunomura et al., 2006). Hơn nữa, triệu chứng sa sút trí
tuệ do Alzheimer đã cho thấy sự cân bằng bị thay đổi giữa các gốc oxy hóa và
chất kháng oxy hóa nội sinh (Sinclair et al., 1998). Hiện nay, chƣa có bất kì
phƣơng pháp hoặc loại thuốc nào có thể chữa trị tận gốc bệnh Alzhaimer mà
chỉ có thể sử dụng một số loại thuốc để làm giảm các triệu chứng của bệnh.
2.3.2 Bệnh ung thƣ
Những bệnh lý thƣờng gặp ở ngƣời cao tuổi bao gồm các bệnh liên quan
tới tim và mạch máu, suy giảm chức năng hệ miễn dịch, rối loạn chức năng
não và ung thƣ. Ung thƣ là một nhóm bệnh liên quan đến sự tăng trƣởng bất
thƣờng của các tế bào gây ra bởi nhiều thay đổi trong biểu hiện gen dẫn đến
rối loạn cơ chế điều hòa cân bằng sự tăng sinh tế bào làm những tế bào đó phát
triển thành một cụm tế bào có thể xâm lấn các mô lân cận hoặc di căn đến nơi
xa. Theo kết quả nghiên cứu có khoảng 200 loại ung thƣ (Jemal et al., 2005).
10
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
Bên cạnh các yếu tố nhƣ giới tính, chủng tộc, tôn giáo và nghề nghiệp thì
tuổi tác là yếu tố quan trọng nhất để xác định nguy cơ mắc bệnh ung thƣ.
Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ung thƣ tăng theo tuổi tác, những
ngƣời ở độ tuổi từ 65 trở lên có nguy cơ mắc bệnh ung thƣ cao gấp 10 lần so
với những ngƣời dƣới 65 tuổi. Một phần của sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung
thƣ cùng với sự lão hóa có thể là do việc tích lũy các sai hỏng của DNA qua
quá trình tiếp xúc với các tác nhân gây ung thƣ theo thời gian. Mặt khác, có
thể do chức năng của hệ thống kháng oxy hóa nội sinh bị suy giảm dần theo
tuổi tác và không đủ khả năng giữ cân bằng cho cơ thể khi các quá trình oxy
Luận văn tốt nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ
nguyên nhân do xơ vữa động mạch chiếm tới 50%. Tại Mỹ, ở ngƣời trên 60 tuổi
có 88% là mắc bệnh xơ vữa động mạch, ở ngƣời già hơn thì không ngƣời nào
không bị xơ vữa động mạch.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng gốc tự do tấn công làm tổn thƣơng nội
mạc mạch máu khiến thành mạch không còn trơn tru, tạo điều kiện thuận lợi
xuất hiện các mảng xơ vữa khiến lòng mạch máu bị thu hẹp, dòng máu lƣu
thông khó khăn, gây ra hiện tƣợng thiếu máu não. Đồng thời, khi mảng xơ vữa
bong ra khỏi thành mạch sẽ gắn kết với các tế bào máu và các yếu tố khác hình
thành các cục máu đông có thể kẹt lại tại nhiều vị trí trong mạch máu não, gây
tắc mạch và nhũn não, thậm chí trầm trọng hơn là vỡ mạch gây ra tình trạng tai
biến mạch máu não (đột quỵ). Mặt khác, sau trạng thái thiếu máu cục bộ cấp
tính, khi máu đƣợc tƣới lại, một lƣợng lớn oxy đƣợc đƣa tới làm khơi mào
chuỗi phản ứng gốc tự do và từ đó sinh ra rất nhiều gốc tự do, chúng lại tiếp tục
gây tổn hại đến mạch máu cũng nhƣ đến những mô não còn lại. Ngoài ra, gốc tự
do còn tham gia vào quá trình oxy hóa lipoprotein, kết quả từ sự mất cân bằng
giữa quá trình oxy hóa và quá trình khử trong cơ thể, có liên quan trong quá
trình hình thành các mảng xơ vữa. Các lipoprotein tỷ trọng thấp LDL bị oxy hóa
(Ox–LDL) bị những đại thực bào (macrophages) bắt giữ tạo nên các tế bào bọt
(foam cell), các tế bào này tích tụ lại thành mảng chất béo bám vào thành động
mạch đẩy lớp nội mạc vào lòng mạch làm thu hẹp dòng chảy của máu. Ox–LDL
cũng có thể gây ra sự trƣởng thành của tế bào đuôi gai, điều chỉnh hoạt động
của các đại thực bào và tế bào T, các thành phần này đều có tham gia vào việc
phát triển mảng xơ vữa. Hiểu biết về mối quan hệ giữa Ox–LDL và đại thực
bào giúp giải thích cho sự phát triển trong giai đoạn đầu của xơ vữa động mạch
từ đó đƣa ra biện pháp phòng bệnh hợp lí.
Hoa Ô Rô thƣờng nở từ tháng 10 đến tháng11. Gié hoa ở chót nhánh,
màu tím, xanh nhạt hay màu trắng. Hoa mọc đối xứng hai bên, với 4 thùy của
đài hoa và 4 tiểu nhụy dài khoảng 3,5–4 cm. Hoa dài khoảng 4 cm, hợp thành
4 hàng, lá hoa hình xoan, tiền diệp dài khoảng 6-8 mm, lá đài giống tiền diệp,
mỗi hoa đối diện nhau, màu xanh lục, lá bắc hẹp dính thành mảng dài khoảng
7–8 mm và 2 lá bắc tƣơng tự nhƣng nhỏ hơn đƣợc mang ở đầu nhánh (Võ Văn
Chi, 1997; Phạm Hoàng Hộ, 2003). Đài hoa màu xanh dài khoảng 10–12 mm.
Cánh hoa 5 màu xanh đều nhau, 2 môi, môi dƣới màu xanh nhạt, lan rộng ra
hay cong, kích thƣớc khoảng 3 cm, tràng hoa hợp thành ống ngắn có lông bên
trong, 4 tiểu nhụy ngắn so với vành hoa, bao phấn 1 thùy, chỉ mập. Bầu noãn 2
buồng, 2 noãn mỗi buồng, vòi nhụy ngắn, nứt đôi.
Trái Ô Rô có dạng viên nang dài khoảng 2–3 cm, mịn, màu xanh lá cây,
hình trứng hay hình chữ nhật bên trong chứa 2–4 hạt dài khoảng 6–10 mm,
dẹp, vỏ hạt màu trắng.
2.4.3 Đặc điểm phân bố và sinh thái của cây Ô Rô
Cây Ô Rô (Acanthus ilicifolous L.) thuộc một chi nhỏ có khoảng 25
loài, phân bố chủ yếu ở vùng Địa Trung Hải, châu Phi và vùng nhiệt đới của
châu Á, rải rác từ đảo Hải Nam – Trung Quốc đến Malaysia, Thái Lan, Ấn
Độ và Mianma. Ở Việt Nam, Ô Rô phân bố ở các tỉnh dọc theo bờ biển và ở
vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Cây ƣa sáng, thƣờng mọc thành bụi hay
đám lớn bên bờ các kênh rạch và trên đất lầy thụt ở cửa sông. Cây có thể
sinh trƣởng phát triển tốt ở vùng nƣớc lợ cũng nhƣ nƣớc ngọt. Do đó, ở các
13