Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay, thì Tòa án là cơ quan duy nhất
có thẩm quyền xét xử. Hoạt động xét xử là một hoạt động đặc thù của ngành Tòa
án, trong đó vai trò của người tiến hành tố tụng (chủ yếu là Thẩm phán) là hết sức
quan trọng. Do đó, trong hoạt động nghề nghiệp của mình để đạt được hiệu quả cao
nhất đòi hỏi Thẩm phán phải đáp ứng các yêu cầu của kỹ năng giao tiếp. Do vậy, để
có một cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, trong nội dung bài tập nhóm tháng lần
này, nhóm xin được đi vào tiếp cận đề tài:“Phân tích đặc điểm hoạt động của thẩm
phán. Từ đó đưa ra mục đích yêu cầu của kĩ năng giao tiếp trong hoạt động nghề
nghiệp của thẩm phán”.
NỘI DUNG
I. PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA THẨM PHÁN
1. Một vài khái quát về nghề nghiệp Thẩm phán, khái niệm Thẩm phán
Thẩm phán là một trong những người hoạt động nhân danh pháp luật, nhân
danh công lý và lấy quy tắc ứng xử đạo đức nghề Thẩm phán làm chuẩn mực cho
hành vi ứng xử nghề nghiệp. Theo Điều 1 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm tòa
án nhân dân thì “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền của Toà án”. Bên cạnh đó, theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì công dân
Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên
quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo
về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp
luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm Thẩm phán như sau: “Thẩm phán là người
động của nghề thẩm phán là pháp luật, thông qua hoạt động sử dụng, viện dẫn áp
Trang 2
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
dụng pháp luật, dựa vào pháp luật để tác động đến các quan hệ phát sinh giữa con
người cùng tài sản, danh dự uy tín, nhân phẩm con người trong quá trình giải quyết
các vụ án có tính chất khác nhau. Toàn bộ hoạt động lao động nghề nghiệp của
thẩm phán được bảo vệ, được thúc đẩy, diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, với trình
tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định;
Thứ tư: Về điều kiện lao động (với nghĩa là môi trường lao động). Thẩm
phán là nghề gắn với môi trường bảo vệ, thực thi “Quyền lực tư pháp” của nhà
nước. Cùng với công cụ pháp luật, người hành nghề thẩm phán đòi hỏi phải tuân thủ
quy tắc đạo đức nghề nghiệp nghiêm ngặt, với chức năng nghề nghiệp là bảo vệ
pháp chế, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, pháp nhân, nhà
nước, bảo vệ công lý, công bằng xã hội. Môi trường lao động của nghề thẩm phán
gắn với môi trường chính trị - pháp luật và luôn chịu sự kiểm soát của pháp luật
cũng như giám sát của nhân dân;
Thứ năm: Sản phẩm lao động của nghề thẩm phán vô cùng đặc thù so với
các nghề nghiệp xã hội khác, đó là nhân danh nhà nước, nhân danh pháp luật để ra
bản án chứa đựng những phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án theo hướng
có tội hay không có tội, đúng hay sai. Phán quyết này có tác động trực tiếp sinh
mệnh chính trị của một con người nên nếu thẩm phán quyết định sai thì hậu quả và
tổn thất về tài sản, tính mạng sức khỏe, danh dự uy tín nhân phẩm có cá nhân, tổ
chức, pháp nhân và nhà nước sẽ to lớn khó bù đắp lại.
Như vậy, với một số đặc điểm cơ bản nêu trên, có thể thấy Thẩm phán là nghề
nghiệp đặc thù trong hệ thống nghề nghiệp xã hội và thuộc nhóm nghề luật (bao
gồm các nghề luật sư, kiểm sát viên, công chứng viên ) trong đó người hành nghề
phải đáp ứng được những tiêu chí nghề nghiệp nhất định và được đào tạo, bổ nhiệm
theo phương thức, trình tự đặc thù chứ không dựa vào ý chí và sự lựa chọn của
người hành nghề. Ngoài đặc tính chung của nghề luật như đảm nhiệm công việc
chuyên môn trong lĩnh vực thực thi, áp dụng luật, gắn với số phận con người, hoạt
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
các cá nhân, tổ chức khác nhưng vẫn giữ được sự nghiêm minh của pháp luật. Mục
đích là để phán quyết có tính thuyết phục cao, tác động đến đương sự của vụ án
cũng như những người tham dự phiên tòa.
2. Yêu cầu kĩ năng giao tiếp trong hoạt động của Thẩm phán
2.1. Kĩ năng xây dựng mối quan hệ của thẩm phán
Thẩm phán luôn tôn trọng chức năng tư pháp mà mình đại diện, giữ gìn niềm
tin của công chúng vào những phán quyết được tuyên nhân danh Nhà nước. Thẩm
phán hiện diện trước những người tố tụng, người tham gia tố tụng và trước xã hội
trong hình ảnh công lý – công bằng – chuẩn mực ứng xử đạo đức xã hội và nghề
nghiệp. Như vậy đòi hỏi Thẩm phán phải có kĩ năng xây dựng mỗi quan hệ của
riêng mình, mà tuân theo quy định của pháp luật trong những nguyên tắc cơ bản của
hoạt động tố tụng.
Khi tham gia vào quá trình tố tụng thẩm phán phải tuân thủ các nguyên tắc mà
pháp luật quy định như: Thẩm phán hoạt động một cách độc lập chỉ tuân theo pháp
luật (Thẩm phán không bị lệ thuộc hay bị tác động bởi bất kì một chủ thể nào hay
ảnh hưởng bởi bất ki mối quan hệ nào khác như:công tác,gia đình,xã hội); Nguyên
tắc thẩm phán không được phân biệt đối xử giữa những người tham gia tố tụng.
Trong việc xem xét đánh giá chứng cứ phải khách quan,toàn diện xem xét một cách
tổng thể không chỉ dựa trên cơ sở nhân thức quan điểm của cá nhân và phải đúng
pháp luật. Điều này yêu cầu thẩm phán phải tôn trọng các đương sự (không được
thể hiện thái độ lạnh lùng, sử dụng lời lẽ quát mắng, miệt thị bị cáo hay đương sự
khác; không được đưa ra những câu hỏi xâm phạm vào đời tư cũng như nhân phẩm
của những người tham gia phiên tòa mà phải thể hiện sự tôn trọng,học hỏi,lắng nghe
ý kiến và có tinh thần giúp đỡ mọi người).Tại phiên tòa, Thẩm phán phải có tác
phong đúng đắn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật không để ai phàn nàn về
cách ứng xử của mình.
Ví dụ như: Tại phiên tòa, Thẩm phán không được cười đùa; khi các đương sự
trình bày không được mất chú ý, nhìn đi chỗ khác Điều này tạo cho đương sự và
Trang 5
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
+ Biết quan sát tinh tế để hiểu tâm lý của bên bị hại và bị cáo, tâm lý của
Luật sư bào chữa, nguyện vọng của các bên.
+ Biết phản hồi bằng hành vi và ngôn ngữ: là người có vai trò quan trọng và
là "trọng tài" nên những ngôn từ hay cử chỉ của Thẩm đều phải nghiêm túc và công
bằng, nhưng để đạt được hiệu quả giao tiếp cao, Thẩm phán nên: nhìn vào mắt
người nói khi họ đang nói, người hơi nghiêng về phía người đang nói, nét mặt diễn
tả thích hợp với những gì người nói đang nói, thể hiện thái độ cởi mở và mong
muốn lắng nghe, sử dụng các phản ứng từ ngữ đơn giản như: "à há!", "tôi hiểu!",
"mm!", "hmm!", "đúng!", "tôi đồng ý", và tương ứng với gật đầu để thể hiện sự
tán đồng
,
; hay diễn giải lại bằng ngôn ngữ những gì người nói trình bày.
Sự lắng nghe của Thẩm phán trong giao tiếp hướng tới thu nhận và hiểu các
thông tin cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán. Vận dụng kỹ năng
lắng nghe, Thẩm phán không chỉ thu được thông tin về sự việc, hiểu nội tình sự
việc, mà còn quan sát để hiểu tâm lý của họ. Sự phản hồi khi lắng nghe còn là cách
để Thẩm thể hiện sự quan tâm, chú ý và sẵn sàng chia sẻ, đồng cảm với bên bị hại,
bên bị cáo, qua đó khích lệ họ tích cực cung cấp thông tin và là cách để Thẩm phán
kiểm tra lại tính đúng đắn trong nhận thức của mình, đồng thời đưa ra được phán
quyết đúng đắn nhất, đem lại công bằng cho xã hội.
2.3. Kỹ năng hỏi
Kĩ năng đặt câu hỏi đối với thẩm phán là vô cùng quan trọng. Đặt câu hỏi là
việc đưa ra những thông điệp nhất định tác động đến đối tượng để họ cung cấp
thông tin cần thiết, do đó việc đặt câu hỏi giúp điều khiển quá trình cung cấp thông
tin ở các đương sự. Mục đích của kĩ năng hỏi đó chính là khai thác thông tin một
cách hiệu quả hơn. Như chúng ta đã biết, trong quá trình giải quyết vụ án thì đương
sự chỉ trình bày những vấn đề có lợi cho họ còn những tình tiết không có lợi thì họ
sẽ không tự giác cung cấp. Vì vậy, để có thể xác định đúng đắn vụ án thì Thẩm
phán phải sử dụng kĩ năng hỏi. Thông qua việc hỏi các đương sự sẽ trình bày những
tiết của vụ án. Trên cơ sở lắng nghe những ý kiến của luật sư, kiểm sát viên, bị cáo,
Trang 8
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
người làm chứng…Thẩm phán đưa ra nhận định, ý kiến phản hồi. Ý kiến phản hồi
phải cụ thể, rõ ràng, chính xác. Để nâng cao hiệu quả xét xử, mỗi lần phản hồi
Thẩm phán nên xoáy vào những điểm mấu chốt, trọng tâm, tránh lan man…
Trong phản hồi, Thẩm phán nên thăm dò nhu cầu và tâm lý của người nhận
phản hồi, kiểm tra xem họ có hiểu đúng ý phản hồi của mình không. Trong quá
trình phản hồi cũng nên chú ý tới việc sử dụng ngôn ngữ, điều chỉnh thái độ phù
hợp.
Với tư cách là người nhận phản hồi, Thẩm phán nên lắng nghe và tóm tắt
các ý kiến phản hồi chính, nếu cần nên hỏi lại cho rõ để đảm bảo mình hiểu đúng ý
phản hồi của người tham gia tố tụng. Xử lý thông tin và ghi nhận hoặc giải trình,
đưa tiêu chí để nhận được những phản hồi rõ và cụ thể cũng là một việc quan trọng
mà thẩm phán cần lưu ý trong quá trình phản hồi.
2.5. Kỹ năng trình bày, thuyết phục
Kĩ năng trình bày là kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để truyền đặt thông tin. Kĩ
năng thuyết phục nhằm mục đích làm cho người nghe tin theo, làm theo mà trước
đó họ không tin, không làm theo.Thẩm phán sử dụng tốt kĩ năng này thì bản án,
quyết định mà mình đưa ra ngay cả đương sự và bị cáo cũng đồng tình và không có
kháng cáo phản đối. Như vậy:
Thẩm phán phải biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ, đặc điểm của
đương sự. Thẩm phán khi giao tiếp với các đương sự hoặc những người tham gia tố
tụng khác liên quan đến vụ án phải tùy vào đặc điểm tâm lí riêng của từng đối tượng
(trình độ văn hóa, tính cách, khí chất, khả năng) như thế nào mà Thẩm phán sử
dụng ngôn ngữ nói cho phù hợp. Đối với người có trình độ ngôn ngữ thấp phải khác
với việc sử dụng ngôn ngữ đối với những người có trình độ ngôn ngữ cao. Đối với
người có tâm lí rụt rè ít nói thì phải khác với những người hay nói…
Ngôn ngữ nói của Thẩm phán phải được thể hiện cả về nội dung và hình thức,
yêu cầu về ngôn ngữ của Thẩm phán phải sâu sắc về nội dung và giản dị về hình
mang lại. Do vậy, Thẩm phán cần rèn luyện hơn nữa các kỹ năng giao tiếp nghề luật
để phù hợp với đặc trưng hoạt động nghề nghiệp của mình./.
Trang 10
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chu Văn Đức. Giáo trình kỹ năng giao tiếp. Hà Nội 2005;
2. Trường Đại học Luật Hà Nội. Tập bài giảng kỹ năng giao tiếp nghề luật. Hà
Nội 2012;
3. Nguyễn Văn Đồng, Tâm lí học giao tiếp, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà
Nội, 2009;
4. Sổ tay thẩm phán;
5. THS Chu Liên Anh,THS Dương Thị Loan . Tâm lí học tư pháp hướng dẫn
trả lời lý thuyết giải bài tập tình huống và trắc nghiệm. Nxb. Chính trị -Hành
chính, Hà Nội, 2010;
6. Một số trang web:
http://toaan.gov.vn
http://luathinhsu.wordpress.com
Trang 11
Bài tập nhóm tháng I môn Kĩ năng giao tiếp nghề luật
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU:…………………… …………………… ……………… 1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:………………… ……………… …….…………1
I. PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA THẨM PHÁN……….1
1. Một vài khái quát về nghề nghiệp Thẩm phán, khái niệm Thẩm phán….1
2. Đặc điểm hoạt động của Thẩm phán…………………………………….2
II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG