Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT cao bá quát gia lâm hà nội - Pdf 31

1
Trƣờng đại học sƣ phạm hà nội 2
Khoa giáo dục thể chất

Nguyễn Thị Hoa

Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao
hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa cho học sinh nam
khối 11 trƣờng THPT cao bá quát
gia lâm - hà nội

Khoa luận tốt nghiệp đại học

Hà Nội 2010


2

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Nguyễn Thị Hoa
Sinh viên lớp: K32 GDTC – GDQP
Tôi xin cam đoan đề tài “ Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm
nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội”, là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Toàn bộ những vấn đề đưa và bàn luận trong đề tài đều là những vấn đề
mang tính thời sự , cấp thiết và đúng thực tế khách quan của trường THPT Cao
Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội.
Hà Nội, ngày …….tháng……năm 2010
Sinh viên

Nguyễn Thị Hoa


TS

: Tiến sĩ

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

UBTDTT- VN: Uỷ ban thể thao – Việt Nam
CT/TW

: Chỉ thị / Trung ương

ĐHSP

: Đại học sư phạm

TD

: Thể dục

cm

: Xentimét



DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Cao Bá Quát - Gia
Lâm - Hà Nội.
Bảng 3.2: Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn học
GDTC.
Bảng 3.3: Thực trạng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy
kỹ thuật nhảy xa cho học sinh nam trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà
Nội.
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá trình độ kỹ thuật và thành tích nhảy xa kiểu “ ưỡn
thân” của học sinh nam trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội.
khóa học 2007 – 2008
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá trình độ kỹ thuật và thành tích nhảy xa kiểu “ ưỡn
thân” của học sinh nam trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội khóa
học 2008 – 2009
Bảng 3.6: Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên dạy TDTT trường THPT Cao Bá
Quát - Gia Lâm - Hà Nội về các yêu cầu liên quan đến việc lựa chọn bài tập bổ
trợ chuyên môn cho giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa (n = 14)
Bảng 3.7:Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về những sai lầm của học
sinh nam trong khi thực hiện kỹ thuật giậm (n=14).
Bảng 3.8: Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn bài tập
bổ trợ giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội(n=14).
Bảng 3.9: Bảng kế hoạch thực nghiệm ( 6 tuần)
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên dạy TDTT về việc lựa chọn các
test đánh giá bài tập bổ trợ nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối tượng nghiên
cứu (n = 14)
Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm ( nA = nB = 32).


Chƣơng 2: Nhiệm vụ, phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.3. Tổ chức nghiên cứu
Chƣơng 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và việc sử dụng các bài
tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy trong nhảy xa
cho học sinh nam khối 11 trường THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm – Hà
Nội
3.2. Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng bài tập
bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa
cho học sinh nam khối 11 trường THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm – Hà
Nội
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Trang
1
4
4
7
11
14
15
16
17
18
20
20

…” [1] Đó khẳng định mục tiêu giáo dục là nhằm giáo dục và hỡnh thành nhõn
cỏch, tăng cường thể lực cho học sinh, sinh viên . Vỡ vậy, chỳng ta phải phấn
đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và phát triển phong trào TDTT trong
những năm đầu của thế kỷ XXI, đưa thể thao việt nam hũa nhập, đua tranh với
các nước trong khu vực và thế giới. Chỉ thị 133/TTg ngày 07/08/1995 của Thủ
Tướng chính phủ đó nờu rừ yờu cầu đối với Tổng cục TDTT cũng là UB TDTT
– Việt Nam tỉnh thành và nghành có liên quan: “Nghành TDTT phải xây dựng
định hướng phát triển có tính chất chiến lược, trong đó quy định rừ cỏc mụn thể
thao và cỏc hỡnh thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa
tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rói của quần chỳng, khỏe để xõy dựng
và bảo vệ tổ quốc”.[7]


8
Trong đó GDTC là một bộ phận hết sức cần thiết, nó gắn liền và góp phần
vào mục tiêu của GD và ĐT, có vai trũ quan trọng để chuẩn bị thể lực chung cho
học sinh. Đồng thời GDTC cũn giỳp rốn luyện ý chớ, tinh thần dũng cảm, ý thức
tổ chức kỉ luật và trong những nội dung đánh giá tiêu chuẩn rèn luyện thân thể
cho học sinh. khụng chỉ vậy, GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng
bước nâng cao trỡnh độ văn hóa thể chất và thể thao cho người đọc, góp phần
vào sự nghiệp thể thao của đất nước, đáp ứng được nhu cầu giao lưu học hỏi thể
thao của học sinh, sinh viên Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế .
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “công tác
thể dục thể thao coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học,
tổ chức hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện hằng ngày, nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo…’’[2].
Theo tỡnh thần nghị quyết đại hội đảng IX và chỉ thị số 17/CT-TW ra ngày
23/10/2002 của ban bí thư TW đảng về : “chiến lược phát triển ngành thể dục
thể thao đến năm 2010 ” và đó khẳng định rừ giỏo dục thể chất trong trường học
là cực kỡ quan trọng.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là lựa chọn cỏc bài tập bổ trợ chuyờn mụn
sao cho phự hợp, nhằm nõng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa kiểu “ưỡn
thân” cho học sinh nam khối 11 trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lõm - Hà Nội.


10
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về công tác giáo dục và đào tạo,
công tác GDTC trong trƣờng học
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục và đào
tạo
Trong nghị quyết của Ban chấp hành TW Đảng từ khóa III đến khóa XI,
Đảng ta đều khẳng định tầm quan trọng của GD - ĐT đối với sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi
đất nước ta tiến hành cải cách mở cửa và đổi mới về lĩnh vực kinh tế xó hội,
trong tỡnh hỡnh đó nghành GD - ĐT cũng đó kịp thời tiến hành nhiều đổi mới
để phát triển.
Tháng 01/1993, Hội nghị 4 Ban chấp hành tr ung ương Đảng khóa VII ra
nghị quyết số 04/CTTW về công tác GDĐT. Chỉ thị nờu rừ: “ Đại bộ phận đội
ngũ giáo viên chưa được đào tạo bồi dưỡng tốt, bất cập với yêu cầu đổi mới GD
… Các trường sư phạm đào tạo thấp. Sự yếu kém của đội ngũ giáo viên và hệ
thống các trường sư phạm là đáng lo ngại …” [5]. Đồng thời nghị quyết cũn chỉ
rừ cỏc giải phỏp thỏo gỡ đó là: “… Phải đổi mới hệ thống sư phạm, đào tạo lại
và đào tạo mới một đội ngũ giáo viên giỏi, có trách nhiệm, có lương tâm, có
lũng tự hào về nghề nghiệp. Đó là vỡ điều kiện quyết định để nâng cao chất
lượng giáo dục ” [5]. Vỡ vậy, quan điểm của Đảng là định hướng đúng đắn cho
ngành giỏo dục, là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ lớn lao đối với cán bộ, giỏo
viờn, học sinh, sinh viờn cũng nỗ lực phấn đấu giảng dạy, học tập tốt vỡ sự
nghiệp phỏt triển GD.

đến trẻ thơ đó dấy lờn phong trào khỏe để kháng chiến kiến quốc. TDTT đó gúp
một phần đáng kể đưa cuộc kháng chiến chống pháp của chúng ta thắng lợi.
Thời kỳ xây dựng ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1954
đến 1975. Đảng ta đó khẳng định chiến lược phát triển TDTT ở trong nghị quyết
Ban chấp hành TW Đảng khóa III là: “ phỏt triển TDTT nõng cấp sức khỏe,
nhõn dõn gúp phần xõy dựng và bảo vệ Miền Bắc xó hội chủ nghĩa, giải phúng


12
Miền Nam ’’ [5]. Sau đại hội Đảng lần thứ 3 năm 1961, Bác Hồ đó viết thư cho
hội nghị cán bộ TDTT Miền Bắc, một lần nữa Hồ Chủ Tịch lại nhắc đến vai trũ
quan trọng của TDTT đối với việc nâng cao sức khỏe cho mọi người.
Năm 1970, Đảng ra chỉ thị 170 CT/TW về việc phát triển phong trào chạy,
nhảy, bơi, bắn, vừ … Chỉ thị này đó được nhân dân ta tích cực hưởng ứng góp
phần nâng cao thể lực cho quân, dân ta tiến hành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn
đất nước.
Ngày 30/04/1975, cả nước ta hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một
mối. Đứng trước sứ mạng lịch sử mới phải nhanh chóng khôi phục một quốc gia
giàu mạnh, văn minh. Đảng ta đó đề ra các chiến lược trong văn bản Đại Hội
Đảng VI, VII, VIII, IX và hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992, cụ thể hóa
các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng và chính phủ đó ra nhiều
chỉ thị và thụng tư về công tác TDTT như chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/03/1994 về
công tác TDTT. Trong chỉ thị Đảng ta đó nờu ra những thành tớch đó đạt được
của nghành, đồng thời cũng chỉ những yếu kém về sự phát triển TDTD quần
chúng, thể thao thành tích cao, yếu kém về công tác tổ chức cũng như phát triển
cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện TDTT.
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/03/1994 cú viết “ số người tập luyện TDTT
cũn rất ớt, hiệu quả GDTC trong trường học và các lực lượng vũ trang cũn thấp
… Thành tớch thể thao thành tớch cao cũn thua kộm xa so với nhiều nước trong
khu vực … Đội ngũ cán bộ TDTT cũn yếu và thiếu … cơ sở vật chất và khoa học

1.2.1. Đặc tâm lý lứa tuổi học sinh THPT [16]
Về mặt tõm lý, cỏc em thớch chứng tỏ mỡnh là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng mỡnh, đó cú trỡnh độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích,
tổng hợp muốn hiểu nhiều biết rộng, ưa hoạt động có nhiều hoài bóo, nhưng cũn
nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này, chủ yếu là tuổi hỡnh thành thế giới quan tự ý thức, hỡnh thành
tính cách và hướng về tương lai. Đó cũng là tuổi của lóng mạn, mơ ước độc đáo
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh
nhạt, khô khan, trước hết nó là sự say mê, ước vọng nhiệt tỡnh.


14
- Hứng thú: Các em đó cú thỏi độ tích cực trong học tập xuất phát từ động
cơ học tập đúng đắn và hướng vào việc lựa chọn nghề phù hợp với mỡnh sau khi
đó học xong THPT. Song hứng thỳ học tập cũng cũn do nhiều động cơ khác
nhau: giữ lời hứa với bạn, đôi khi do tự ái, hiếu danh. Vỡ vậy mà giáo viên cần
định hướng cho các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có được hứng thú
bền vững trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng.
- Tỡnh cảm: So với học sinh cấp tiểu học và THCS, học sinh THPT biểu
lộ rừ rệt tỡnh cảm gắn bú và yờu quý mỏi trường mà các em sắp chia tay, yêu
quý các thầy (cô) đó giảng dạy mỡnh. Việc giỏo viờn gõy được thiện cảm và sự
tôn trọng là một trong những thành công trong sự nghiệp trồng người. Điều đó
giúp giáo viên thuận lợi trong việc giảng dạy, nó cũn thỳc đẩy các em tích cực,
tự giác trong tập luyện và ham thích môn TDTT. Nên giáo viên phải là người
mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm đúng mức tới học
sinh, tôn trọng kết quả học tập cũng như tỡnh cảm của học sinh.
- Trớ nhớ: Lứa tuổi này hầu như không cũn tồn tại việc ghi nhớ mỏy múc
do cỏc em đó biết cỏch ghi nhớ cú hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ
hơn và lĩnh hội được bản chất của vấn đề cần học tập. Do đặc điểm trí nhớ của
các em học sinh THPT khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực

không cân bằng đó ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Vỡ vậy, giỏo viờn và huấn
luyện viờn cần chỳ ý đến đặc điểm cơ thể của từng cá nhân, từng học sinh để có
thể đưa ra bài tập, cách tập luyện phù hợp nhất và đem lại hiệu quả cao trong quá
trỡnh tập luyện.
1.2.2.3. Hệ vận động ( hệ xương - hệ cơ )
- Hệ xương: Đối với học sinh THPT, đa số các em hệ xương đó phỏt triển
tương đối hoàn thiện và bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở 2 đầu xương cũn
dài nhưng sụn chuyển thành xương ít. Đối với các em nữ mỗi năm cao thêm từ
0,5 - 1 cm, nam cao thờm từ 1- 3cm. Tập luyện TDTT một cách thường xuyên,
liên tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn. Lứa tuổi học sinh phổ thông, các
xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đó hoàn thiện nờn cỏc em cú thể
tập luyện một số động tác treo, chống, mang vác và không làm tổn hại hoặc
không tạo ra sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột sống đó ổn định hỡnh dỏng,


16
nhưng vẫn chưa hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo, nên việc bồi dưỡng tư thế
chính xác thông qua hệ thống bài tập như đi, chạy, nhảy, TD nhịp điệu … Cho
cỏc em là rất cần thiết và khụng thể xem nhẹ.
Hệ cơ: Ở lứa tuổi học sinh THPT, hệ cơ phát triển chậm hơn so với hệ
xương và sự phát triển của cơ phụ thuộc rất nhiều mức độ phát triển của xương.
1.2.2.4. Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn của học sinh THPT đang phát triển và đi đến hoàn thiện.
Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam 70 - 80 lần /phút.
Khả năng hồi phục sau những hoạt động thể lực nặng nhanh hơn lứa tuổi trước
đó. Sau vận động mạch đập và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng. Lứa
tuổi này có thể áp dụng các bài tập đũi hỏi sự dai sức và những bài tập cú khối
lượng và cường độ vận động tương đối lớn. Vỡ vậy, giỏo viờn cần đưa ra các bài
tập phù hợp, cần có thời khóa biểu hợp lý để không gây ra sự nguy hiểm vượt
sức đối với học sinh, cần thường xuyên kiểm tra, theo dừi sức khỏe của học sinh

cựng phong phỳ và đa dạng, dựa trên nhu cầu kinh nghiệm và truyền thống lâu
đời của các dân tộc cũng như những điều kiện sống mới và thành tựu khoa học
hiện đại. Đặc biệt phải kể đến những loại hỡnh bài tập, trên cơ sở các quan niệm
triết học phương đông rất độc đáo đang được nhiều nước trên thế giới nghiên
cứu, khai thác và áp dụng.
1.3.2. Nội dung và hỡnh thức của bài tập TDTT
1.3.2.1. Nội dung
Bài tập TDTT bao gồm cỏc thành phần tạo nên bài tập đó và các quá trỡnh
cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo nên.
Khi nhỡn từ gúc độ sư phạm, xem xét nội dung bài tập TDTT là xem xét
tác dụng tổng hợp của các bài tập đối với việc phát triển các năng lực vận động
của cơ thể và sự hỡnh thành kĩ năng kỹ xảo vận động , cũng như sự tác động tới
hành vi nhân cách người tập.
Khi nhỡn về gúc độ sinh lý học: Nội dung bài tõp TDTT là những biến đổi
trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập làm cho cơ thể


18
chuyển sang một mức hoạt động mới cao hơn so với lúc yên tĩnh, nhờ vậy mà có
thể hoàn thiện được những khả năng chức phận của cơ thể.
1.3.2.2. Hỡnh thức của bài tập TDTT
Hỡnh thức của bài tập TDTT là cấu trỳc (hay tổ chức) bờn trong hay bờn
ngoài của nú. Hỡnh thức bài tập phụ thuộc vào cỏc đặc điểm nội dung của nó.
Cấu trỳc bờn trong của bài tập thể hiện ở mối quan hệ và sự phối hợp, tác
động lẫn nhau giữa các quá trỡnh khỏc nhau của hoạt động chức năng của cơ thể
trong lúc thực hiện bài tập. Cấu trúc bên ngoài của bài tập TDTT là hỡnh dỏng
cú thể nhỡn thấy của nú, thể hiện đặc trưng ở quan hệ giữa các thụng số khụng
gian, thời gian và lực của các động tác tạo thành bài tập
Chớnh vỡ vậy mà hỡnh thức và nội dung của bài tập TDTT liờn quan hữu
cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định. Nội dung thay đổi thỡ hỡnh

lực, điều kiện lao động, học tập sinh hoạt, nghỉ nghơi.
- Đặc điểm bài tập
- Đặc điểm của môi trường thực hiện bài tập.
Kết hợp tập luyện TDTT với việc thực hiện các biện pháp vệ sinh và rèn
luyện cơ thể trong các điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tố quan trọng
nâng cao tác dụng và hiệu quả của quỏ trỡnh GDTC.
1.4. Đặc điểm phát triển tố chất sức mạnh của học sinh THPT
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài bằng nỗ lực của cơ bắp
- Sức mạnh phụ thuộc vào cỏc yếu tố:
+ Độ to, nhỏ của cơ bắp, cấu trúc của sợi cơ
+ Sự co dón của cơ bắp
+ Sự điều hũa của thần kinh
+ Dự trữ nguồn năng lượng phù hợp
+ Cỏc phẩm chất tõm lý
- Phân loại: Người ta phân sức mạnh thành 3 loại:
+ Sức mạnh tối đa
+ Sức mạnh nhanh
+ Sức mạnh bền


20
Việc tập luyện sức mạnh cú ý nghĩa rất lớn, tập luyện thường xuyờn thỡ
sự cung cấp mỏu cho cơ bắp sẽ được tăng cường hàm lượng chất dinh dưỡng và
các men tham gia vào quá trỡnh trao đổi chất trong vận động cao hơn người
bỡnh thường, nhờ đó mà cơ bắp nở nang xương tăng độ dày và phát triển vững
chắc.
Tập luyện sức mạnh cũn gúp phần rốn luyện ý chớ làm tiờu hao lượng mỡ
thừa tạo cho cơ thể cú vúc dỏng khoẻ mạnh, thỏa món nhu cầu vươn tới cái đẹp
về hỡnh thể của con người, nảy sinh những tỡnh cảm tốt đẹp lành mạnh.
Sức mạnh lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tiết diện sinh lý của cơ, cơ năng chi

gắn kết có trỡnh tự, cú sự phối hợp, cú liên quan, có tác động lẫn nhau. Thúc đẩy
hoặc hạn chế nhau để cùng thực hiện một yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó. Một
kỹ thuật khó thường gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn, nhiều cử động nên cùng
một lúc người học không thể hỡnh thành ngay cỏc kỹ năng cũng như các đường
mũn liờn hệ trên vỏ đại nóo cỏc cử động đó. Do vậy khi học kỹ thuật khó người
ta thường dùng phương pháp phân chia để người học dễ tiếp thu. Trong nhảy xa
người ta phân kỹ thuật ra làm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không, tiếp
đất.
Trên cơ sở đó người học nắm bắt từng phần nhỏ sau đó liên kết lại thành
một kỹ thuật hoàn chỉnh. Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật để giúp người học hỡnh thành
được kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập:
- Mang tính chuẩn bị, nhằm đưa người tập vào trạng thái tâm lý, sinh lý
thớch hợp với việc tiếp thu kỹ thuật.
- Mang tính dẫn dắt làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến liên hoàn của một kỹ thuật cần học.
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với không
gian và thời gian khác nhau, nhằm tạo ra sự lợi dụng các khả năng nếu có, hỡnh
thành những khả năng mới và có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi
các kỹ năng đang học, người ta cần tập các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn
cho người tập.
Muốn thực hiện được động tác giậm nhảy tốt người tập phải có cảm giác
chạy đà chính xác, điểm giậm nhảy và góc độ đặt chân hợp lý, đồng thời phải có
sức bật của hai chân thỡ động tác giậm nhảy mới có hiệu quả tốt đem lại thành


22
tích cao cho người tập. Thành tích nhảy xa là tổng hũa của mối quan hệ đa yếu
tố, là chỉ số thể hiện tương đối đầy đủ các năng lực phẩm chất của VĐV: thể lực,
tâm lý, kỹ thuật v.v..
Không chỉ có các bài tập bổ trợ chuyên môn nói trên, người ta cũn rất chỳ

đặt đúng vào điểm giậm nhảy, góc độ của giậm nhảy đó hợp lý chưa, tư thế thân
người, tư thế tay đó đúng chưa… Tất cả phải được mô hỡnh húa và chương
trỡnh húa. Người tập sẽ bám vào mô hỡnh và chương trỡnh húa mà dựng cỏc bài
tập để hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật, nâng cao thể lực và thành tích thể thao.
Tóm lại: Việc nâng cao hiệu bài tập bổ trợ chuyên môn đang được giáo
viên, huấn luyện viên sử dụng rộng rói trong giảng dạy và huấn luyện thể thao.
1.7. Đặc điểm kỹ thuật giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa
So với các môn nhảy xa khác trong điền kinh, nhảy xa có “thâm niên” trên
100 năm. Việc nghiên cứu về đặc thù môn nhảy xa trong việc chinh phục khoảng
không gian luôn luôn là vấn đề cần thiết đối với nhà khoa học và chuyên môn
TDTT. Các kết quả nghiên cứu khoa học TDTT nói chung và nhảy xa núi riờng
cú ý nghĩa và tỏc dụng to lớn, kỹ thuật chủ yếu khi thực hiện nhảy xa là giai
đoạn giậm nhảy có hiệu quả khi đang chạy đà với tốc độ lớn. Chạy đà và giậm
nhảy quyết định chủ yếu đến hiệu quả của lần nhảy và kỹ thuật giậm nhảy đạt
hiệu quả dựa trên cơ sở giải quyết tốt giai đoạn chạy đà và khả năng phối hợp
trong giai đoạn giậm nhảy.
Giậm nhảy được thực hiện trong thời gian rất ngắn. Giai đoạn giậm nhảy
bắt đầu khi đặt chân giậm nhảy vào ván giậm nhảy. Lúc này chân giậm nhảy hơi
khuỵu gối, sau đó dùng sức mạnh của chân và thân đạp mạnh nhanh lên ván
giậm nhảy.
Khi giậm nhảy, phải chủ động đạp mạnh duỗi thẳng chân, phối hợp với
đánh tay và đưa chân lăng ra trước - lên cao và giữ cơ thể được thăng bằng.
Giậm nhảy phải phối hợp nhịp nhàng với tốc độ nằm ngang của chạy đà tạo lên.
Theo kết quả nghiờn cứu của nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học về
giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa cho thấy thành tích đạt được phụ thuộc vào
sức mạnh của chân, sự linh hoạt của cổ chân, sức bật của bàn chân, sự phối hợp
nhịp nhàng của toàn bộ cơ thể đặc biệt là sự phối hợp chính xác giữa lực giậm
nhảy với lực do chạy đà tạo nên và góc độ giậm nhảy hợp lý. Gúc giậm nhảy
khoảng 70 – 800 (so với mặt đất ở phía trước) để đạt góc độ bay khoảng 20 –
240. Kết thúc giậm nhảy trọng tâm cơ thể ở vị trí cao sẽ có lợi cho thành tích.

thay đổi hướng chuyển động của cơ thể lên góc độ nhất định ( trong giới hạn 20
– 220) mà vẫn giữ được tốc độ bay ban đầu. Để giậm nhảy mà chính xác cần xác
định vạch báo hiệu ( nơi bắt đầu vào 4 – 6 bước cuối)
Để hoàn thiện tốt việc giậm nhảy thỡ trước khi đặt chân giậm nhảy vào
ván ( khi cũn cỏch 0,06 – 0,1cm) thỡ người tập cần có sự căng cơ sơ bộ các cơ


25
vũm bàn chõn và cơ tứ đầu đùi của chân, giậm nhảy và phát huy tối đa sức mạnh
giậm nhảy [14].
Vỡ vậy, chạy đà và giậm nhảy cú ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra V0 (tốc
độ bay). Muốn tạo ra V0 lớn người nhảy phải có tốc độ chạy đà thích hợp, tạo
lực giậm nhảy lớn. Để giúp người nhảy có thời gian bay trên không dài thỡ cơ
thể người nhảy phải có độ cao và độ xa khi bay trên không. Cho nên phương
hướng dùng sức giậm nhảy vô cùng quan trọng để giúp người nhảy đạt thành
tích cao hơn.


Trích đoạn Phương pháp tổ chức quá trỡnh giảng dạy của trường THPT Cao Bá Quát Gia Lõm Hà Nội. Thực trạng sử dụng cỏc bài tập bổ trợ chuyờn mụn trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy trong nhảy xa kiểu “ưỡn thân” cho học sinh nam Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyờn mụn nhằm nõng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa kiểu’’ ưỡn thân ” cho học sinh nam khối 11 trường Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập bổ trợ chuyên môn giai đoạn giậm nhảy của kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân’’ cho học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status