Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính - Pdf 34

Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

I. Đặt vấn đề
Đối tượng nộp thuế được xác định là các tổ chức hoặc cá nhân trực
tiếp có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật thuế. Đối tượng nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Tổ chức đó có thể là doanh
nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật hoặc là tổ chức khác có
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trước năm 2008, quy định đối tượng nộp thuế này cũng được cụ thể
hoá trong các văn bản như: Luật thuế lợi tức năm 1990, Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp năm 1997, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm
2003. Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện luật thuế thu nhập doanh
nghiệp năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là năm 2007 Luật thuế
thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua, theo đó các đối tượng là cá
nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chuyển sang
thực hiện theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Chính vì vậy Luật thuế thu
nhập 2008 ra đời đã khắc phục những hạn chế nói chung của luật cũ, đồng
thời cũng quy định cụ thể hơn về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp
Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tượng nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp 2008 và được hướng dẫn tại các văn bản chủ yếu sau: Nghị định số
124/2008/NĐ – CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều ccủa Luật

thuế thu nhập doanh nghiệp; Thông tư

130/2008/TT – BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật thuế thu nhập doan nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành
Nghị định số 124/2008/NĐ – CP ngày 11/12/2008. Thực tế hoạt động lập

nước; các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; các bên trong hợp đồng
phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, công ty điều
hành chung.
Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập
chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam.


Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

Thứ hai, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật
nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có
cơ sở thường trú tại Việt Nam
Việc quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có sự phân
biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú hay không thường
trú tại Việt Nam.
Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú có nghĩa vụ nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu nhập liên quan đến hoạt
động của cơ sở thường trú đó mà không phân biệt thu nhập chịu thuế đó
phát sinh tại Việt Nam hay ngoài Việt Nam. Trường hợp các khoản thu
nhập chịu thuế không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú thì
doanh nghiệp chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại
Việt Nam. (ví dụ doanh nghiệp được tặng cho tài sản có giá trị thì khoản
thu nhập này cũng phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp)
Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam
nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.
Trên thế giới, căn cứ để xác định thế nào là thường trú và không
thường trú ở các quốc gia là không giống nhau. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam cụ thể tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì các tổ chức
kinh doanh được coi là đối tượng thường trú theo các tiêu chuẩn là thành

nghiệp2003 quy định đối tượng nộp thuế trong đó có cả cá nhân sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập trong đó, bao gồm cả cá nhân và
nhóm cá nhân kinh doanh; hộ kinh doanh cá thể; cá nhân hành nghề độc
lập như: bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, họa sĩ, kiến trúc sư…; cá nhân
cho thuê tài sản như: nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị và
các loại tài sản khác. Đặc biệt, các đối tượng như hộ gia đình, cá nhân nông
dân trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có thu nhập cao đều là đối
tượng nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003. Tuy nhiên,
đến nay thì tất cả các đối tượng kể trên không thuộc đối tượng nộp thuế
theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 mà thuộc đối tượng của Luật
thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp chỉ bao gồm các tổ chức đã được liệt kê ở trên.


Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

Bên cạnh đó, pháp luậtcòn quy định các đối tượng không phải nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp, đó là các tổ chức có các nguồn thu nhập được
quy định tại Điều 4, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008:
- Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã có thu nhập từ trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức có thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp
phục vụ nông nghiệp.
- Tổ chức có nguồn thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất
thử nghiệm, sản phẩm được làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại
Việt Nam.
- Tổ chức có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ của doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người
sau cai nghiện, người nhiễm HIV. Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện

với luật năm 2003 cho việc xác định đối tượng phải nộp thuế.
Tuy nhiên, triên thực tế việc thực thi Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp 2008 cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác định đối
tượng nộp thuế. Nguyên nhân là do những hạn chế sau :
Thứ nhất, cách quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được diễn đạt theo
hình thức liệt kê. Cách quy định như vậy có ưu điểm là rõ ràng, dễ áp
dụng, nhưng cũng tồn tại một hạn chế có thể làm ảnh hưởng tới tính ổn
định của đạo luật này. Nguyên nhân là bởi, sự vận động của các hình thức
kinh doanh, sản xuất trên thực tế là không ngừng và có thể dẫn tới những
hình thức tổ chức kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định. Điều đó
dẫn đến hai hậu quả: ngân sách nhà nước bị thất thu, đồng thời lại phải có
sự sửa đổi, bổ sung luật cho phù hợp với thực tiễn. Và việc thường xuyên
thay đổi quy định pháp luật như vậy tạo một tâm lý không an toàn cho các
chủ thể sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, điểm a khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy
định:


Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

“Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật
này, bao gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật
Việt Nam”.
Tuy nhiên, các quy định về thành lập doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật Việt Nam khá thông thoáng về thủ tục dẫn tới việc các doanh
nghiệp “ma” được dựng lên ngày càng nhiều. Điều này xuất phát từ việc
theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau khi khai sinh
còn bị buông lỏng. Từ khâu hậu kiểm, quản lý doanh nghiệp sau giấy phép

đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, là doanh nghiệp tư nhân và
công ty hợp danh.Tuy nhiên việc xác định đối tượng nộp thuế trên thực tế
của 2 loại hình doanh nghiệp này còn gặp vướng mắc sau:
*Đối với Doanh nghiệp tư nhân
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Doanh nghiệp tư nhân là
một loại hình doanh nghiệp. Bởi vậy, khi nhìn thoáng qua thì có vẻ những
doanh nghiệp hoạt động theo hình thức này cũng phải nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, về bản chất pháp lý
thì doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp
nhân, chỉ đơn thuần là doanh nghiệp do cá nhân tự bỏ vốn ra sản xuất,
kinh doanh. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân cũng chính là tài sản của
chủ doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, xác định đối tượng nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, có những vấn đề được đặt ra:
Một là, doanh nghiệp tư nhân hay chủ doanh nghiệp tư nhân là đối
tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp?
Hai là, chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một cá nhân có thu
nhập cao nên cũng thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo Luật
Thuế thu nhập cá nhân. Nhưng quan trọng ở chỗ, pháp luật thuế đã có quy
định như thế nào về việc tách biệt phần thu nhập chịu thuế của doanh
nghiệp tư nhân và thu nhập chịu thuế của chủ doanh nghiệp tư nhân?
Pháp luật thuế thu nhập hiện hành chưa bóc tách một cách rõ ràng
giữa nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và nghĩa vụ nộp thuế thu
nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp tư nhân. Vì vậy, có thể dẫn đến tình


Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

trạng cùng một khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân vừa phải nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp, lại vừa phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế đánh

tổ chức này sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ nộp thuế của
mình là thuế thu nhập cá nhân hay thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ năm, Theo quy định hiện nay cá nhân và hộ gia đình kinh doanh
phải đăng kí kinh doanh nhưng không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp,
phần thu nhập của cá nhân phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy vậy,
hình thức kinh doanh này thường không rõ ràng về hoá đơn, chứng từ dẫn
đến tình trạng là cơ quan nhà nước không thể xác định về doanh thu của
các cơ sở kinh doanh. So với doanh nghiệp tư nhân thì hình thức kinh
doanh này dễ dàng trốn thuế, lại chỉ chịu một loại thuế thu nhập, thuế suất
thuế thu nhập cá nhân về cơ bản thấp hơn thuế thu nhập doanh nghiệp.
Dẫn đến thực trạng là, tuy cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
như nhau nhưng do hình thức tổ chức kinh doanh khi đăng kí kinh doanh
khác nhau mà việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước khác nhau.
2.2. Hướng khắc phục khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp
Thứ nhất, như đã phân tích trong phần hạn chế, thủ tục thành lập
doanh nghiệp được pháp luật quy định khá thông thoáng, dẫn đến tình
trạng các doanh nghiệp “ma” mọc lên nhiều, do đó để khắc phục tình
trạng này, việc sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật về thành
lập và quản lý hoạt động của doanh nghiệp theo hướng vừa tạo môi trường
kinh doanh thông thoáng, vừa quản lý được tình hình hoạt động của doanh
nghiệp là thực sự cần thiết. Theo đó, để hạn chế tình trạng này, nên chăng
có quy định cho phép các cơ quan thuế có thể thực hiện một số biện pháp
kiểm tra đặc biệt nếu nghi ngờ có sự sai trái trong việc sử dụng hóa đơn
giá trị gia tăng mà doanh nghiệp đã mua và không nhất thiết phải qua cơ
quan thanh tra sau khi có quyết định thanh tra hoặc qua cơ quan kiểm
soát điều tra. Điều này có thể góp phần không nhỏ khắc phục tình trạng
doanh nghiệp “ma”.



như không đánh thuế đối với một số khoản chi nhất định. Khi đó doanh


Bài tập nhóm tháng 2 – Môn Luật Tài chính

nghiệp sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi nộp thuế và không tìm cách hợp
thức hóa các khoản chi không được trừ theo Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp nữa.
Bên cạnh đó, vì pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định
chung về nghĩa vụ nộp thuế và quy trình quản lý thuế đối với tất cả các
loại hình doanh nghiệp, không tính tới việc doanh nghiệp tư nhân, công ty
hợp danh có sự khác biệt cơ bản so với những loại hình doanh nghiệp
khác, dẫn đến việc không có sự tách bạch giữa tài sản kinh doanh và tài
sản tiêu dùng của doanh nghiệp, vì vậy để tránh trường hợp “đánh trùng
thuế”, thì cần phải rà soát lại văn bản pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp hoặc những văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan để loại
bỏ nội dung trùng lặp, bảo đảm sự thống nhất về hình thức và logic về nội
dung. Theo đó, các quy phạm pháp luật thuế cũng cần phải rõ ràng, giảm
thiểu những quy định dẫn chiếu từ văn bản này sang văn pháp luật khác
hoặc hạn chế dẫn chiếu những quy định chung. Chính vì thế các quy định
của pháp luật phải cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu ,đảm bảo tính minh bạch, để có
thể giúp đối tượng nộp thuế hiểu được quyền và nghĩa vụ thuế của mình.
Thứ ba, xung quanh vấn đề tổ hợp tác, hộ gia đình kinh doanh phải
đăng kí kinh doanh nhưng không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Để
hạn chế tình trạng các hình thức kinh doanh này trốn thuế, rất cần có sự
nhận thức rõ ràng và được thể hiện bằng quy định của pháp luật về việc
thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế xác định đối với mọi khoản thu nhập
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
hay chỉ áp dụng với khoản thu nhập của các tổ chức.
Thứ tư, góp phần giảm thiểu việc đối tượng nộp thuế lợi dụng sơ hở


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status