MỞ ĐẦU.
Trong tâm lý học hiện đại, việc nghiên cứu con người với tư cách là một thành
viên của xã hội, một chủ thể của các mối quan hệ giao tiếp, các nhà tâm lý học
thường đề cập đến khái niệm nhân cách. Sau đây tôi xin làm rõ một phần về nhân
cách đó là khái niệm nhân cách và những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và
phát triển nhân cách từ đó nêu ra những liên hệ thực tiễn để hoàn thiện hơn nhân
cách của mỗi người.
NỘI DUNG.
1.
Khái niệm nhân cách.
Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của xã hội nhất định, là chủ
thể của các mối quan hệ giao tiếp thì chúng ta nói đến nhân cách của họ. Vậy, nhân
cách của con người là gì?
Nhân cách của một người là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân được
biểu hiện ở bản sắc và mang theo những giá trị xã hội của người ấy.
Như vậy, nhân cách là những thuộc tính tâm lý bởi nó là hiện tượng tâm lý tương
đối ổn định, có tính quy luật chứ không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên.
Những thuộc tính tâm lý hợp thành nhân cách có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động lẫn nhau làm thành một hệ thống, một cấu trúc nhất định. Trong hệ thống
những thuộc tính đó có cái chung từ xã hội, từ giai cấp, tập thể gia đình vào con
người nhưng cái chung này đã trở thành cái riêng, cái khác biệt của từng người cả
về nội dung và hình thức mà không giống với tổ hợp khác của bất cứ một người
nào khác. Những thuộc tính tâm lý hợp thành nhân cách được thể hiện ra ở những
vịc làm, những cách ứng xử, hành vi, hành động, hoạt động phổ biến của người ấy
và được xã hội đánh giá nên nó mang giá trị xã hội.
Nhân cách có cấu trúc bao gồm bốn thuộc tính: xu hướng, năng lực, tính cách, khí
chất.
với những đứa trẻ không có năng khiếu bẩm sinh đó.
Tuy nhiên, nếu không có sự tác động của những yếu tố khác như giáo dục, môi
trường và hoạt động tích cực của cá nhân thì nhân tố bẩm sinh đó cũng sẽ không
thể phát triển. Ví dụ tai âm nhạc của Môza, mắt hội họa của Raphaen sẽ không tự
phát triển những khả năng tiềm tàng của nó một khi thiếu môi trường, nhu cầu và
sự rèn luyện.
Tóm lại, bẩm sinh di truyền đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát
triển tâm lý nhân cách. Chính nó tham gia vào sự tạo thành cơ sở vật chất của các
hiện tượng tâm lý- những đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cơ thể, trong đó có hệ
thần kinh. Từ đó có thể khẳng định vai trò tiền đề vật chất của yếu tố di truyền đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách.
a.2. Liên hệ thực tế.
Chính vì vậy, các nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức đến sức sống vốn có trong
bản chất tự nhiên của con người; cần sớm xác định tính chất và phương hướng của
những sức sống đó dưới dạng những tư chất để chăm sóc, khai thác, phát huy kịp
thời nhằm phát triển tài năng của trẻ.
Chúng ta không nên tuyệt đối hoá hoặc đánh giá quá cao nhân tố sinh học trong sự
phát triển nhân cách để có thái độ đúng đắn trước những thuyết định mệnh do di
truyền, thuyết sinh học hoá giáo dục hoặc những chính sách giáo dục không đúng
như bắt nguồn từ thuyết chủng tộc trong giáo dục, thuyết hai hệ thống nhà trường
cho trẻ bình dân và trẻ ưu tú…, đồng thời cũng tránh việc quá xem nhẹ ảnh hưởng
của nhân tố sinh học trong công tác giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách
của trẻ.
b. Môi trường sống.
b.1. Khái niệm, vai trò của môi trường sống đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách.
ý đến hai mặt trong tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường: thứ nhât, tính
chất tác động của hoàn cảnh đã phản ánh vào nhân cách; Thứ hai, sự tham gia của
nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm làm cho hoàn cảnh đó phục vụ cho lợi ích
của mình.
b.2. Liên hệ thực tiễn.
Trong quá trình giáo dục nhân cách cho con người, cần gắn chặt từng bước việc
giáo dục, học tập với thực tiễn cải tạo xã hội. Còn trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách, cần đánh giá đúng mức vai trò của môi trường. Cho đến nay
vẫn còn tồn tại “Thuyết định mệnh do hoàn cảnh”, thuyết này tuyệt đối hoá vai trò
của hoàn cảnh, hạ thấp vai trò của giáo dục, biện hộ cho việc duy trì đặc quyền
giáo dục đối với các tầng lớp xã hội có hoàn cảnh thuận lợi. Ngược lại, thuyết
“Giáo dục vạn năng” lai phủ nhận tính quy định của môi trường xã hội đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách, thậm chí có ảo tưởng dùng những biện pháp có
tính chất cải lương chỉ thông qua hoạt động giáo dục thay thế cho những cải biến
cách mạng về kinh tế, chính trị, xã hội…
c. Giáo dục.
c.1. Khái niệm, vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.
Giáo dục là sự tác động có mục đích, kế hoạch, biện pháp và hệ thống lên đời sống
tinh thần của con người để hình thành ở họ những phẩm chất mà nhà giáo dục
mong muốn.
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, vai trò chủ đạo của giáo dục được thể
hiện:
- Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách và dẫn
dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo chiều hướng đó.
- Giáo dục có thể mang lại những cái mà yếu tố bẩm sinh- di truyền hay môi
trường tự nhiên không thể đem lại được. Ví dụ, một đứa trẻ sinh ra không bị
khuyết tật gì thì theo sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể, đến một giai đoạn
nhất định đứa trẻ sẽ biết nói nhưng muốn biết đọc sách báo thì nhất thiết đứa trẻ
cầu của sự phát triển xã hội. Sản phẩm văn hóa của loài người có thể biến thành tài
sản tinh thần của nhân cách nhờ hoạt động dạy học. Chính bởi giáo dục có vai trò
chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách, cho nên trong quá trình dạy
học và giáo dục chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:
- Dạy học, giáo dục sẽ tạo nên sự phát triển nhân cách khi trong quá trình đó những
sức mạnh của bản thân trẻ được thúc đẩy, khi nhu cầu, động cơ, hứng thú của trẻ
được chú ý, khi dạy học và giáo dục phù hợp với những quy luật bên trong của sự
phát triển cá nhân. Ví dụ với một đứa trẻ có năng khiếu về hội họa nên quan tâm
giáo dục về hội họa cho đứa trẻ đó.
- Những yêu cầu của nhà trường, của nhà giáo dục, của môi trường giáo dục xung
quanh đề ra cho trẻ phải không ngừng tăng dần mức độ phức tạp và khó khăn. Có
như vậy sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ.
- Giáo dục và dạy học một mặt phải dựa trên sự phát triển đã đạt được của học
sinh, nhưng mặt khác phải đi trước sự phát triển , kéo sự phát triển tiến lên.
- Giáo dục và dạy học phải luôn chú ý đến việc kích thích được hoạt động của học
sinh , mặt khác, trong quá trình giáo dục và dạy học phải tổ chức đúng đắn, hợp lý
các hoạt động học tập , lao động sản xuất , hoạt động xã hội – chính trị, thể thao,
vui chơi, giải trí … Chính thông qua hoạt động và giao tiếp ấy mà trẻ ngày càng
phát triển về tâm lý, ngày càng nhận thức thế giới mốt cách sâu sắc hơn.
- Một điều đặc biệt quan trọng là cần phải đánh giá đúng vai trò của giáo dục trong
mối quan hệ với các yếu tố khác, tránh quá đề cao hoặc là có nhận thức không
đúng đắn về vai trò của giáo dục trong sự phát triển nhân cách con người.
d. Hoạt động.
d.1. Khái niệm, vai trò của hoạt động đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách.
Hoạt động là sự tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan, hướng tới
nhằm biến đổi nó và thỏa mãn nhu cầu của con người.
Con đường tác động có mục đích, tự giác của xã hội bằng giáo dục đến con người
chuẩn mực xã hội, trở thành lương tâm của con người.
d.2. Liên hệ thực tiễn.
Mỗi người cần “tự thân vận động”, tích cực trau dồi kiến thức, tăng cường tiếp
nhận thông tin từ xã hội, môi trường để làm phong phú thêm hiểu biết của mình và
tích cực tác động trở lại nhằm làm biến đổi xã hội theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Có như vậy, nhân cách mỗi người mới có thể được hình thành và phát triển.
e.
Giao tiếp.
e.1. Khái niệm, vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách.
Khác với hoạt động, đối tượng của giao tiếp là những chỉnh thể tâm lý sống động,
những nhân cách hoàn chỉnh. Ở đây diễn ra mối quan hệ giữa chủ thể và chủ thể.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người. Nhu cầu giao tiếp là
một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người. Nhờ giao
tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội,
chuẩn mực xã hội, đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp năng lực của
mình vào kho tàng chung của nhân loại. Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận
thức người khác, nhận thức các quan hệ xã hội, mà còn nhận thức được chính bản
thân mình, tự đối chiếu so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự
đánh giá bản thân mình như là một nhân cách.
Như vậy giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ người- người, là một
nhân tố cơ bản cho sự hình thành và phát triển nhân cách.
Vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách đã được ông cha
ta đúc rút trong câu thành ngữ: “ Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”,
hay câu ngạn ngữ phương Tây: “Hãy nói cho tôi biết bạn của anh là ai, tôi sẽ nói
cho anh biết anh là người như thế nào”.
MỤC LỤC