vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài của lực lượng công an nhân dân việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI

NGUYN VNH DIN

VấN Đề THựC THI QUYềN Sở HữU TRí TUệ Có YếU Tố
NƯớC NGOàI CủA LựC LƯợNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIệT NAM
TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY

LUN N TIN S LUT HC

H NI - 2014


B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI

NGUYN VNH DIN

VấN Đề THựC THI QUYềN Sở HữU TRí TUệ Có YếU Tố
NƯớC NGOàI CủA LựC LƯợNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIệT NAM
TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY

CHUYấN NGNH: LUT QUC T
M S: 62 38 01 08

LUN N TIN S LUT HC

NGI HNG DN:


1.1

Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới

06

1.2

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

11

1.3

Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài Luận án

19

Chương 2

NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU 26
TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

2.1

Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu 26
trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam


MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ 132
THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG
AN NHÂN DÂN

4.1

Dự báo về tình hình quốc tế và trong nước liên quan đến thực 132
thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của
lực lượng Công an nhân dân

4.2

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở 144
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng
Công an nhân dân
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC
GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

164


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANQG
ANND
BLDS
BLTTDS
BLHS

Bộ luật Tố tụng hình sự
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Công an nhân dân
Cảnh sát nhân dân
Cơ quan Hải quan
Điều ước quốc tế
Nhà xuất bản
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Quyền tác giả
Quyền liên quan
Quyền sở hữu công nghiệp
Quyền đối với giống cây trồng
Quản lý thị trường
Sở hữu trí tuệ
Sở hữu công nghiệp
Tổ chức Thương mại thế giới
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội
Thành phố Hồ Chí Minh
Trật tự an toàn xã hội
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
Văn hóa, Thể thao và Du lịch


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Luận án
Trong tác phẩm “Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”

2
tế mà Việt Nam là thành viên là việc làm cấp bách” [60]. Nghị quyết số 20NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về Phát triển khoa
học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, cũng khẳng
định: “Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn
và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả
cho việc vận hành thị trường khoa học và công nghệ. Có chế tài xử lý nghiêm các
vi phạm pháp luật trong giao dịch, mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và
công nghệ…” [62].
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực SHTT, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan, như: Bộ luật Dân sự (BLDS),
Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và
Công nghệ, Luật Hải quan, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự
(BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Xử lý vi phạm hành chính...
Đồng thời, nước ta cũng ký kết và tham gia vào nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT) về
bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Ngoài ra, Nhà nước cũng chú trọng công tác giáo
dục, tuyên truyền pháp luật, thành lập các cơ quan chuyên trách về SHTT và áp
dụng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quyền
SHTT… Tuy nhiên, trong thực tiễn, tình hình xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam vẫn chưa được kiểm soát triệt để,
hành vi xâm phạm quyền tác giả (QTG), quyền liên quan (QLQ), quyền sở hữu
công nghiệp (QSHCN) và quyền đối với giống cây trồng (QĐVGCT) vẫn diễn ra
thường xuyên và có xu hướng ngày càng phức tạp, gây thiệt hại trực tiếp đến lợi ích
của chủ thể quyền SHTT, ảnh hưởng đến ANQG, TTATXH và làm giảm sút lòng
tin của đối tác nước ngoài khi đầu tư vào thị trường Việt Nam.
Là một cán bộ công tác trong ngành Công an, tác giả nhận thức rằng: vấn đề
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam liên quan trực tiếp đến chức
năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân (CAND); đây là lực lượng nòng cốt
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà lực

- Về phạm vi nghiên cứu:
Nội hàm của khái niệm thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài khá phức
tạp, nhưng trong khuôn khổ của Luận án, tác giả chỉ tập trung:
+ Nghiên cứu những hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thông qua việc áp dụng các biện pháp hành
chính và hình sự theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Việc áp dụng


4
biện pháp dân sự và các biện pháp nghiệp vụ khác của lực lượng CAND không thuộc
phạm vi nghiên cứu của Luận án này.
+ Địa bàn nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở một số địa
phương được chọn tiêu biểu, như: Thành phố Hà Nội (TPHN), Thành phố Hồ Chí
Minh (TPHCM), Hải Phòng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng,
Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu.
+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2014, đặc biệt từ sau khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của Luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực liên quan đến đề tài Luận án.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể, như: phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội
học, lịch sử.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Làm rõ thêm nội hàm khái niệm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện lý
luận khoa học pháp lý ở nước ta về lĩnh vực đã nêu;
- Làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND và yêu

- Chương 4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu
trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân.


6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới
Quyền SHTT và thực thi quyền SHTT luôn là vấn đề nóng hổi, được đặc
biệt quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Bill Gates, Chủ tịch tập đoàn công nghệ
thông tin hàng đầu thế giới - Microsof, từng phát biểu: “Cuộc đấu tranh về quyền
sở hữu trí tuệ trong tương lai đã bắt đầu” [96, tr.5].
Cho đến nay đã có hàng trăm công trình, tác phẩm của nước ngoài nghiên
cứu về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT. Trong phạm vi Luận án này, tác giả
chỉ xin nêu một số công trình, tác phẩm tiêu biểu như sau:
- Cuốn chuyên khảo “Luật sở hữu trí tuệ” của T.Hart và L.Tina được Công
ty Macmillan Press Ltd phát hành tại London năm 1997;
Cuốn chuyên khảo này không chỉ giới thiệu các vấn đề lý luận về quyền
SHTT đối với phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại, QTG mà còn hướng dẫn
cả cách thức bảo vệ quyền SHTT, thực thi quyền SHTT, trong đó đặc biệt nhấn
mạnh đến biện pháp hành chính và biện pháp hình sự kèm theo các chế tài nghiêm
khắc đối với việc vi phạm các quyền đó. Tuy nhiên, cuốn sách cũng khuyến cáo
chủ sở hữu quyền SHTT nên chủ động bảo vệ lợi ích của mình bằng cách tự bảo
vệ, để vừa mang tính chủ động, vừa tránh tình trạng “quá tải” cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp về quyền SHTT.
- Cuốn chuyên khảo “Hệ thống thương mại toàn cầu” của Hoekman,
Bernard, do Viện nghiên cứu Tauris phát hành tại New York vào năm 2002;
Trong nội dung cuốn chuyên khảo, tác giả đã phân tích các quy định của
Hiệp định TRIPS/WTO, trong đó có phần thực thi quyền SHTT và các biện pháp

biệt chức năng và giá trị quảng cáo của từng hãng và tập đoàn trong hoạt động kinh
doanh, đánh giá điểm giao thoa giữa pháp luật về SHTT với pháp luật về cạnh tranh
của các nước. Thông qua tác phẩm này, người đọc sẽ học hỏi được kinh nghiệm
của các nước trong thực thi quyền SHTT, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp
thực thi quyền SHTT, quan hệ tương tác giữa thực thi quyền SHTT và pháp luật về
cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển song song, không trùng lặp và phát triển tương hỗ
lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật, thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển
một cách toàn diện.
- Cuốn sách “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ” của Giáo sư Michael Blakeney
thuộc Viện nghiên cứu Queen Mary, do trường Đại học London xuất bản tại
London năm 2008;


8
Tác giả ngoài việc giới thiệu khá cụ thể nội dung pháp luật về SHTT của một
số nước như Anh, Mỹ, Trung Quốc…, còn có những phân tích các hình thức thực
thi quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS (về nghĩa vụ thực thi chung
của tất cả các nước thành viên; thủ tục, chế tài dân sự và hành chính dành cho các
chủ thể vi phạm pháp luật về quyền SHTT; quy định thủ tục và chế tài hình sự
trong trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm bản quyền ở quy mô
thương mại; quy định chế độ kiểm soát biên giới đối với hàng hóa giả mạo
SHTT…).
- Cuốn sách “Sở hữu trí tuệ và chiến lược cạnh tranh trong thế kỷ 21” của
tác giả Shahid Alikhan, Raghunath Mashelkar do NXB Kluwer Law International
phát hành tại The Hague năm 2004;
Nội dung cuốn sách giới thiệu về các vấn đề lý luận chung về quyền SHTT
và thực thi quyền SHTT; toàn cầu hoá chiến lược phát triển kinh tế quốc gia liên
quan đến SHTT và vấn đề thực thi quyền SHTT; bảo vệ di sản văn hoá; tri thức
truyền thống và hiện đại; văn hoá dân gian và phát triển kinh tế, xã hội bền vững.
Ngoài ra, sách còn nêu rõ tầm quan trọng của thực thi quyền SHTT đối với sự cạnh

SHTT. Nội dung cuốn sách cho người đọc thấy tầm quan trọng của việc nâng cao ý
thức về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo hộ quyền SHTT, gợi mở những ý tưởng về
thực thi quyền SHTT liên quan đến công nghiệp an ninh, quốc phòng, nhằm giữ
vững ANQG và bảo đảm TTATXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Trang thông tin điện tử về SHTT của khối ASEAN (http://www.
aseanip.org) giới thiệu hệ thống cơ quan thực thi quyền SHTT ở các nước trong
khu vực. Theo đó, cơ quan chuyên trách thực thi quyền SHTT ở các nước không
giống nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Chẳng hạn: Brunei
Darussalam có những cơ quan thực thi quyền SHTT là: Cảnh sát, Hải quan, Cục
Thuế, Phòng Tư pháp hình sự của Tổng Chưởng lý; ở Campuchia có: Ủy ban bản
quyền và vi phạm bản quyền, Cảnh sát, Hải quan, Tòa án SHTT; ở Indonesia, có:
Tòa án tối cao, Tổng hội Luật sư, Cảnh sát, Hải quan (thuộc Bộ Tài chính)…
- Trang thông tin điện tử về thực thi quyền SHTT của các nước châu Âu
(http://www.ec.europa.eu);
Vấn đề thực thi quyền SHTT cũng được Ủy ban châu Âu (EC) đặc biệt quan
tâm. Từ năm 2004, EC đã ban hành Chỉ thị về việc thực thi QTG và QLQ, nhãn
hiệu hàng hóa, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, sáng chế; đồng thời yêu cầu
tất cả các nước thành viên áp dụng biện pháp khắc phục và xử phạt đối với những
người tham gia sản xuất, tiêu thụ hàng giả, vi phạm bản quyền để tạo ra một sân
chơi bình đẳng cho chủ sở hữu quyền SHTT trong khối Liên minh Châu Âu (EU).
Để thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả, EC tìm kiếm sự hợp tác mạnh mẽ giữa


10
các cấp hành chính ở mọi quốc gia, kêu gọi thành lập một Đài quan sát Châu Âu về
hàng giả và vi phạm bản quyền. Đài quan sát có chức năng như một trung tâm thu
thập, theo dõi và báo cáo thông tin về thực thi quyền SHTT, góp phần nâng cao
kiến thức của cộng đồng về tính nguy hiểm của hàng giả và vi phạm bản quyền…
Tóm lại, qua tìm hiểu các công trình, tác phẩm nghiên cứu về quyền SHTT
và thực thi quyền SHTT ở các nước trên thế giới cho thấy: từ lâu các nước đã xây

nào đề cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của Luận án. Sở dĩ có hiện tượng này là
vì, nội dung đề tài liên quan đến hoạt động mang tính nội bộ của ngành Công an,
mà không phải phương tiện thông tin nào hay tác giả nào cũng có thể tiếp cận được.
Bởi vậy, quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Luận án, ngoài việc kế thừa những
kiến thức của các công trình, tác phẩm trên đây, tác giả cũng cần phải chú ý tiếp tục
bổ sung, khai thác những điểm mới, mang tính đặc thù về thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND để hoàn thành nhiệm vụ
nghiên cứu của Luận án.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về thực thi quyền SHTT
nói chung, thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài của lực lượng CAND có liên
quan đến đề tài Luận án cơ bản chưa nhiều. Tuy vậy, có một số công trình sau đây
đáng chú ý:
- Cuốn chuyên khảo“Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề
lý luận và thực tiễn” của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh và ThS. Đinh Thị Mai Hương,
NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2004;
Cuốn chuyên khảo có nội dung khá đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn
trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam, bao gồm các vấn đề: thực trạng
bảo hộ và thực thi quyền SHTT; những yêu cầu hoàn thiện đối với các quy định
pháp luật dân sự liên quan đến quyền SHTT trong quá trình chủ động hội nhập
quốc tế; kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan tới quyền SHTT…
- Cuốn chuyên khảo “Quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Lê Nết, NXB Đại
học Quốc gia TPHCM xuất bản năm 2005;
Nội dung chuyên khảo đề cập đến quyền SHTT dưới góc độ của một quốc
gia đang phát triển, phân tích các mặt thuận lợi, khó khăn của việc bảo hộ và thực
thi quyền SHTT tại Việt Nam, cam kết quốc tế mà Việt Nam cần thực hiện trong
bảo hộ quyền SHTT. Tác giả cũng phân tích việc thực thi quyền SHTT về từng đối
tượng cụ thể, những khó khăn chủ quan và khách quan trong hoạt động thực thi,
đồng thời đề ra những kiến nghị nhằm đưa đến một hệ thống cơ quan thực thi


nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực kinh tế trọng
điểm ở nước ta sau khi gia nhập WTO.


13
- Cuốn chuyên khảo “Tư pháp quốc tế Việt Nam, quan hệ dân sự, lao động,
thương mại có yếu tố nước ngoài” của TS. Đỗ Văn Đại, PGS.TS. Mai Hồng Quỳ,
NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2010;
Nội dung cuốn chuyên khảo đề cập đến ba vấn đề lớn là: quan hệ lao động,
quan hệ dân sự và quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Bằng việc
đi sâu phân tích quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến ba lĩnh vực nói trên,
các tác giả đưa ra luận giải về các vấn đề: xung đột thẩm quyền, xung đột pháp luật,
công nhận và cho thi hành quyết định của Tòa án hay Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp các thông tin về pháp luật nước ngoài để
người đọc tham khảo, so sánh khi nghiên cứu về pháp luật Việt Nam. Mặc dù nội
dung công trình này không trực tiếp đề cập đến thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài, nhưng thông qua khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
mà các tác giả bàn luận, có thể vận dụng bổ sung vào phần lý luận về thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo
hộ, đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của
Trường Đại học Luật Hà Nội, thực hiện năm 2006;
Nội dung cuốn kỷ yếu này đăng tải các bài viết của các tác giả là những nhà
khoa học, những cán bộ làm công tác thực tiễn về thực thi quyền SHTT trên địa bàn
TPHN. Khi tham gia hội thảo, các tác giả đã thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá thực
trạng vi phạm pháp luật về SHTT, đặc biệt trong lĩnh vực QTG, QSHCN ở nước ta;
đồng thời các tác giả cũng chỉ rõ thực trạng công tác thực thi pháp luật về SHTT của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó đưa ra các giải pháp về đẩy mạnh thực
thi quyền SHTT trong những năm tiếp theo.
- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Anh Vũ, thực hiện tại
Học viện ANND năm 2007;
Tác giả đã trình bày một số vấn đề cơ bản về: quyền SHTT và QTG; quản lý
nhà nước về xuất bản; chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND trong quản lý
nhà nước về xuất bản; thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản ở Việt
Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về hậu quả của việc in lậu và xuất bản sách là
các tác phẩm có nội dung xâm hại đến chủ quyền, ANQG và TTATXH ở Việt
Nam; thực trạng công tác của lực lượng ANND về thực thi quyền SHTT trong lĩnh
vực xuất bản. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của lực lượng ANND trong quản lý nhà nước về xuất bản, đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực xuất bản.


15
- Luận án Tiến sĩ “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và trách nhiệm của cơ
quan Công an - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Bá Ngừng, thực hiện
tại Học viện ANND năm 2008;
Tác giả đã trình bày những kiến thức lý luận cơ bản nhất về QSHCN và các
biện pháp bảo vệ QSHCN; cơ sở pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan
Công an trong bảo vệ và thực thi QSHCN. Bên cạnh việc khảo sát, đánh giá về thực
trạng vi phạm pháp luật đối với QSHCN, tác giả đã đưa ra những nhận xét về các ưu
điểm, hạn chế của công tác bảo vệ và thực thi QSHCN mà cơ quan Công an đã tiến
hành; trên cơ sở dự báo về tình hình vi phạm QSHCN, tác giả đã đưa ra những giải
pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ và thực thi QSHCN của cơ quan
Công an trong những năm tiếp theo.
- Luận văn Thạc sỹ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi
Thị Dung Huyền, thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội năm 2010;
Tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở cơ sở lý luận và thực
tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ và thực thi quyền SHTT tại Tòa án nhân

nêu trên. Thời gian nghiên cứu, được đề cập đến từ 2000 đến 2007.
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong điều kiện
Việt Nam là thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh”, do
ThS Nguyễn Vĩnh Diện làm chủ nhiệm, thực hiện tại Học viện ANND năm 2008;
Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề có liên quan đến quyền
SHTT và thực thi quyền SHTT, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền
SHTT và thực thi quyền SHTT; các biện pháp thực thi quyền SHTT; mối liên hệ
giữa vấn đề thực thi quyền SHTT với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND;
thực trạng pháp luật và thực tiễn công tác thực thi quyền SHTT, công tác đấu tranh
phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT của lực lượng ANND; dự báo tình
hình vi phạm pháp luật về SHTT trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO và
những giải pháp tăng cường công tác thực thi quyền SHTT của lực lượng ANND
trong tình hình mới…
- Bài viết “Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp
luật về quyền tác giả ở Việt Nam” của Trần Văn Nam, Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn
Thị Thanh Thủy, đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 197 (II) năm 2013;
Trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra những đánh giá tổng quan đối với
việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về QTG ở Việt Nam; nhìn nhận về những
điểm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về QTG và những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó; bài viết cũng nêu lên những giải pháp về hoàn thiện pháp luật về
thực thi QTG. Những giải pháp được các tác giả nêu lên, như: cần ban hành thêm


17
các văn bản dưới luật về QTG, sửa đổi Luật SHTT (Phần QTG), khắc phục những
bất cập khác về thực thi QTG và QLQ, đề xuất xây dựng Luật thực thi QTG…
Ngoài ra, bài viết còn đề cập một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy thực thi
QTG và QLQ ở nước ta.
- Bài viết “Tác hại của hàng giả và dấu hiệu xác định hàng giả trong điều
tra phám phá tội phạm” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, đăng trên Tạp chí Cảnh sát

các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước và của nước ngoài) đang sao chép kiểu
dáng của các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng của các doanh nghiệp châu Âu
và chi nhánh tại Việt Nam. Với việc nghiên cứu cuốn sách nói trên, giúp cho Nhà
nước ta có sự nhìn nhận khách quan về tình hình thực thi quyền SHTT và đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam để có sự điều chỉnh hợp lý về chính sách, pháp luật, nhằm
tạo ra sự cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam những năm tiếp theo.
- Phát biểu tại buổi lễ triển khai chiến dịch truyền tải thông điệp về SHTT
nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT,
được tổ chức tại TPHCM ngày 11/10/2012, ông David Shear - Đại sứ Hoa Kỳ tại
Việt Nam đã nhấn mạnh về vai trò của thực thi quyền SHTT đối với mọi quốc gia
trên thế giới, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nền kinh tế đất nước trong
hội nhập quốc tế. Đối với Việt Nam, mặc dù không đưa ra các số liệu thống kê về
tình hình xâm phạm quyền SHTT, nhưng nội dung bài phát biểu đã thể hiện tình
trạng đáng báo động về vấn đề thực thi quyền SHTT ở nước ta và đặt ra trách
nhiệm của các lực lượng chức năng đối với vấn đề nói trên. Ông David Shear
khẳng định:“Việt Nam muốn cất cánh, thì cần phải tuyên chiến với nạn vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ” [93].
- Bài viết “Một số vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay”
của TS. Hoàng Văn Hoàn, đăng trên trang thông tin điện tử của Tạp chí Thương
mại (http://www.tapchithuongmai.vn).
Tác giả đã khái lược về một số khái niệm cơ bản liên quan đến SHTT, như:
tài sản trí tuệ, chủ sở hữu trí tuệ, quyền SHTT… Ngoài ra, tác giả còn nêu các hình
thức phổ biến của quyền SHTT bao gồm: bản quyền, thương hiệu, bằng sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại…được pháp luật công
nhận, theo đó những chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền khai thác và sử dụng
những tài sản nói trên. Tác giả cho rằng, quyền SHTT mang tính lịch sử và một tất
yếu khách quan đã được thừa nhận. Cũng như các quyền cơ bản khác về sở hữu nói
chung, các chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền đối với các tài sản trí tuệ đã
được công nhận trong một khoảng thời gian nhất định. Bên cạnh đó, tác giả cũng


Cả thế giới đang bước vào thế kỷ thứ XXI. Chưa bao giờ vấn đề khan hiếm
tài nguyên thiên nhiên và thảm họa môi trường lại được đặt ra cấp bách như hiện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status