MỤC LỤC
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BPTT
BCS
GDGT
HIV/AIDS
KHHGĐ
NPT
QHTD
SAVY
Biện pháp tránh thai
Bao cao su
Giáo dục giới tính
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
Kế hoạch hóa gia đình
Nạo phá thai
Quan hệ tình dục
Survey Assessment of Vietnamese Youth - Điều tra quốc gia về
SKSS
STIs
VTN và thanh niên Việt Nam
Sức khỏe sinh sản
Sexually Transmitted Infections - Các bệnh lây truyền qua
tiếp từ trẻ em thành người lớn, được đánh dấu bằng những thay đổi chưa từng có
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, bao gồm cả thể chất, tâm lí và
nhân cách. Đồng thời đây cũng là lứa tuổi rất nhạy cảm và có nhiều đột biến nó chịu sự tác động hết sức mạnh mẽ từ nhiều phía như gia đình, nhà trường và
xã hội. Những vấn đề sức khỏe của VTN có ảnh hưởng và để lại hậu quả nặng
nề cho cả cuộc đời các em về sau. Vì vậy, yếu tố sức khỏe của nhóm người trẻ
tuổi này là yếu tố then chốt cần đầu tư vì sự tiến bộ và phát triển kinh tế - xã hội
một cách toàn diện. Tuy nhiên điều chỉnh để thích ứng với sự phát triển về thể
chất và bảo vệ sức khỏe sinh sản là những thách thức lớn đối với các em.
Do VTN hiện nay bước vào tuổi dậy thì sớm hơn các thế hệ trước và cũng
do quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, do sự thay đổi về lối sống, sự du nhập
tràn lan chưa kiểm soát được các văn hóa phẩm từ các nước phương Tây và các
khu vực khác trên thế giới đã góp phần thúc đẩy những đảo lộn về chuẩn mực
giá trị và chuẩn mực về đạo đức trong bước chuyển đổi nên VTN đang phải chịu
những tác động cũng như áp lực hết sức mạnh mẽ từ môi trường xã hội, nhất là
khu vực thành thị.
Trong khi đó, vấn đề GDGT cho đối tượng VTN hầu như chưa được các
bậc cha mẹ cũng như các bậc giáo dục, các nhà quản lí xã hội quan tâm đúng
mức. Không ít cha mẹ còn cho rằng GDGT cho các em là “vẽ đường cho hươu
chạy”, còn các nhà giáo dục thì lo ngại rằng đó là vấn đề tế nhị, riêng tư, không
“nghiêm túc”, rất khó trình bày trên bục giảng…Vì những lẽ đó, cho đến nay
3
chúng ta vẫn chưa có một chiến lược, một giáo trình quốc gia chính thức cung
cấp kiến thức về vấn đề giới tính cho lứa tuổi này.
MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
2.
Cung cấp kiến thức, kĩ năng, thực hành về tình bạn, tình yêu, tuổi dậy thì,
4
PHẦN NỘI DUNG
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Vị thành niên:
•
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO lứa tuổi VTN được giới hạn trong độ tuổi
từ 10-19 tuổi, là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ sang người lớn. Đây là
một giai đoạn đặc biệt, duy nhất của cuộc sống có một loạt những thay đổi, bao
gồm: sự hoàn thiện về thể chất, sự biến đổi, điều chỉnh tâm lý và sự biến đổi các
quan hệ xã hội nhằm đáp ứng các nhiệm vụ phát triển. Đây cũng là giai đoạn
nảy simh nhiều rỗi nhiễu tâm lý nhất so với lứa tuổi khác.
Các nhà nghiên cứu sinh lý cũng đã phân chia lứa tuổi này thành 3 giai đoạn:
-
Giai đoạn VTN sớm, tương đương với tuổi thiếu niên sớm (nam: 12-14 tuổi,
-
nữ: 10-12 tuổi).
Giai đoạn VTN giữa, tương đương với tuổi thiếu niên lớn (nam: từ 14-16
-
tuổi, nữ: 13-16 tuổi).
Giai đoạn VTN cuối, tương đương với lứa tuổi thanh niên (nam: từ 17-19
tuổi, nữ: từ 16-18 tuổi).
Education Council of the US), GDGT nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về sự
phát triển giới tính, sự sinh sản ở người và những hành vi tình dục lành mạnh ở
thanh thiếu niên.
•
Sức khỏe sinh sản (SKSS):
Tại hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cai - rô (Ai Cập) năm 1994
và hội nghị quốc tế về phụ nữ năm 1995 tại Trung Quốc, SKSS được định nghĩa
là: “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất và xã
hội chứ không phải là không có bệnh tật, không tàn phế trong mọi lĩnh vực có
liên quan đến hệ thống chức năng và quá trình sinh sản”
Như vậy, SKSS không chỉ là chuyện sinh con khỏe mạnh mà còn là một
cuộc sống tình dục an toàn, hòa hợp, có khả năng sinh đẻ, tự quyết định thời
điểm sinh đẻ hợp lý với số con mong muốn, có quyền nhận thông tin về SKSS,
quyền tiếp nhận với những phương tiện, dịch vụ chăm sóc SKSS và tự do lựa
chọn dịch vụ phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và sức khỏe con người.
Sau Hội nghị Cairo, SKSS bao gồm 6 nội dung chính có liên quan mật thiết
với nhau, đó là: SKSS, KHHGĐ, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh,
bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục. Nhưng mỗi
khu vực, mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên của riêng mình, nên các tổ
chức tham gia vào việc thực hiện chương trình SKSS đã cụ thể hoá 10 nội dung
như sau: (1) Làm mẹ an toàn. (2) KHHGĐ. (3) NPT (giảm NPT ngoài ý muốn).
(4) Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. (5) Các STIs. (6) Giáo dục tình dục. (7)
6
Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục. (8) Vô sinh (giúp đỡ các cặp vô
sinh, cá nhân vô sinh). (9) Sức khỏe VTN. (10) Giáo dục truyền thông về SKSS,
KHHGĐ.
và toàn cầu. Rất nhiều vấn đề mà VTN phải quan tâm có mối liên hệ qua lại với
7
nhau và cần phải được xem xét và giải quyết một cách toàn diện. Tuy nhiên,
điều chỉnh để thích ứng với sự phát triển về thể chất và bảo vệ SKSS là những
thách thức rất lớn đối với họ. Chính vì vậy, GDGT cho đối tượng VTN là một
vấn đề vô cùng cấp thiết.
Các vấn đề về GDGT cho VTN cần được quan tâm bao gồm kiến thức về
bộ phận sinh dục và dậy thì, quan hệ tình dục (an toàn và không an toàn) và các
bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), hiểu biết về tránh thai và các BPTT,
hôn nhân, mang thai và sinh con ở lứa tuổi VTN, phá thai, nhu cầu của VTN về
các thông tin liên quan đến GDGT và chương trình GDGT cho VTN hiện nay.
2.2.
Kiến thức về bộ phận sinh dục và dậy thì
Theo kết quả nghiên cứu "Khảo sát VTN và biến đổi xã hội" do Viện Xã
hội học tiến hành năm 1999, khi trả lời câu hỏi "Thời gian nào của chu kỳ kinh
nguyệt là thời gian dễ thụ thai nhất?" chỉ có 13% em gái và 7% em trai trả lời
đúng (đó là vào thời điểm khoảng giữa 2 tuần trước khi có kinh). Còn theo một
nghiên cứu tại huyện Chí Linh, Hải Dương, về kiến thức biết ít nhất 1 dấu hiệu
dậy thì của nữ thì có 60, 3% VTN liệt kê được.
Theo một nghiên cứu của Bộ Y tế, có đến 50% VTN chưa có tri thức đầy
đủ về sinh lý tuổi dậy thì và các vấn đề tình dục, mang thai, 90% không biết
cách áp dụng một biện pháp phòng tránh thai nào. Trong khi đó, tình trạng quan
hệ tình dục trước hôn nhân ở lứa tuổi này ngày một tăng. Điều đó dẫn đến sự gia
tăng các bệnh lây qua đường tình dục, các biến chứng liên quan đến NPT (nhiễm
trùng, tổn thương đường sinh dục, vô sinh, tử vong...).
Xã hội ngày càng phát triển, VTN càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các
Ở Thái Lan, từ những năm 70 người ta đã nhận thấy rằng hoạt động tình
dục ở thanh thiếu niên ngày càng tăng, trên 60% VTN nam có QHTD với bạn
gái hoặc gái mại dâm, một số mới chỉ 13 tuổi. Số VTN nữ tuy có hoạt động tình
dục ít hơn nhưng số em gái trở thành các bà mẹ trẻ đã tăng lên. Hậu quả của
hoạt động tình dục sớm là STIs và thai nghén không mong muốn không ngừng
tăng lên. Ở Bangladesh 25% VTN nữ 14 tuổi và 34% VTN nữ ở Nepan đã kết
hôn sớm, mặc dù tuổi kết hôn hợp pháp của hai nước này là 16, do đó tai biến do
sinh đẻ của VTN cũng tăng lên. Còn trong một công trình điều tra kéo dài 3 năm
về hành vi tình dục ở thanh thiếu niên ở Hà Lan, có khoảng 42% nam và 33%
nữ ở tuổi chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục. Trong số đó, hơn 70% cả
nam lẫn nữ đã biết sử dụng một phương pháp tránh thai ngay từ lần QHTD đầu
9
tiên. BCS là biện pháp được sử dụng nhiều nhất, chiếm 40% vừa đề phòng tránh
thai vừa để phòng lây nhiễm STIs, HIV/AIDS, 20% dùng viên tránh thai và 10%
dùng phối hợp cả 2 phương pháp trên (Theo tài liệu của CGFED). Báo cáo tình
hình trẻ em năm 2011 của UNICEF có nhan đề “Tuổi VTN – Tuổi của những cơ
hội” nhấn mạnh vào tính cấp thiết của việc đầu tư cho trẻ VTN, nhằm phá vỡ
vòng luẩn quẩn của đói nghèo và bất bình đẳng. Bản báo cáo đã chỉ ra rằng, trẻ
VTN khắp thế giới ngày nay khỏe mạnh hơn so với trước đây. Tuy nhiên, rất
nhiều trẻ VTN khắp thế giới đang có hành vi tham gia QHTD. Tại các quốc gia
đang phát triển, không kể Trung Quốc, khoảng 11% nữ giới và 6% nam giới ở
độ tuổi 15-19 đã từng có QHTD trước khi 15 tuổi. Một tổng kết của viện
Guttmacher, Mỹ đã chỉ ra rằng có ít nhất ba phần tư VTN/TN ở các quốc gia
phát triển có QHTD trước hôn nhân. Ở Mỹ, VTN hầu như có quan hệ trước tuổi
15 và có hơn 1 bạn tình trong vòng 1 năm. Riêng ở Việt Nam, theo SAVY 2
(2009) thì tuổi QHTD lần đầu trung bình của thanh niên là 18,1 tuổi, giảm 1,5
tuổi so với thanh niên trong SAVY 1. Con số này đối với nam là 18,2 tuổi (giảm
1,8 tuổi so với nam trong SAVY 1 có tuổi QHTD lần đầu là 20 tuổi), và đối với
Kenya, Nigieria, Sierra Leone tỷ lệ này này thay đổi từ 16-36%. Ở một thành
phố của Peru, trong một trường trung học, 23% học sinh nam có STIs và ở Mỹ
1/8 VTN đăng ký STIs hàng năm. Hiện nay trên thế giới có 15 triệu người
nhiễm HIV, tỷ lệ cao nhất trong nhóm tuổi 15-25 cho nam giới và 25-35 cho nữ
giới. Một nghiên cứu ở Ruanda cho thấy có hơn 25% phụ nữ có thai trước tuổi
17 dương tính với HIV.
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu "Khảo sát VTN và biến đổi xã hội"
do Viện Xã hội học tiến hành năm 1999, khi được hỏi về tên của các bệnh lây
truyền qua đường tình dục mà các em biết thì có đến 20% các em không kể được
tên một bệnh lây truyền qua đường tình dục nào và có đến 14% các em chưa bao
giờ nghe nói đến bệnh HIV/AIDS. Khả năng nhiễm STIs của VTN cao hơn bình
thường do họ có ít kháng thể hơn, đường sinh dục chưa hoàn chỉnh nên khả
năng lây bệnh cao hơn. Trong nghiên cứu về VTN ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương, tỷ lệ nhận thức đúng về tình dục an toàn chỉ chiếm 44,4% trong tổng số
người biết về STIs (thấp hơn ở những người chưa kết hôn: 42,6%, so với những
người đã kết hôn: 64%).Trong tổng số VTN tại địa bàn Chí Linh, có 69,8% đối
tượng từng nghe về HIV/AIDS, và tỷ lệ này rất thấp so với kết quả của điều tra
quốc gia, thậm chí còn thấp hơn tỷ lệ ở VTN dân tộc thiểu số của mẫu điều tra
11
quốc gia về VTN và thanh niên SAVY (84,7%). Tỷ lệ đối tượng nghe nói về
HIV/AIDS biết ít nhất một biện pháp giảm nguy cơ nhiễm HIV/AIDS là 46,1%.
Tỷ lệ hiểu biết tăng lên theo tuổi, chỉ có 3,5% VTN độ tuổi 10-14 trả lời đúng,
rất thấp so với 28,6% ở độ tuổi 20-24. Trong số người nghe nói về STIs, số
người biết HIV/AIDS là một bệnh STIs chiếm tỷ lệ cao nhất (65,1%), sau đó
đến bệnh giang mai (29,7%) và lậu (23,1%). Những tỷ lệ này rất thấp so với số
liệu quốc gia. Kiến thức về HIV/AIDS của thanh thiếu niên vẫn còn nhiều hạn
chế. Rất nhiều bạn trẻ cho rằng HIV/AIDS không liên quan tới đời sống của họ
cho dù thông tin về HIV/AIDS đã được tuyên truyền rộng rãi trong cả nước.
(61%), xem ti vi (47%). Chỉ có 10% được nghe BPTT ở trường học và 56%
chưa bao giờ nói về BPTT với bất kỳ ai, 24% nói rằng họ nhận được thông tin từ
quảng cáo nhưng các kiến thức này không được cụ thể. Trong thực tế 40%
không sử dụng BPTT nào, 36% xuất tinh ngoài và 24% không trả lời, chỉ 15%
đã sử dụng BPTT hiện đại (14% dùng BCS, 1% dùng thuốc viên).
Theo quan điểm của các bác sĩ sản khoa cũng như tâm lý thì các biện
pháp tránh thai cần được áp dụng cả với những em gái VTN. Vì tình trạng quan
hệ tình dục trước hôn nhân của giới trẻ ngày nay ngày càng phổ biến và nằm
ngoài tầm kiểm soát.
2.6.
Vấn đề nạo phá thai
Trên toàn thế giới, nạo phá thai ở lứa tuổi 15-19 ít nhất cũng có khoảng 5
triệu ca trong tổng số ước đoán là 50 triệu ca phá thai hàng năm. Ở các nước
công nghiệp phát triển và nhiều nước châu Phi, những cô gái trẻ chưa kết hôn
chiếm một tỷ lệ lớn của số người nạo thai. Tỷ lệ nạo thai ở VTN rất khác nhau
giữa các nước: 13 ca mỗi năm trên 1000 phụ nữ từ 15-19 tuổi ở Mexico, 36 ca
trên 1000 phụ nữ độ trong tuổi VTN ở Dominique, Đức chỉ có 3 ca nạo phá thai
hàng năm trên 1000 trẻ trong độ tuổi 15-19, tỷ lệ này ở Mỹ là 36/1000. Ở một số
quốc gia như Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Anh và xứ Wales, Phần Lan, Na Uy,
Slovania và Thụy Điển, tỷ lệ phá thai là 10-20‰, tỷ lệ cao nhất ở Nga là 56‰.
Một khi mang thai, các cô gái 15-17 hầu như chọn giải pháp phá thai hơn là tiếp
tục mang thai và sinh con. Tỷ lệ này cũng cao hơn ở lứa tuổi 18-19. Còn theo
tổng hợp của POLICY Project thì ở các nước châu Á, việc phá thai ở độ tuổi
VTN trở nên khá phổ biến vì quan niệm mang thai ở phụ nữ chưa lập gia đình
không được xã hội chấp nhận, đặc biệt là ở các nước Đông Nam Á như
Campuchia, Indonesia, Philipine và Việt Nam. Tỷ lệ phá thai ở nữ VTN chưa kết
13
trứng, rách bàng quang, nhiễm trùng máu và có thể gây tử vong nhất là những
trường hợp các em mang thai ở độ tuổi từ 13-15 tuổi. Hậu quả về sau nữa là các
em sẽ có nguy cơ: nhiễm độc thai nghén, sảy thai, đẻ non, bị sản giật, chuyển dạ
kéo dài, sang chấn thương nặng đường sinh dục, có khi phải tiến hành mổ hoặc
cắt nới âm hộ để lấy thai. Còn nếu giữ thai thì dễ gặp phải nguy cơ về nhiễm độc
thai, tăng huyết áp, thiếu máu, sinh non và nhau tiền đạo. Tỷ lệ nạo phá thai cao
và không an toàn là một vấn đề hết sức đáng lo ngại của SKSS VTN-TN Việt
Nam. Trên 30% các ca nạo phá thai là của các phụ nữ trẻ chưa có gia đình trong
tổng số ước tính khoảng trên 1 triệu các ca nạo phá thai được ghi nhận. Trong
khi tỷ lệ nạo phá thai chung có giảm nhẹ trong những năm gần đây ở Việt Nam,
tỷ lệ phụ nữ trẻ chưa có gia đình nạo phá thai lại tăng đáng kể. Nhiều người
trong số họ đã nạo phá thai tại các cơ sở y tế tư nhân. Kỳ thị xã hội và tính riêng
tư là những nguyên nhân chính khiến những người trẻ tuổi đến với các cơ sở y tế
tư nhân, nơi mà chất lượng dịch vụ có nhiều hạn chế.
Trả lời cho câu hỏi “Nạo phá thai ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?”,
trong số 91,3% học sinh cho rằng nạo phá thai có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe,
21,2% trong số đó lại không biết ảnh hưởng xấu đến cơ thể như thế nào, còn lại
có 66,9% học sinh cho là có thể gây vô sinh, một tỷ lệ ít hơn thì cho là có thể bị
nhiễm trùng (48,3%), ảnh hưởng tâm lý (44,7%), tử vong (38,3%) và một số hậu
quả khác.
2.7.
Các vấn đề liên quan đến hôn nhân, mang thai và làm mẹ ở lứa tuổi
VTN
Kiến thức về mang thai ở thanh thiếu niên còn rất hạn chế. Thanh thiếu
niên chủ yếu biết được thông tin về mang thai hay kế hoạch hóa gia đình qua các
nguồn thông tin đại chúng. Mức độ biết các thông tin này từ nhà trường, gia
Xã hội phải chi trả những trợ cấp về y tế và xã hội, trợ cấp khó khăn cho cả
mẹ và con, đồng thời phải chi trả gián tiếp về học vấn thấp kém dẫn đến việc
-
làm kém hiệu hiệu quả của lực lượng không có tay nghề.
Phần lớn VTN khi mang thai và sinh con sẽ nghỉ học sớm, họ sẽ giảm khả
năng có việc làm vì trình độ thấp kém dẫn đến nguy cơ đói nghèo cho họ và
-
gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Lứa tuổi VTN vẫn đang trong quá trình hoàn thiện bản thân cả về thể chất,
tinh thần lẫn học hỏi những kỹ năng sống cần thiết, họ chưa sẵn sàng để làm
cha mẹ, khi sinh con ra thì người chăm sóc trẻ sẽ là ông bà chứ không phải
-
cha mẹ, như vậy sẽ tạo áp lực cho gia đình.
Hiện nay, dư luận xã hội và nhất là xã hội Việt Nam vẫn chưa chấp nhận việc
VTN mang thai và sinh con, như vậy họ sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống sau
này, như vậy không chỉ bản thân VTN mà cả gia đình họ sẽ phải chịu sự
khinh rẻ của dư luận xã hội và sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.
2.8.
Nhu cầu của VTN về các thông tin liên quan đến GDGT
16
Đa số các điều tra, nghiên cứu tại Việt Nam dù với quy mô lớn hay nhỏ
sẽ vô tình thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và bừa bãi. Tuy nhiên, thực tế
thực hiện GDGT ở nhiều nước cho thấy hoàn toàn ngược lại. Tổ chức Y tế thế
giới WHO đã khảo sát 19 chương trình GDGT trường học ở nhiều nước, tất cả
đều cho thấy trẻ VTN có hoạt động tình dục trễ hơn, giảm hoạt động tình dục,
biết cách sử dụng các biện pháp ngừa thai một cách hiệu quả, và hoàn toàn
không thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và nhiều hơn. GDGT hiệu quả
nhất khi thực hiện trước khi trẻ bước vào tuổi hoạt động tình dục. Các bước tích
cực này sẽ giúp khuyến khích trẻ không hoạt động tình dục sớm và biết cách
sinh hoạt tình dục một cách an toàn, giảm thiểu thai ngoài ý muốn ở các em.
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình, sự dậy thì sớm
do điều kiện sống cải thiện cùng với quan niệm dễ dãi về tình dục là những
nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tỷ lệ NPT ở trẻ VTN tăng cao. Trong khi đó, vấn
đề GDGT chưa được các bậc cha mẹ cũng như các nhà giáo dục, các nhà quản
lý xã hội quan tâm đúng mức. Không ít cha mẹ cho rằng GDGT, tình dục là “vẽ
đường cho hươu chạy”, còn các nhà giáo dục thì cho rằng đó là vấn đề tế nhị,
riêng tư, không nghiêm túc, rất khó trình bày trên bục giảng... Vì những lẽ đó,
cho đến nay, chúng ta vẫn gặp nhiều khó khăn hay nói đúng hơn là còn “giữ ý”
đối với vấn đề mặc nhiên được coi là “tế nhị” này. Người lớn cần quan tâm tới
các em nhiều hơn nữa, để tạo cho các em một môi trường văn hóa tình dục lành
mạnh, một nhận thức đúng đắn về tình dục với hai chức năng: thỏa mãn nhu cầu
hạnh phúc của con người và duy trì nòi giống.
Ở nước ngoài, trong quan niệm giáo dục về tình dục, khái niệm “an
toàn” đối với họ ngoài vấn đề bệnh tật còn bao gồm cả việc không có thai ngoài
ý muốn. Còn chúng ta hiện nay, “an toàn” là khi con mình không “quan hệ” gì
hết, đây liệu có còn là một quan niệm đúng đắn và hợp thời nữa chăng. Hay chỉ
mang tính cứng nhắc và sẽ lại tiếp tục góp phần “duy trì” hậu quả là tình trạng
nạo phá thai VTN vẫn là vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”...
SAVY khuyến nghị các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi VTN và thanh niên
cần chú ý nhiều hơn đến việc giáo dục kỹ năng sống cho con, đặc biệt cần thảo
trong xã hội. Giáo dục tình dục ở Mỹ đã được nhà nước chính thức thừa nhận từ
1964. Đối tượng lúc đầu chủ yếu là trẻ em và VTN. Sau đó cho sinh viên đại học
bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 50.
Ở Việt Nam, từ những năm 60, việc tiếp cận giáo dục SKSS thông qua
cuộc phát động sinh đẻ có kế hoạch được gọi là KHHGĐ. Bản thân việc tuyên
19
truyền, vận động sử dụng BPTT là sự mở đầu cho việc giáo dục sinh sản mặc dù
thời điểm đó chúng ta chưa làm quen với khái niệm SKSS. Ngày nay, giáo dục
sinh sản đã phát triển hơn dưới nhiều hình thức và hoạt động lồng ghép, thu hút
sự tham gia của nhiều đơn vị như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, ...Tuy nhiên,
nhìn chung vấn đề giáo dục SKSS cho VTN vẫn chưa được quan tâm một cách
tương xứng với sự đòi hỏi của thực tế hiện nay.
Sau hội nghị Cairo và Beijing, nhận thức về vấn đề sức khẻ và SKSS
VTN đã được nâng cao trong các cấp có thẩm quyền và trong nhân dân. Giáo
dục SKSS cho đối tượng VTN nước ta đã và đang được triển khai.
GDGT và tình dục đã được đưa nghiên cứu và bắt đầu đưa vào chương
trình giáo dục phổ thông, đại học từ năm 1984. Sau đó, từ năm 1988 đến năm
1991 bắt đầu thực nghiệm giảng dạy trong nhà trường tại 17 tỉnh và thành phố.
Tiếp sau đó, chương trình được hoàn chỉnh trong giai đoạn 1994-1996. Chương
trình đã chú ý đến GDGT và phần nào tới giáo dục SKSS, song chưa hệ thống.
Mặt khác giáo dục tình dục hầu như bị né tránh, chưa thể hiện trong chương
trình một cách rõ nét, chưa đề cập đến một cách trực diện.
Nội dung giáo dục SKSS VTN trong nhà trường chủ yếu được thể hiện
trong chương trình môn Sinh học và môn Giáo dục công dân, trong đó tập trung
vào chương trình sinh học lớp 8 trung học cơ sở với phần giải phẫu sinh lý
người. Bên cạnh nhà trường, toàn xã hội cũng đang cố gắng làm để giúp đỡ
VTN. Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ đã tích cực hỗ trợ nhà trường và gia đình
trong việc giáo dục VTN. Đoàn thanh niên đã và đang đóng góp một vai trò
mà thông qua cuộc sống hàng ngày dưới hình thức tâm sự với con.Tuy nhiên,
kết quả của một số cuộc khảo sát xã hội học ban đầu cho thấy, gia đình hiện tại
đang đóng vai trò khá mờ nhạt trong giáo dục cho giới trẻ. Về mặt chủ quan, bản
thân cha mẹ và các bậc lớn tuổi trong gia đình nhất là ở các vùng nông thôn còn
thiếu thông tin trong lĩnh vực này. Vì vậy, gia đình hoặc không quan tâm, hoặc
là gặp rất nhiều khó khăn trong việc GDGT cho con cái họ một cách có hệ
thống. Trả lời câu hỏi cha mẹ đã nói gì với họ về những thay đổi cơ thể khi họ ở
trong độ tuổi dậy thì, rất ít người cho biết cha mẹ chủ động trao đổi với họ về
những vấn đề đó. Hầu hết đều giữ im lặng, lảng tránh hoặc trì hoãn, thậm chí, từ
21
chối giải đáp những thắc mắc của con cái. Bên cạnh gia đình và nhà trường, các
phương tiện thông tin đại chúng cũng là một nguồn cung cấp thông tin chủ yếu
cho VTN. Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển không
ngừng của công nghệ thông tin, mạng internet là một trong những nơi mà VTN
tìm kiếm thông tin nhiều nhất. Tuy nhiên, nguồn thông tin này cũng còn nhiều
bất cập. Ngoài việc đây là nguồn thông tin phổ biến, dễ tìm và đủ các lĩnh vực
kiến thức thì cũng có những điạ chỉ không lành mạnh, trang web sex, web đen.
Việc giáo dục cho VTN sử dụng hiệu quả nguồn thông tin này cũng là một thách
thức rất lớn.
Các chương trình GDGT cần sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội. Cha mẹ, thầy cô, y bác sĩ, đoàn thể thanh niên, thông tin đại chúng là những
đối tượng sẽ phối hợp một cách tích cực trong các chương GDGT cho trẻ. Vì
hầu hết người lớn chưa có được những kỹ năng để tham vấn chính xác và có
hiệu quả, cần có những chương trình huấn luyện cho các đối tượng trên về các
vấn đề liên quan đến tình dục ở trẻVTN, biết cách giao tiếp một cách cởi mở,
chân thành, tôn trọng và có hiệu quả với trẻ. Chăm sóc SKSS VTN là một công
việc phức tạp và tế nhị, vì vậy đây không phải chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế
mà đòi hỏi cả xã hội, các tổ chức chính quyền, đoàn thể, nhà trường và gia đình
32% tổng dân số. Theo ước tính thì tỷ lệ này sẽ không thay đổi đáng kể trong
vòng 15 năm tới.
VTN là lứa tuổi đang trong giai đoạn quyết định hành vi về sức khỏe và
cũng là tiền đề sức khỏe cho cả cuộc đời, vì vậy phải có cái nhìn khách quan
đúng đắn về lứa tuổi này để hướng sự phát triển của VTN được tốt hơn.
23
3.
THỰC TRẠNG GDGT Ở VIỆT NAM
3.1.
Thực trạng kiến thức của học sinh về GDGT
3.1.1. Kiến thức về bộ phận sinh dục và dậy thì
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 64,9% học sinh đã từng nghe nói về BPSD
(68,6% nam và 61,2% nữ), trong đó 28,4% trả lời đúng BPSD bao gồm những
gì (câu trả lời đúng chỉ cần nêu được nam là dương vật, tinh hoàn, nữ là buồng
trứng và âm đạo). Tỷ lệ học sinh nam đã từng nghe nói về BPSD tương đương
so với nghiên cứu của Trịnh Công Vinh năm 2005.
Về dấu hiệu dậy thì, nam giới cần trả lời được biểu hiện là mộng tinh, còn ở
nữ giới là có kinh lần đầu, có khả năng mang thai và sinh con. Tỷ lệ học sinh trả
lời đạt yêu cầu là 62,8% nam và 72,4% nữ (xem bảng 1). Điều này cho thấy vẫn
còn một bộ phận không nhỏ VTN còn thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết sai lệch về
đặc điểm dậy thì và các đặc trưng về giới tính của bản thân. Tỷ lệ hiểu biết về
dấu hiệu dậy thì của nam giới trong nghiên cứu này cao hơn nhiều tỷ lệ tương tự
trong nghiên cứu tại huyện Chí Linh, Hải Dương. 36,1% nam VTN ở Chí Linh
trả lời đúng câu hỏi tương tự. Có lẽ đối tượng nam VTN trong nghiên cứu của
chúng tôi ở độ tuổi cao hơn (16-18 tuổi) và có trình độ học vấn đồng đều hơn