Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán - Pdf 33

Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

MỞ BÀI
Thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từng ngày
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Qua mấy năm
vận hành, các bộ phận thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra diện mạo
mới cả về hàng hóa, tính đa dạng của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, thị
trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường còn non trẻ, không
tuân theo quy luật, mà tình trạng này được báo giới gọi là “thị trường chứng
khoán Việt Nam lình xình”. Đồng thời, thị trường chứng khoán có chức năng
là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bất kì một
vấn đề nào liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán đều đem lại
những ý nghĩa nhất định. Việc so sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với
hoạt động mua, bán chứng khoán không chỉ đem lại những ý nghĩa chung mà
nó còn đem lại những ý nghĩa riêng nhất định. Dưới đây, nhóm em xin đi
trình bày cụ thể vấn đề.

NỘI DUNG
I.Một số vấn đề lý luận chung.
1.Một số vấn đề cơ bản về chứng khoán.
a.Khái niệm chứng khoán.
Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc
phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích
của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một
chủ thể nhất định xét trên phương diện pháp lý.
Ở Việt Nam, khái niệm chứng khoán được quy định cụ thể tại
Khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006: “Chứng khoán là bằng chứng
xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc

thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát
hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu.
Thứ ba: Chứng chỉ quỹ đầu tư: là loại chứng khoán do công ty quản lý
quỹ hoặc các quỹ đầu tư phát hành xác nhận quyền lợi của nhà đầu tư đối với
quỹ phát hành.
2.Kinh doanh chứng khoán.
Nói một cách khái quát, kinh doanh chứng khoán là loại hình hoạt động
thương mại đặc biệt mà ở đó các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và
các chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán tiến hành các nghiệp vụ về
kinh doanh chứng khoán cho chính mình và cho khách hàng vì mục tiêu lợi
nhuận tối đa.
Theo quy định tại Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì: “Kinh doanh
chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh
chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán,
lưu kí chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục
đầu tư chứng khoán”. Cụ thể:
Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực
hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán
chứng khoán cho chính mình.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành
cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành
để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ
chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng
khoán ra công chúng.

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G

2

khoán. Ở Việt Nam hiện nay tuy Luật chứng khoán không đưa ra định nghĩa
về công ty chứng khoán song qua các quy định cụ thể trong Luật chứng khoán
có thể khái quát định nghĩa về công ty chứng khoán như sau: “Công ty chứng
khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập,
hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán và các quy định khác của
pháp luật để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán dưới đây theo giấy phép do Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư
vấn đầu tư chứng khoán. Qua định nghĩa trên có thể thấy: công ty chứng
khoán tại Việt Nam được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
hoặc công ty cổ phần. Do đó, nó đều là các pháp nhân.

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G

3


Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

Công ty đầu tư chứng khoán là công ty được thành lập từ vốn góp của
các nhà đầu tư và sử dụng số vốn góp đó để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán
nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Công ty đầu tư chứng khoán có thể huy động vốn
thông qua việc tổ chức chào bán cổ phiếu riêng lẻ để thành lập công ty đầu tư
chứng khoán phi đại chúng hoặc thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng
để thành lập công ty đầu tư chứng khoán đại chúng. Do đó, có thể thấy công
ty đầu tư chứng khoán luôn được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.
Do đó, nó cũng là một pháp nhân có tổ chức bộ máy hoàn chỉnh.
b.Chủ thể tiến hành hai hoạt động này có nhiều quyền và nghĩa vụ tương


4


Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

hàng hóa này được thể hiện thông qua các đặc điểm khác biệt so với các loại
hàng hóa thông thường khác:
Thứ nhất: Tính sinh lời: thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải
trả cho người sở hữu chứng khoán một khoản lợi nhuận trong tương lai để
nhận về mình quyền sử dụng vốn. Lợi nhuận do chứng khoán mang lại có thể
là cố định hoặc biến đổi tùy thuộc vào từng loại chứng khoán. Là một loại
hàng hóa đặc biệt, chứng khoán tạo ra một khoản tiền lớn hơn giá trị ban đầu
mà nhà đầu tư đưa vào kinh doanh. Tính sinh lời của chứng khoán đã tạo nên
sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán và là hình thức đầu tư được nhiều
nhà đầu tư lựa chọn.
Thứ hai: Tính rủi ro: bản chất của hoạt động đầu tư luôn tiềm ẩn trong
nó những rủi ro. Việc kinh doanh chứng khoán là một hoạt động đầu tư để thu
lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định. Mức độ rủi ro của chứng
khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn, thực
trạng, triển vọng của chủ thể phát hành. Tính rủi ro luôn luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với tính sinh lời và khả năng thanh khoản của chứng khoán.
Thứ ba: Chứng khoán có khả năng thanh khoản cao: có nghĩa là khả
năng chuyển đổi thành tiền mặt một cách dễ dàng của chứng khoán. Đây vừa
là đặc điểm vừa là lợi thế của chứng khoán làm cho chứng khoán được lưu
hành rộng rãi trên thị trường. Tính thanh khoản của chứng khoán xuất phát từ
nhu cầu mua bán, sử hữu chứng khoán của các nhà đầu tư, thị trường chứng
khoán. Điều này tạo thuận lợi cho người sở hữu chứng khoán khi không muốn

Hai hoạt động này đều đặt dưới sự quản lý Nhà nước trực tiếp của cơ
quan quản lý chính thức là Ủy ban chứng khoán Nhà nước.
Cả hai hoạt động này đều diễn ra các hoạt động chủ yếu là mua và bán
chứng khoán trên thị trường.
Nguồn vốn để tiến hành các hoạt động này đều là nguồn vốn, tài sản
của chính công ty để thực hiện các hành vi mua và bán chứng khoán trên thị
trường nhằm đem lại lợi nhuận cho mình.
2.Những điểm khác nhau.
Xét về mặt hình thức, hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty
chứng khoán có nhiều điểm giống với hoạt động mua, bán chứng khoán của
người đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung và của công ty đầu tư
chứng khoán nói riêng. Tuy nhiên, nếu xét về bản chất kinh tế và bản chất
pháp lý thì hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán có rất
nhiều điểm khác biệt so với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu
tư chứng khoán.
a.Về chủ thể tiến hành.
Hoạt động tự doanh chứng khoán chỉ được tiến hành bởi một chủ thể
duy nhất trên thị trường, đó là công ty chứng khoán. Còn hoạt động mua, bán
chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán được tiến hành bởi các công ty
đầu tư chứng khoán. Giữa hai chủ thể này có rất nhiều điểm khác biệt.
Một là: Về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
Công ty chứng khoán là chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng
khoán có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề
nghiệp là kinh doanh chứng khoán. Tại điều 60 Luật chứng khoán năm 2006
chỉ rõ: công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép được cấp: môi giới
chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn
đầu tư chứng khoán. Ủy ban chứng khoán Nhà nước chỉ cấp giấy phép hoạt
động bảo lãnh phát hành khi công ty chứng khoán đã được phép hoạt động tự
doanh. Công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ lưu ký chứng khoán

đặc thù nên việc tự doanh chứng khoán phải được cấp giấy phép và đăng ký
kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Ủy ban chứng khoán Nhà
nước. Công ty chứng khoán phải thỏa mãn các điều kiện nhất định mới có thể
tiến hành hoạt động tự doanh chứng khoán. Những điều kiện này cũng được
quy định tương tự như đối với các loại hình hoạt động kinh doanh chứng
khoán khác, ngoại trừ điều kiện về mức vốn pháp định tối thiểu phải là 100 tỉ
đồng Việt Nam.
Đối với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng
khoán: do đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh chủ yếu nhất của các
công ty đầu tư chứng khoán ngay từ khi thành lập nên các công ty đầu tư
chứng khoán chỉ cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thành lập công
ty với số vốn pháp định là 50 tỉ đồng là có thể tiến hành các hoạt động mua,
bán chứng khoán mà không cần phải được cấp giấy phép như hoạt động tự
doanh chứng khoán của công ty chứng khoán.
c.Về cơ sở để tiến hành hoạt động.
Hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán được thực
hiện trên cơ sở trực tiếp kí kết các hợp đồng mua, bán chứng khoán với khách
hàng hoặc đặt lệnh mua, bán trên thị trường cho các nhà môi giới chứng

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G

7


Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

khoán thực hiện. Xét về bản chất, dù là thỏa thuận trực tiếp giữa công ty
chứng khoán với khách hàng hay thỏa thuận gián tiếp thông qua các nhà môi

hoạt động mua, bán chứng khoán thông thường mà đó là một hoạt động đầu
tư: công ty đầu tư chứng khoán bỏ vốn ra để mua chứng khoán, không phải cứ
thấy sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán là tiến hành bán chứng khoán để
thu lợi nhuận mà lợi nhuận công ty đầu tư chứng khoán hướng đến chính là
các khoản lợi tức thu được từ chứng khoán.

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G

8


Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

Chính vì thế, về bản chất đây là hai hoạt động khác nhau. Khoản thu từ
lợi nhuận của hai hoạt động này là khác nhau. Một bên là khoản chênh lệnh
giữa giá mua và giá bán chứng khoán một bên là lợi tức phát sinh từ khoản
đầu tư chứng khoán.
e.Về thời gian tiến hành hoạt động mua, bán chứng khoán.
Hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán hướng đến
tìm kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán, do
đó thời gian công ty chứng khoán giữ chứng khoán đã mua thường là không
dài, khi thấy có lãi công ty sẽ tiến hành bán chứng khoán.
Đối với công ty đầu tư chứng khoán, thực chất việc mua chứng khoán
là một hoạt động đầu tư, do đó khi đã mua chứng khoán, công ty đầu tư chứng
khoán sẽ đi cùng doanh nghiệp để hưởng lợi tức, việc bán chứng khoán chỉ
được tiến hành sau một khoảng thời gian tương đối dài.
f.Về các hạn chế đối với hoạt động tự doanh chứng khoán và hoạt động
mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán.

- Công ty đầu tư chứng khoán đại chúng phải tuân thủ các quy định về
hạn chế đầu tư chứng khoán tại Điều 92 Luật chứng khoán. Khi thực hiện
hoạt động mua bán chứng khoán không được:
+
Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó hoặc của
một quỹ đầu tư khác;
+
Đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá 15%
tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó;
+
Đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán
đang lưu hành của một tổ chức phát hành;
+
Đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất động
sản; đầu tư vốn của quỹ mở vào bất động sản;
+
Đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào các
công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau
III.Ý nghĩa của việc so sách hoạt động tự doanh chứng khoán và mua
bán chứng khoán của công ty chứng khoán.
1.Giúp nhà đầu tư lựa chọn loại hình hoạt động phù hợp
Thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từng
ngày chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Qua mấy
năm vận hành, các bộ phận thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra diện
mạo mới cả về hàng hóa, tính đa dạng của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên,
thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường còn non trẻ,
không tuân theo quy luật, mà tình trạng này được báo giới gọi là “thị trường
chứng khoán Việt Nam lình xình”. Đồng thời, thị trường chứng khoán có
chức năng là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế”, với giới đầu tư đó là một kênh
đầu tư hiệu quả nếu đánh giá được thị trường. Chính vì vậy, việc nghiên cứu

những chính sách điều tiết khác nhau.
Hoạt động tự doanh hiện nay đươc xem là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc nâng
cao lợi nhuận . Nhưng đây cũng là lĩnh vực có thể có khả năng can thiệp điều
tiết thị trường chứng khoán. Nên việc điều chỉnh và quản lý của nhà nước đối
với hoạt động này chặt chẽ hơn so với hoạt động mua bán chứng khoán của
công ty đầu tư chứng khoán. buộc các chủ thể kinh doanh phải tuân thủ, các
quy định này được ban hành nhằm mục đích:
Bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư
cá nhân
Đảm bảo thị trường hoạt động trôi chảy và hiệu quả
Ngăn chặn các hoạt động tiêu cực trên thị trường chứng khoán
Giảm thiểu sự tác động tiêu cực của thị trường chứng khoáng
đến các hoạt động của nền kinh tế.
Chính vì thế, luật chứng khoán quy định: Trong thực hiện nghiệp vụ tự
doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải chấp hành các quy định sau:
Phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh
giao dịch cho tài khoản của chính mình.
Phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của chính
mình.
Phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao
dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu phí giao dịch của khách
hàng trong trường hợp này.
Trong trường hợp lệnh mua, bán của khách hàng có thể ảnh
hưởng lớn tới giá trị của loại chứng khoán đó, công ty chứng khoán không
được mua, bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ
thông tin cho bên thứ ba mua, bán chứng khoán đó.

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G


các thầy cô. Nhóm em xin trân thành cảm ơn.

Khoa pháp luật kinh tế - KT32G

12


Bài tập nhóm tháng 2 môn Luật chứng khoán

Đề số: 02

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Giáo trình Luật chứng khoán, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công

An nhân dân 2008;
2.
Lê Thị Thu Huyền “Hoàn thiện pháp luật về quĩ đầu tư chứng khoán
và công ti đầu tư chứng khoán ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học 2007;
3.
Bùi Doãn Đức, “Pháp luật hợp đồng mua bán chứng khoán những vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Khoá luận tốt nghiệp, 2004
4.
Trần Thị Thanh Thảo “Pháp luật Việt Nam hiện hành về công ty chứng
khoán - thực trạng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện” Luận văn thạc sĩ
luật học”, 2001;
5.
Đoàn Quốc Hùng, “Pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoán
của công ty chứng khoán - thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status