Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay - Pdf 34

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, vấn đề hội nhập là một xu thế tất yếu mà quốc gia nào cũng hướng
tới, Việt Nam chúng ta không nằm trong ngoại lệ của vấn đề này. Hội nhập kinh tế
là đồng nghĩa với việc các quốc gia dỡ bỏ những hàng rào thuế quan, giúp lưu
thông hàng hóa trở nên thuận lợi hơn. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống
pháp luật của các quốc gia, đặc biệt ảnh hưởng tới là thuế nhập khẩu. Tại Việt
Nam. Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 14/4/2005 và
có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu và luật hải quan của
Việt Nam về cơ bản đã được xây dựng phù hợp với những quy tắc và định chế của
pháp luật kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối
ngoại và yêu cầu thu ngân sách cho nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp
luật thuế nhập khẩu nói riêng, luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói chung trong thời
gian qua còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục. Bài tập này em chủ yếu đi sâu
vào vấn đề: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế
nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.”.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1, Khái quát chung về pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam
1.1/ Người nộp thuế
Theo quy định tại điều 4 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005, người
nộp thuế là tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế xuất
khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Nhưng trên thực tế thì
người nộp thuế là người trực tiếp đứng tên làm thủ tục nhập khẩu, hàng hóa cho
chính mình, người nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa cho chủ thể khác theo hợp
đồng ủy thác nhập khẩu hoặc là người được ủy quyền.
1.2/ Người thu thuế
Trên phương diện lý thuyết thì người có thẩm quyền thu thuế là nhà nước
nhưng trên thực tế, thẩm quyền này thường được thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà
nước khác nhau do nhà nước thành lập ra để thực hiện vai trò là cơ quan thu thuế.
1





Xét trên bình diện lý thuyết, mặc dù chính sách thuế nhập khẩu và pháp luật
thuế nhập khẩu luôn phản ánh ý chí chủ quan của Đảng cầm quyền và Nhà nước
cai trị nhưng trong điều kiện Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển kinh tế thị
trường theo hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế theo xu hướng toàn cầu
hóa, khu vực hóa của thế giới thì pháp luật thuế nhập khẩu luôn bị chi phối và ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là bị chi phối của các quan hệ kinh tế.
Trong đó đáng kể nhất là các yếu tố sau:
2.1/ Những yêu cầu và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Về mặt hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế biểu hiện ở việc các quốc gia
tham gia ngày càng sâu rộng vào các liên minh kinh tế quốc tế thông qua các điều
ước quốc tế song phương hoặc đa phương. Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đồng
nghĩa với việc phải đáp ứng và thực thi các điều ước quốc tế mà quốc gia là một
bên kí kết hoặc tham gia. Những thỏa thuận và cam kết trong khuôn khổ các hiệp
định này hình thành nên những khung pháp lý định hướng cho quá trình hoạch
định này hình thành nên những khung pháp lý định hướng cho quá trình hoạch định
chính sách và xây dựng hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia thành viên.
Luật thuế nhập khẩu là một bộ phận của hệ thống pháp luật quốc gia, nó
phản ánh rõ nhất mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia đó và vì vậy nó chịu
sự tác động và chi phối mạnh mẽ của các Điều ước quốc tế. Trên thực tế, để đáp
ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi nước được xây dựng và
hoàn thiện theo hai hướng cơ bản:
Một là, chuyển hóa các cam kết quốc tế thành các quy định pháp luật trong
nước bằng cách đưa vào luật những quy định mới hoặc sửa đổi, điều chỉnh những
quy định đã có cho tương thích với các quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia
đó đã hoặc sẽ tham gia.

3

4


tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Đảng ta chỉ rõ: coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, công tác ngoại giao
phục vụ phát triển kinh tế, góp phần tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài, mở rộng thị
trường, gia tăng đối tác, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
cần chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến
lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2020. Mở rộng và củng cố quan hệ kinh tế
đối ngoại, tạo lập lợi ích đan xen, nhất là với các đối tác chủ yếu. Xây dựng các
mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư lâu dài. Khai thác có hiệu quả
các cơ hội và giảm tối đa những thách thức rủi ro khi nước ta là thành viên WTO.
Đại hội X (2006) nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế…”, “Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sau hơn và đầy đủ hơn
với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích của
đất nước làm mục tiêu cao nhất”. Bài học về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, thống nhất và bản sắc dân tộc. Trước hết là độc
lập tự chủ về đường lối, chính sách, có quyết sách để chủ động hội nhập, hội nhập
có định hướng theo lộ trình hợp lí, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Độc lập tự
chủ về kinh tế còn có nghĩa là một nền kinh tế có thực lực đủ mạnh, có thể ứng phó
nhanh, kịp thời với những biến động khó lường của kinh tế thế giới và khu vực, là
một nền kinh tế “mở” kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp để
phát triển đất nước, có sức cạnh trạnh cao, không để bị lệ thuộc và bị chi phối từ
bên ngoài, bảo đảm an ninh kinh tế.
Trong chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 được Bộ Tài Chính
thông qua cũng chỉ rõ đường lối, quan điểm cụ thể sau: “Phải xây dựng hệ thống
chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lí phù hợp với nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, gắn với hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm bảo đảm nguồn
lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…Chính

thu hoặc lạm thu hoặc pháp luật thuế đó không được thực thi đầy đủ trong thực tế.
Bởi vậy khi ban hành pháp luật về chính sách thuế, quản lý thuế phải tính đến yếu
6


tố này nhằm bảo đảm sự phù hợp và tính khả thi của nó trong thực tiễn. Trong
những năm qua nhà nước đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm
nâng cao trình độ chuyên môn nhiệm vụ, ngoại ngữ, tin học, phẩm chất đạo đức,
tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lý thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vất chất
kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý thuế, sắp đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế
cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính… Nói chung nhà nước thực hiện
các giải pháp nâng cao trình độ năng lực quản lý của cả bộ máy quản lý thuế để tiến
đến việc ban hành các quy định mới trong pháp luật thuế như quản lý thuế thực
hiện quản lý thuế hiện đạ theo chuẩn mực chung của quốc tế. Nếu Việt Nam không
chú trọng đến công tác nâng cao năng lực trình độ quản lý thuế của bộ máy hành
thu thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lý thuế nhập khẩu hiện nay. Chẳng hạn,
quản lý giá thuế đối với hành nhập khẩu hiện nay.
3/ Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời
gian qua.
3.1/ Thuận lợi
Được sửa đổi bổ sung nhiều lần xuất phát từ thực tiễn nhập khẩu hàng hóa
cũng như những cam kết trong phạm vi toàn cầu, pháp luật thuế nhập khẩu đã có
những đóng góp quan trọng trong trao đổi hàng hóa giữa VN với các quốc gia khác.
Nhìn chung, luật thuế nhập khẩu đã phù hợp với các nguyên tắc và nền tảng pháp lí
chung của các chế định kinh tế quốc tế, góp phần hình thành nền tảng pháp lí quan
trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại của VN. Luật thuế nhập khẩu đã tạo
nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước, tác động tích cực trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các
ngành sản xuất trong nước.
Luật thuế nhập khẩu đã phát huy vai trò của mình trong việc bảo hộ một cách

Trong thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi
trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài và cũng chịu những bất lợi lớn
khi các doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá trên thị trường Việt Nam. Để đối phó
với tình trạng này, pháp luật về thuế nhập khẩu đã có những qui định về thuế để tự
vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử. Mặc dù chúng ta đã
có 2 pháp lệnh về chống trợ cấp và pháp lệnh về chống bán phá giá nhưng những
qui định này vẫn chưa phát huy tác dụng trên thực tế hầu như không được áp dụng.
8


Lí do những văn bản chưa quy định cụ thể, một số qui định còn chưa phù hợp và
Việt Nam vẫn chưa được các thành viên WTO công nhận là một nước có nền kinh
tế thị trường. Do vậy quá trình áp dụng những qui định này cũng khá khó khăn.
Pháp luật hiện hành qui định về bộ hồ sơ hải quan nhiều hơn so với công ước
Kyoto 4 loại đó là: Chứng thư giám định, bản kê khai chi tiết hàng hóa, hợp đồng
mua bán hàng hóa, tờ khai tri giá hải quan. Qui định mới về việc không truy thu đối
với hàng hóa thuộc diên truy thu nếu chuyển nhượng lại cho chủ thể được miễn
hoặc xét miễn thuế nhập khẩu để tránh những hiện tượng tiêu cực trong thực tiễn.
(Điểm a khoản 1 điều 21 nghị định 149/2005/NĐ-CP). Qui định này dẫn đến hiện
tượng các đối tượng thuộc diện chịu thuế câu kết với tổ chức cá nhân thuộc diện
miễn thuế hoặc xét miễn thuế hoặc cán bộ hải quan làm hồ sơ giả để không bị truy
thu thuế. Với sự ra đời của luật quản lí thuế 2006 đã ghi nhận một cách cụ thể trình
tự thu tục về kê khai thuế nhập khẩu, nộp thuế nhập khẩu, truy thu thuế nhập khẩu,
hoàn thuế…Vì vậy những qui định trong luật thuế nhập khẩu về những thủ tục này
trở nên không cần thiết nữa thậm chí còn gây ra sự chồng chéo, không đồng nhất.
Trên đây là một vài ví dụ về những qui định không thống nhất của pháp luật
mà trên thực tế đã gây ra những cản trở nhất định trong việc áp dụng pháp luật thuế
nhập khẩu.
4, Những yếu tố tác động đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên
thực tế tại VN:

Đối với Việt Nam, những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất
nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế
theo quy định của AFTA) và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ,
nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa
Kỳ. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp
luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện
thực cho các chính sách đó trong thực tiễn.
4.3/ Chính sách kinh tế của nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế với pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam.
10


Hiện nay, có hai xu hướng: Một là, bảo hộ mậu dịch, nâng cao khả năng
cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Xu hướng thứ hai là, tự do hóa
thương mại. Cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của xu
hướng tự do hóa thương mại. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về hội
nhập kinh tế quốc tế, tích cực hội nhập để hoàn thiện nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đồng
thời đảm bảo tối đa hóa lợi ích từ các công cụ thuế, tối thiểu hóa các chi phí trong
quá trình hội nhập, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Những cam kết về thuế
quan mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc sẽ tham gia ký kết là nội dung quan trọng
thể hiện mức độ hội nhập của quốc gia. Các cam kết này là cơ sở để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế tài chính trong nước với nước ngoài và giữ vai trò chi phối đối với
nội dung các quy định của pháp luật. Cần phải hoạch định, thống nhất và xây dựng
phù hợp với các cam kết quốc tế, xây dựng lộ trình cắt giảm phù hợp và phản ánh
đầy đủ, chính xác chính sách bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện và với thời hạn nhất
định. Đảm bảo việc sử dụng thuế như một công cụ quan trọng nhằm khuyến khích
chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả, thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp và nền kinh tế đồng thời đảm bảo nguồn thu ngân sách. Phải hình thành quá

nộp thuế.
a.Giá tính thuế nhập khẩu
Khai báo không trung thực giá tính thuế nhập khẩu: các chủ thể nộp thuế
thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp hơn. Ví dụ công ty
Đông Nam, giám đốc Nguyễn Gia Thiều đã móc nối với công ty Đông Nam Hồng
Kong mua hơn 40000 chiếc điện thoại di dộng khai giá thấp hơn so với giá thực tế
thanh toán từ 75 đến 375 USD trốn thuế nhập khẩu trên 100 tỉ. Khai thấp về chất
lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai chất lượng hàng thấp hơn so với
thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu.Khai báo hàng không thanh toán, hàng hỗ trợ tiếp
thị quảng cáo. Đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp cao hơn.
b. Thuế xuất,thuế nhập khẩu
12


Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng
hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam cam kết
giảm thuế.
Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế
suất thấp hơn.
c. Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu
Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến
công tác kiểm tra của hải quan. Do năng lực cán bộ hải quan còn yếu kém nên
không kiểm soát được hết hàng buôn lậu
5/ Một số giải pháp cho thuế nhập khẩu tại Việt nam
Như đã đề cập tới ở trên, biểu suất thuế của Việt Nam phản ánh khuynh
hướng thực hiện chức năng bảo hộ và thu ngân sách chính cho nhà nước, mức thuế
suất thay đổi liên tục dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng thuế. Vì vậy chúng ta
cần phải đưa ra một mức thuế suất ổn định, lâu dài phù hợp với tình hình quốc tế,
không chênh lệch quá cao so với các nước trong khu vực cũng như toàn cầu.
Xác định giá trị hải quan trong nhập khẩu hàng hóa là một vấn đề cũng cần

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status