Báo cáo " Bàn về việc đổi mới tên gọi chương trình nội dung môn học luật kinh tế " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
26 - Tạp chí luật học PGS.TS. Lê Hồng Hạnh *
ừ lâu, trong lí luận về pháp luật ở Việt
Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
xung quanh khái niệm ngành luật, nhất là
các ngành luật điều chỉnh các quan hệ kinh
tế. Những quan điểm này trong quá khứ cũng
nh hiện nay chi phối khá nhiều đến chơng
trình, giáo trình giảng dạy và ngay cả hoạt
động lập pháp. Dới ảnh hởng của trờng
phái luật học Xô viết trớc đây cũng nh ảnh
hởng của các quan điểm của Đảng về xây
dựng kinh tế, việc coi luật kinh tế nh là
môn học, ngành học theo m số đào tạo sau
đại học là xu hớng phổ biến. Tuy nhiên, có
thể thấy rằng quan điểm về luật kinh tế, nhất
là việc xác định mối quan hệ giữa nó với luật
thơng mại, luật dân sự có nhiều điểm cần
phải đợc làm rõ. Điều này có ý nghĩa đối
với việc xây dựng chơng trình đào tạo của
Khoa pháp luật kinh tế nói riêng và của
Trờng đại học luật Hà Nội nói chung. Cần
phải làm rõ các khái niệm trên về mặt học
thuật, tạo dần t duy mới và cách tiếp cận
mới đối với chúng. Trên cơ sở của quan niệm
thống nhất về những khái niệm này, chúng ta

việc hoàn thiện chơng trình giảng dạy hay
hệ thống pháp luật. Những định nghĩa gò bó
về ngành luật độc lập, những lí giải cho sự
tồn tại ngành luật độc lập chiếm tỉ lệ không
nhỏ trong chơng trình đào tạo của các
trờng luật, khoa luật ở các nớc XHCN.
T

* Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27

Xét dới góc độ lịch sử thì việc phân chia
hệ thống pháp luật ra thành nhiều ngành luật
khác nhau là hệ quả của sự phát triển của các
quan hệ x hội. Các quan hệ x hội thô sơ, ít
phức tạp có thể đợc điều chỉnh chung bằng
một văn bản pháp luật nh kiểu Bộ luật Hồng
Đức của nớc ta dới triều Lê Thánh Tông
hay Luật Hamurapi của ấn Độ, Luật 12 bảng
của La M. Các văn bản pháp luật này điều
chỉnh nhiều quan hệ x hội khác nhau mà
không có sự phân chia chúng thành những
lĩnh vực cụ thể nh hình sự, dân sự, đất đai
hay hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, sự phát
triển của quan hệ x hội đến thời kì nhất định
đ trở nên đa dạng và phức tạp đến mức khó
có thể điều chỉnh chúng trong một văn bản

trình đào tạo và giáo trình đào tạo luật hiện
nay là không nên dựa quá nhiều vào tiêu chí
ngành luật, nhất là ở những lĩnh vực có nhiều
sự xâm nhập lẫn nhau. Với cách tiếp cận đó,
cần lu ý một số điểm sau đây:
- Không nên tìm cách xây dựng những
định nghĩa về ngành luật và tìm cách lí giải
tính độc lập của nó trong chơng trình đào
tạo. Điều này hầu nh là không cần thiết đối
với việc nâng cao nhận thức và năng lực
chuyên môn của các cử nhân luật trong tơng
lai. Trong thực tế, tất cả các giáo trình luật
của Việt Nam đều có chơng về đối tợng,
phơng pháp điều chỉnh của ngành luật. Nội
dung của các chơng này về cơ bản giống
nhau, chỉ có khác ở tên gọi. Nếu giảm bớt
đợc vấn đề này thì sẽ rút gọn thời gian và
dành nó cho việc lí giải các vấn đề cụ thể hơn.
- Hy coi mỗi lĩnh vực luật nh là môn
học và có thể kết hợp trong đó những vấn đề
vốn dĩ theo quan niệm truyền thống trớc
đây thuộc về ngành luật khác. Sự thoát li
khỏi quan điểm truyền thống về tính bất di
bất dịch của ngành luật độc lập cho phép kết
hợp giới thiệu trong một môn học cụ thể cả
những vấn đề mà nếu đặt trong bối cảnh của
quan điểm truyền thống thuộc về ngành luật
khác. Điều này sẽ dễ mang lại hiệu quả cho
sự tiếp thụ của sinh viên, tạo sự nhất quán
trong việc xem xét các vấn đề cụ thể của

2. Với cách tiếp cận trên, chúng tôi thử
bàn về việc xây dựng chơng trình môn học
luật kinh tế theo tên gọi hiện nay. Trớc hết
cần phân tích và định danh cho môn học luật
kinh tế hiện nay và xây dựng chơng trình
môn học phù hợp với yêu cầu đổi mới
chơng trình đào tạo của Trờng đại học luật
Hà Nội. Để làm đợc điều đó, trớc hết cần
phải phân tích các khái niệm luật kinh tế,
luật thơng mại, luật kinh doanh.
Th ứ nhất, khái niệm luật kinh tế.
Luật kinh tế với t cách là môn học, ngành
luật đợc thừa nhận rộng ri ở nớc ta trong
thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Sự
hình thành và phát triển của luật kinh tế ở
các nớc XHCN và các nớc có khu vực
kinh tế nhà nớc lớn có cơ sở lí luận và thực
tiễn của nó. Tại những nớc này, vai trò chỉ
huy, điều tiết của nhà nớc không chỉ bắt
nguồn từ quyền lực mà bắt nguồn từ vai trò
của chủ sở hữu. Vì vậy, sự cần thiết có công
cụ kết hợp đợc với hai vị thế trên để điều
tiết các hoạt động kinh tế trong x hội là điều
tất yếu. Bắt nguồn từ thực tế này, nhiều chế
định quan trọng điều chỉnh các quan hệ giữa
các tổ chức XHCN đợc gắn với khái niệm
kinh tế nh hợp đồng kinh tế, trọng tài kinh
tế. Tuy nhiên, phải thấy rằng kinh tế là khái
niệm có nội hàm vô cùng rộng. Kinh tế đợc
hiểu là toàn bộ việc sản xuất, phát triển và

không thể thực hiện đợc triệt để vì các quan
hệ dân sự về bản chất cũng là các quan hệ
kinh tế. Quan hệ đất đai, lao động, tài chính,
ngân hàng đều là quan hệ kinh tế. Vì vậy,
khái niệm luật kinh tế dễ gây nhiều vớng
mắc về học thuật và nhận thức về môn học
này. Chính vì vậy, khi đề cập các vấn đề liên
quan đến luật kinh tế, các nhà nghiên cứu,
giảng dạy môn học này đều giới hạn ở cách
hiểu theo nghĩa hẹp.
Thứ hai, là khái niệm Luật kinh doanh.
Khái niệm kinh doanh trong pháp luật Việt
Nam có nội hàm tơng đối rộng. Luật doanh
nghiệp định nghĩa kinh doanh là việc thực
hiện một hay một số công đoạn trong quá
trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay dịch
vụ nhằm thu lợi nhuận. Kinh doanh là khái
niệm có nội hàm rộng đợc sử dụng để chỉ
bất cứ hoạt động nào nhằm kiếm lợi nhuận
hay kiếm sống. Kinh doanh là khái niệm
thuần tuý mang bản chất t, tức là chỉ liên
quan đến hoạt động của cá nhân mà mục
đích là tạo ra lợi nhuận hoặc kiếm sống.
Khái niệm kinh doanh không phản ánh
những lợi ích công, sự chi phối của các yếu
tố công, ví dụ, khái niệm kinh doanh
(business)
(1)
trong pháp luật Hoa Kì, trong
pháp luật Singapo. Vì khái niệm kinh doanh

(trade) và dùng theo nghĩa hẹp (commerce).
Nếu dùng khái niệm thơng mại theo nghĩa hẹp
thì điều này có nghĩa chúng ta sử dụng khái
niệm thơng mại theo cách tiếp cận của Bộ
luật thơng mại Pháp 1807. Luật thơng mại
của Việt Nam tiếp cận khái niệm thơng mại
theo nghĩa hẹp này. Nếu tiếp cận khái niệm
thơng mại theo nghĩa rộng thì nó có nội
hàm lớn hơn rất nhiều so với khái niệm
commerce. Hiện nay, nhiều nớc có bộ luật
thơng mại cũng đ mở rộng phạm vi điều
chỉnh của bộ luật này. Bộ luật thơng mại
Pháp hiện hành qua nhiều lần bổ sung, sửa
đổi đ thay đổi cơ bản khái niệm thơng mại
mà Napoleon dùng khi soạn thảo Bộ luật
thơng mại (Code de Commerce) năm năm
1807. ở Mĩ khái niệm thơng mại (trade)
đợc tiếp cận theo nghĩa rộng. Quan điểm về nghiên cứu - trao đổi
30 - Tạp chí luật học

thơng mại của Mĩ ảnh hởng không ít tới
cấu trúc nội dung và cơ cấu của các thoả
thuận trong phạm vi Tổ chức thơng mại thế
giới (WTO). Từ điển luật học của Hoa Kì
cũng định nghĩa thơng mại (trade) là: Sự
trao đổi, mua bán hàng hoá, tài sản hay bất
cứ hiện vật nào; giao thông, vận tải, thông tin

của luật kinh tế.
- Cần tạo ra sự tơng thích giữa các khái
niệm hiện đang dần đợc chuyển hoá vào
pháp luật nớc ta do việc Việt Nam kí kết
hoặc phê chuẩn các hiệp định thơng mại
song phơng và đa phơng. Nh chúng ta
biết, với việc hình thành tổ chức thơng mại
quốc tế (WTO) mà nền tảng là các hiệp định
GATT, GATS, TRIM, TRIPS v.v. nội dung
của khái niệm thơng mại đ đợc mở rộng
theo cách tiếp cận của UCITRAL. Nội dung
của nó bao gồm cả đầu t, sở hữu trí tuệ,
thơng mại hàng hoá, thơng mại dịch vụ
Hiệp định thơng mại kí giữa Việt Nam và
Hoa Kì cũng tiếp cận khái niệm thơng mại
theo hớng này. Tuy nhiên, do cơ chế xây
dựng pháp luật và thực trạng pháp luật hiện
nay, việc sửa đổi Luật thơng mại theo
hớng mở rộng phạm vi của khái niệm này
khó có thể thực hiện ngay đợc. Vì vậy, các
cơ sở đào tạo luật nên chuẩn bị cho xu hớng
tơng thích hoá khái niệm thơng mại. Nói
cách khác, các sơ sở đào tạo luật cần có
những bớc đi tiên phong.
- Việc đổi tên luật kinh tế thành luật
thơng mại còn có tác dụng làm cho nó phản
ánh đúng hơn thực tế kết cấu chơng trình
tổng thể của Khoa pháp luật kinh tế.
Tuy nhiên, việc đổi tên chỉ là vấn đề định
danh. Quan trọng hơn là xác định cơ cấu và

- Tăng cờng đợc tính định hớng cho
sinh viên theo quan điểm về phát triển
(Growth Theory) trong lí thuyết giảng dạy
đại học. Theo học thuyết này, giảng viên
phải tìm cách hớng sinh viên tự hoàn thiện
kiến thức của mình về luật thơng mại một
cách chủ động, tự hoàn thiện cho mình cách
tiếp cận và xử lí các vấn đề phát sinh từ thực
tiễn thơng mại.
Cơ cấu môn luật thơng mại có thể xác
định nh sau:
a. Về thời lợng: Luật thơng mại có
thể dạy với thời lợng 165-180 tiết, tơng
đơng với 13-15 học trình theo cách xác
định chơng trình hiện nay. Thời lợng
này so với tổng số thời lợng cho các phần
học trong chơng trình trớc đây đ giảm
rất nhiều. Môn luật kinh tế theo chơng
trình hiện hành của Trờng đại học luật
Hà Nội là 180 tiết cha kể 50 tiết giảng về
Luật thơng mại năm 1999.
b. Nội dung môn học. Luật thơng mại
trong chơng trình đào tạo của Trờng đại
học luật Hà Nội, theo quan điểm của chúng
tôi, cần bao gồm các vấn đề sau đây:
- Pháp luật về đầu t và khái quát về các
loại hình doanh nghiệp;
- Luật công ti;
- Hợp đồng thơng mại - Những vấn đề lí luận;
- Pháp luật về thơng mại hàng hoá;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status