BÁO CÁO KẾT QUẢ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ Ở HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG - Pdf 34

BÁO CÁO KẾT QUẢ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY- KIỂM
TRA, ĐÁNH GIÁ Ở HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ThS Nguyễn Thị Lan
Bộ môn KHXH&NV- Khoa Khoa học Chính trị
I.Đặt vấn đề
Đổi mới phương pháp dạy và học là yêu cầu khách quan và cấp thiết trong các cơ sở
giáo dục đại học hiện nay. Đặc biệt, trong các trường đại học đào tạo theo hình thức tín chỉ.
Giờ đây người học không còn là người “được dạy” kiến thức, mà trở thành người khám phá
tri thức. Để đạt được mục tiêu: “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người
học” thì việc tự học của người học có vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, làm thế nào để
người học có thể phát huy được năng lực tự học, sự chủ động, sáng tạo của mình không phải
là việc làm đơn giản, đặc biệt với đối tượng người học chưa được làm quen, cũng như chưa
thích nghi kịp với phương pháp học mới. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy khả
năng tiếp thu và vận dụng bài học của người học tăng lên khi được học tập chủ động với
những phương pháp giảng dạy hiện đại.
Phương pháp giảng dạy chủ động, hiện đại, được dùng để phân biệt với phương pháp
dạy học bị động, truyền thống. Nếu như ở phương pháp dạy học truyền thống người thầy là
trung tâm của quá trình dạy học thì người học lại là trung tâm của quá trình này ở phương
pháp giảng dạy hiện đại. Tuy nhiên, để sử dụng hiệu quả các phương pháp giảng dạy chủ
động không phải là việc đơn giản. Các phương pháp đó là gì? Sử dụng chúng như thế nào?
Hiệu quả sử dụng đến đâu?... còn là vấn đề đang được tranh luận.
II. Cơ sở lý luận về phương pháp giảng dạy chủ động
1. Sơ lược về phương pháp giảng dạy chủ động
Đã có không ít các tài liệu, công trình nghiên cứu về các phương pháp giảng dạy giúp
người học có thể phát huy tính chủ động, tích cực trong quá trình học tập, như: Phương
pháp học dựa trên vấn đề (Problem based learning), phương pháp động não
(Brainstorming), phương pháp hoạt động nhóm (Group based Learning), phương pháp sắm
vai (Role playing) … Có thể gọi chung là cách giảng dạy chủ động. “Phương pháp giảng
dạy chủ động (Active Teaching) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ
những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của người học”1. Các phương pháp này đã và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước

có được tối đa những dữ
kiện tốt nhất (Osborn,
1963)
2
Chia sẻ theo cặp (Think- - GV nêu vấn đề cần thảo luận, - Cấu trúc giao tiếp
pair- share): cho các sinh quy định thời gian và cách chia - Tư duy suy xét, phản
viên cùng đọc tài liệu hoặc sẻ.
biện.
suy nghĩ về một chủ đề, sau - SV làm việc theo cặp, lắng
đó các sinh viên ngồi bên nghe và trình bày ý kiến, bảo vệ
cạnh nhau có thể trao đổi và phản bác.
với nhau về ý kiến và
kinh nghiệm của mỗi người
một khoảng thời gian nhất
định (khoảng vài phút), sau
đó chia sẻ với
cả lớp (Lyman, 1987)
3
Tổ chức học tập theo nhóm - GV tổ chức lớp học theo nhóm - Kỹ năng làm việc
(Group-based learning)
và chuẩn bị các nhiệm vụ học theo nhóm
tập.
- Kỹ năng giao tiếp
- Mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ
học tập và cùng hợp tác để thực
hiện.
4
Dạy học dựa trên vấn đề
- GV xây dựng “vấn đề” có liên - Xác định và hình
(Problem-based learning)

Nhóm phương pháp giảng dạy giúp sinh viên học qua trải nghiệm (Experiential
learning)
6

Dạy học thông qua làm đồ
án (Project-based learning):
là tổ chức việc dạy và học
thông qua các dự án hay
công trình thực tế (Jones và
cộng sự, 1996)

- GV chuẩn bị nội dung các đồ
án môn học.
- SV được giao thực hiện đồ án
trên cơ sở cá nhân hoặc nhóm.

- Lập giả thiết
- Kỹ năng thiết kế triển khai
- Kỹ năng giao tiếp
bằng viết
- Kỹ năng thuyết trình

7

Nghiên cứu tình
huống (Case study)

- Đề ra các giải pháp
- Ước lượng và phân
tích định tính.


- Kỹ năng mô hình hóa
- Kỹ năng thử nghiệm
khảo sát
- Giao tiếp đồ họa

- Vai trò và trách
nhiệm đối với xã hội
- Nhận biết được bối
cảnh các tổ chức xã
hội.


quyết vấn đề của cộng đồng, áp - Ham tìm hiểu và học
dụng các kiến thức được học.
tập suốt đời.
2. Đặc điểm chung của các phương pháp giảng dạy chủ động.
Mỗi phương pháp giảng dạy chủ động nêu trên đều có những điểm riêng, song nhìn
chung chúng đều có những điểm tương đồng sau:
- Lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực tự học, kết hợp với làm việc tập thể:
Nếu như ở phương pháp giảng dạy truyền thống người thầy đóng vai trò là người cung cấp
kiến thức, người học tiếp nhận kiến thức một cách thụ động thì ở phương pháp giảng dạy
chủ động, người học là người làm chủ tri thức bằng cách chủ động tham gia trong quá trình
học tập dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của người dạy.
Trên cơ sở hướng dẫn của người dạy, người học phải phát huy năng lực tự học, tự
khám phá, chủ động trong hoạt động học tập để có thể tạo thành một thói quen luôn hứng
thú với việc học, coi việc học như là quyền lợi “được học”, hơn là nghĩa vụ “phải học”.
Để có thể tự học hiệu quả thì cần phải có sự kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập
theo nhóm. Bởi rất khó để tích lũy tri thức và nâng cao các kỹ năng sống, làm việc bằng con
đường tự thân. Thông qua sự tương tác với bạn bè, thầy cô, các thành viên có cơ hội để lắng

thông qua việc kết hợp linh hoạt một số phương pháp như: Nêu vấn đề, nêu tình huống,
sắm vai kết hợp hoạt động nhóm để có tiết học sinh động. Được triển khai tại lớp
52NTTS.
1. Cách thức tổ chức
+ Giảng viên xây dựng hệ thống các vấn đề, tình huống, kịch bản có liên quan đến nội
dung của học phần. Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, cách thức tìm và nghiên cứu tài
liệu.
+ Tổ chức, hoặc hướng dẫn sinh viên chia nhóm, và hướng dẫn cách thức hoạt động
nhóm.
+ Cho các nhóm bốc thăm nội dung. Giảng viên hướng dẫn cụ thể cách thức nghiên cứu
nội dung các vấn đề để thiết lập được một bài thuyết trình. Những tình huống, vấn đề phải
gắn với nội dung và bám sát đề cương chi tiết của học phần, cũng như đề cương chi tiết của
từng nội dung vấn đề được giao.
+ Yêu cầu đối với bài thuyết trình là: sẽ không trình bày dưới dạng nêu lý thuyết, mà ở
dạng nêu tình huống, câu hỏi liên quan đến những nội dung lý thuyết yêu cầu. Các tình
huống có vấn đề có thể được đưa ra dưới hình thức sắm vai. Khuyến khích việc đa dạng hóa
các hình thức nêu vấn đề, nêu tình huống, như tổ chức trò chơi, cuộc thi, đóng kịch…
Những câu hỏi, tình huống của nhóm thuyết trình sẽ được gửi trước cho các nhóm, để
các nhóm nghiên cứu và trả lời, đồng thời các nhóm bạn cũng sẽ đặt câu hỏi và gửi trước
câu hỏi cho nhóm thuyết trình để có sự chuẩn bị tốt nhất, tránh tình trạng nhóm thuyết trình
sẽ rơi vào trình trạng thụ động nếu những câu hỏi đi quá xa nội dung được chuẩn bị. Nhóm
thuyết trình sẽ phải chịu trách nhiệm nếu các câu hỏi không được gửi đến trước cho các
nhóm bạn, cũng như các nhóm bạn cũng phải chịu trách nhiệm nếu không có câu hỏi đặt ra
cho nhóm thuyết trình. Yêu cầu này sẽ giúp tất cả các nhóm phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị
về mọi vấn đề của học phần chứ không chỉ tập trung, chú trọng, học tủ với nội dung của
riêng nhóm mình.
+ Đến hạn, các nhóm sẽ được giảng viên hẹn gặp trực tiếp tại văn phòng bộ môn để có
sự hướng dẫn và chỉnh sửa. Nếu nhóm nào không đến gặp trực tiếp sẽ phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về bài làm của nhóm mình. Điều này rất vất vả cho người dạy, tuy nhiên, đối với
học phần Pháp luật đại cương, nếu chỉ hướng dẫn qua email thì rất khó để giảng viên thể

trình. Ngoài điểm hoạt động nhóm, điểm quá trình của người học còn được tác giả đánh giá
bởi các điểm số sau: Điểm kiểm tra giữa kỳ (20%), kiểm tra cuối kỳ (20%), điểm tích cực
trên lớp (20%). Mỗi câu trả lời đúng được giáo viên ghi nhận sẽ được tính 3% điểm quá
trình. Ngoài điểm quá trình, người học vẫn phải đảm bảo yêu cầu của qui chế về bài thi kết
thúc học phần với tỷ trọng 50%. Đánh giá kết thúc học phần sẽ được thực hiện bằng hình
thức vấn đáp kết hợp đánh giá kết quả tự nghiên cứu.
2. Tỷ lệ thời lượng áp dụng (so với thời lượng HP): 60%
3. Những điểm mới so với trước đây
+ Sinh viên, nhóm sinh viên được chủ động về thời gian chuẩn bị vấn đề và nội dung
thuyết trình;
+ Sinh viên được khuyến khích để phát huy tính sáng tạo, chủ động, tích cực trong học
tập.
+ Sự tương tác giữa GV-SV và SV-SV tăng lên;
+ Triệt tiêu cách học thụ động của SV và cách dạy độc thoại của GV.
+ Đảm bảo tính công bằng, công khai trong đánh giá quá trình. Kết hợp giữa đánh giá
của giảng viên với tự đánh giá của sinh viên. Sinh viên tích cực, tham gia có chất lượng có
cơ hội để đánh giá chất lượng và hiệu quả của những thành viên không tích cực hoặc tham
gia không hiệu quả.
4. Hiệu quả mang lại


+ SV phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc học. Đồng thời giúp người học
phát huy được các kỹ năng mềm, như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề,
kỹ năng thuyết trình và các kỹ năng giao tiếp khác.
+ Kiến thức thu được từ học phần PLĐC của SV được nâng cao; SV không chỉ tích lũy
được kiến thức lý thuyết mà còn cả kỹ năng thực hành, vận dụng nội dung học được vào
thực tiễn cuộc sống.
Đánh giá chung về mức độ hài lòng của người học đối với học phần được phản ánh qua
kết quả thu thập thông tin dạy và học đối với cán bộ giảng dạy: 67,57% đánh giá mức độ rất
hài lòng; 29,73% đánh giá mức độ khá hài lòng, chỉ 2,7% là tạm hài lòng; mức độ không hài


Bên cạnh những thành công thì việc ứng dụng phương pháp dạy học chủ động trên
thực tế ở trường ta vẫn gặp một số hạn chế cần có giải pháp khắc phục để có thể đạt được
kết quả tốt hơn nữa. Những hạn chế đó là:
Thứ nhất, để thành công trong cách giảng dạy này, đòi hỏi người học phải có ý thức
học tập cao và sẵn sàng hợp tác trong hoạt động nhóm. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận sinh
viên không thiết tha với học tập, hoặc chỉ đi học để lấy bằng; hoặc bị cha mẹ ép buộc phải
đến trường…thì không thể kì vọng quá nhiều. Bộ phận người học này chỉ học đối phó để
thi.
Thứ hai, khả năng tự học, tự tìm tòi, khám phá của sinh viên còn hạn chế, đặc biệt đối
với sinh viên năm thứ nhất. Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn sinh viên năm thứ nhất cho
rằng, các em không có khả năng tự học, tự nghiên cứu. Do vậy, dẫn đến tình trạng một bộ
phận không nhỏ sinh viên “mất phương hướng” trong việc xác định phương pháp học tập
thích hợp, gây ra tâm lý chán nản trong học tập.
Thứ ba, số lượng sinh viên cho một lớp học quá đông, một lớp học với trên, dưới 90
SV/lớp phổ biến như hiện nay thì khó có thể nói đến việc đạt kết quả cao trong việc đổi
mới.
Thứ tư, hệ thống thư viện hiện nay của trường ta cũng như phần lớn các thư viện của
các trường đại học trong cả nước đang còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
Thứ năm, hoạt động nhóm vốn là một nội dung quan trọng (nếu không nói là quan
trọng nhất) trong đổi mới phương pháp dạy học, nhưng trong thực tế lại gặp khó khăn trong
tổ chức thực hiện mà nguyên nhân lại xuất phát từ việc trang bị và bố trí phòng học không
phù hợp. Hiện nay, hầu như tất cả các phòng học được xếp đầy bàn ghế để có được nhiều
chỗ ngồi nhất, bàn học chủ yếu là 3- 4 chỗ ngồi; cộng thêm có phòng lại có “sáng kiến” cùm
lại với nhau để luôn ngay ngắn thẳng hàng và ít bị hư hỏng; Cách bố trí phòng học như hiện
nay chỉ hích hợp với lối tương tác một chiều từ giáo viên đến sinh viên. Nó hạn chế lối
tương tác đa chiều trong lớp học bao gồm giáo viên - sinh viên, sinh viên - giáo viên, sinh
viên - sinh viên. Cấu trúc phòng học như vậy trở thành rào cản của việc tổ chức các hoạt
động học tập đa dạng trên lớp.
3. Bài học kinh nghiệm

1. Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy - Trung tâm Nghiên Cứu
Cải Tiến Phương Pháp Dạy và Học ĐH -Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc
Gia Tp.HCM
2. Sổ tay Phương pháp giảng dạy và đánh giá - Trường Đại học Nha Trang
3.. />%20thieu%20PP%20giang%20day%20cai%20tien-%20TT%20CEE.pdf
4. />5. />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status