Sáng kiến kinh nghiệm THCS giúp học sinh yếu kém học được đại số 9 - Pdf 34

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số : (do thường trực HĐ ghi ): . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Tên sáng kiến : “Giúp học sinh yếu kém học được Đại số 9”.
2. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến : Chất lượng chuyên môn giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến :
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết :
Tỷ lệ học sinh yếu kém của các trường còn rất cao, trong đó bộ môn Toán
luôn có tỷ lệ học sinh yếu kém cao hơn các môn học khác. Việc học tập môn Toán
cũng có quyết định nhiều đến việc học tập của mọi sinh trong trường. Thực tế cho
thấy học sinh học giỏi Toán thì phần nhiều rất ham học các môn khác và học lực
thường khá giỏi ; Ngược lại học sinh yếu Toán thì thường tỏ ra lười biếng học tập
các môn khác, kết quả học tập thường ở dạng trung bình hoặc yếu kém và cũng có
nhiều nguy cơ bỏ học. Với học sinh yếu kém ta không thể trong thời gian ngắn mà
yêu cầu các em học tốt được bộ môn mà chỉ yêu cầu các em học được kiến thức
của bộ môn là một điều mà mọi giáo viên đều mong muốn. Vì vậy, việc có phương
pháp đúng đắn để giúp các em học sinh yếu kém có thể học được từ đó nâng cao
chất lượng bộ môn Toán có quyết định nhiều đến việc nâng cao chất lượng học tập
của từng học sinh và chất lượng giáo dục chung trong trường
Tuy nhiên, nhiều giáo viên dạy toán thường gặp nhiều khó khăn khi dạy đối
tượng học sinh yếu kém ; Phương pháp giảng dạy hạn chế, kết quả giảng dạy chưa
theo ý muốn, chưa đáp ứng được theo yêu cầu chung của bộ môn và của trường.
Mục đích của sáng kiến : Nhằm giúp cho giáo viên có phương pháp đúng
để giúp học sinh yếu kém môn Toán học được kiến thức của bộ môn.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến :
Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm là giáo viên có thể giúp học sinh yếu
kém học được bộ môn Toán thông qua các hoạt động rất bình thường, rất gần gũi
đối với học sinh.
1

trong hoạt động nầy. Lý do là các em bị mất kiến thức cơ bản từ các lớp dưới nên
tiếp thu kiến thức rất chậm, khi vận dụng vào bài thì các em không biết bắt đầu từ
2


đâu, sử dụng kiến thức nào đã học, sử dụng như thế nào và thực hiện theo con
đường nào.
Sách giáo khoa thường chỉ trình bài chung, hạn chế các bước thực hiện nên
học sinh trung bình hay yếu kém không thể tự học theo sách được.
Vì vậy khi dạy học sinh yếu kém, tôi nghiên cứu soạn kỷ lại từng bước thực
hiện của từng dạng toán cơ bản trong chương trình, giúp các em tiếp cận được từng
dạng toán và từng bước giải để các em có thể vận dụng dễ dàng hơn trong hoạt
động giải toán.
Một số ví dụ khi dạy Đại số 9 :
Ví dụ 1 : Khi dạy dạng bài tập về Hằng đẳng thức

A2 = A có thể cho các em

thực hiện theo từng bước như sau :
Bước 1 : Viết biểu thức trong dấu căn thành dạng lũy thừa bậc hai.
Bước 2 : Bỏ dấu căn bậc hai và dấu lũy thừa bậc hai và thay bằng dấu giá
trị tuyệt đối.
Bước 3 : Xác định giá trị của biểu thức trong giá trị tuyệt đối là dương hay
âm để bỏ dấu giá trị tuyệt đối.
Bước 4 : Bỏ dấu giá trị tuyệt đối. Nếu giá trị biểu thức trong trị tuyệt đối
dương thì trị tuyệt đối của nó là chính nó ; nếu âm thì đặt thêm dấu trừ phía trước.
Ví dụ 2 : Khi dạy dạng bài tập Tìm điều kiện để căn thức bậc hai xác định có
thể thực hiện các bước như sau :
Bước 1 : Xác định biểu thức trong dấu căn là biểu thức nào.
Bước 2 : Cho biểu thức trong dấu căn ≥ 0.

tương ứng của y.
Bước 4 : Kết luận. Mỗi tọa độ giao điểm là một cặp giá trị tương ứng (x ;
y).
Tất cả các dạng bài tập toán cơ bản trong chương trình tôi đều nghiên cứu
phân chia từng bước thực hiện cho phù hợp để học sinh có thể dễ dàng thực hiện.
Ở đây tôi chỉ nêu lên một vài bước giải của một vài dạng bài tập để làm ví dụ.
Khi vận dụng vào giải toán, tôi thường cho cho các em xác định dạng toán
đang giải là toán gì, từng bước thực hiện như thế nào. Có thể nhắc lại các bước
thực hiện nhiều lần để quen với cách làm, từ đó giúp cho các em hiểu được với
từng dạng bài tập mình sẽ thực hiện từng bước giải thế nào và vận dụng được từng
bước giải theo thứ tự và có hiệu quả.
4


3.2.3. Luyện tập thường xuyên để các em biết cách trình bày từng dạng bài
tập toán.
Thực tế cho thấy phần nhiều học sinh học yếu toán khi học trên lớp các
kiến thức của bài các em có thể tiếp thu được, thầy hỏi thì có thể trả lời được ngay
bằng miệng nhưng khi trình bày lời giải của một bài toán thì không làm được gì cả.
Điều nầy dẫn đến tình trạng các em rất lười khâu tự học, tự làm bài tập ở nhà và
bài tập, bài kiểm tra viết của các em thường bị điểm thấp. Để khắc phục tình trạng
trên, trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng trình
bày từng dạng toán cho từng học sinh bằng cách mỗi dạng bài tập tôi đều có cách
trình bày riêng hoàn chỉnh làm mẫu để hướng dẫn các em, giúp các em có cơ sở và
biết cách trình bài tương tự khi học. Một khi biết cách trình bày từng dạng toán thì
các em không ngại học và bài làm có điểm số cao hơn.
3.2.4. Cần có hệ thống bài tập tương tự và thay đổi dần, nâng dần các yêu
cầu của bài tập lên để tập cho các em vận dụng kiến thức.
Đối với học sinh yếu kém, trong mỗi dạng bài tập ngoài việc có một bài
giải thật kỷ, đầy đủ các bước để làm mẫu thì sau khi thực hiện một bài tập mẫu,

bạn để khắc sâu kiến thức đã học.
Thông thường khi dạy học sinh yếu kém môn Toán, từng dạng bài tập tôi
đều cho học sinh trình bày lại bài làm của mình trên bảng. Sau khi trình bày xong,
cho học sinh tự nhận xét bài làm của mình từ cách trình bày, kiến thức sử dụng …
xem đã hoàn chỉnh hay chưa ; cho học sinh khác nhận xét bài làm của bạn chỗ nào
đúng, chỗ nào chưa đúng, cần bổ sung thế nào để bài làm được hoàn chỉnh. Nếu
học sinh không phát hiện được hết những chỗ sai giáo viên có thể nói : Bài nầy còn
1 hoặc 2 chỗ sai hoặc chưa đúng, chưa hoàn chỉnh để học sinh cùng phát hiện ; khi
phát hiện thì gợi ý để các em nêu cách sửa lại chỗ chưa đúng cho đúng, sau đó chốt
lại thật kỷ để các em nhớ và vận dụng trong các bài sau.
Việc cho các em học sinh yếu tự kiểm ra, đánh giá kết quả bài làm của
mình, của bạn nhằm giúp cho các em tự phát hiện ra cái sai của mình để khăc
phục, thấy cái sai của bạn để tránh khi làm bài, nó cũng giúp cho các em khắc sâu
kiến thức đã học và cảm thấy tự tin, hứng thú hơn trong học toán. Việc làm trên
cũng giúp các em thấy tự tin hơn, tích cực hơn tham gia hoạt động khi học và cảm
thấy việc học tập toán không phải là điều quá khó đối với bản thân của mình, mình
có thể làm tốt hơn, học giỏi hơn rất nhiều nếu có cố gắng. Không nên có những lời
chê bai đối với các em vì như thế dễ làm cho các em nãn chí và không cố gắng
trong học tập.
3.2.6. Giúp các em tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập
bằng những lời khen, lời động viên đúng lúc.

6


Khi dạy đối tượng học sinh yếu kém, giáo viên cần quan tâm nhiều đến
việc tổ chức cho các em hoạt động. Tâm lý của các em trong độ tuổi học sinh
thường rất hiếu động nhưng do mặc cảm là mình học yếu và do không tiếp thu
được kiến thức nên thường rất thụ động. Giáo viên cần có những câu hỏi nhỏ,
những yêu cầu đơn giản mà khả năng các em có thể trả lời được để dẫn dắt các em

trong quá trình giảng dạy tôi thường xuyên luyện tập cho các em biết giải phương
trình và hệ phương trình bằng máy tính. Tập cho các em có thói quen sử dụng máy
tính trong một số công việc như :
- Kiểm tra kết quả khi thực hiện các phép biến đổi đơn giản, các phép tính
về căn bậc hai.
- Kiểm tra kết quả giải phương trình và hệ phương trình theo yêu cầu.
- Vận dụng và giải được các phương trình và hệ phương trình khi giải toán
bằng cách lập phương trình và hệ phương trình.
Ngoài ra còn sử dụng vào các phần học khác có liên quan trong chương
trình.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp :
Sáng kiến được nghiên cứu và áp dụng cho việc giảng dạy Đại số 9, đối
tượng là học sinh bậc THCS trong tất cả các trường. Tuy nhiên giải pháp của sáng
kiến có thể vận dụng cho việc giảng dạy học sinh trung bình, khá giỏi hay yếu kém
toán các khối học khác.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp :
Qua một thời gian thực hiện theo các kinh nghiệm trên, chất lượng học sinh
học tập bộ môn toán của tôi phụ trách có nâng lên rõ rệt. Phần đông các em học
sinh yếu đều tiếp thu được kiến thức, vận dụng lý thuyết giải được các dạng toán
cơ bản trong chương trình, không còn e ngại khi học toán mà phần nào ham thích
học toán.
Học sinh yếu không còn nhút nhác như trước mà đã mạnh dạn phát biểu,
biết nêu những thắc mắc của mình khi chưa hiểu, từ đó chất lượng học tập của các
em ngày càng được nâng lên, các em tỏ ra tự tin khi làm bài tập. Nhiều học sinh
yếu kém toán đã có học lực trung bình, khá và trong các kỳ thi tuyển sinh vào lớp
10 của huyện tỉ lệ đạt của các em rất cao.
Một số kết quả cụ thể trong các năm học liền kề :
8



6.3%
0%
4,7%
0%

- Sáng kiến cũng đã triển khai cho một số đồng nghiệp trong trường sử dụng,
được đồng nghiệp đánh giá cao ; được Ban giám hiệu trường đánh giá là đã triển
khai vận dụng có hiệu quả tốt tại cơ sở.
3.5. Danh sách những người tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu :
Số
TT

Họ và tên

01 Huỳnh Văn Bừa

Năm
sinh

Nơi công tác Chức danh

1963 THCS Ba Mỹ

Trình độ
chuyên môn

Giáo viên

ĐHSP


pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp.
- Giáo viên phải thể hiện được lòng thương yêu học sinh, phải gần gũi với
các em, xác định từng em yếu kém là do nguyên nhân nào đồng thời nắm bắt được
9


những khó khăn các em gặp phải để hỗ trợ kịp thời, tạo cho các em thấy được
mình luôn luôn được thầy cô quan tâm giúp đở.
- Phải hết sức thông cảm với các em, không nên có những lời lẽ chê bai
khi các em làm chưa được vì như thế dễ làm cho các em thấy mặc cảm, chán nãn,
không còn ham thich học tập.
- Cần có những lời khuyên động viên, những lời khen và biểu dương kịp
thời đối với các em khi các em làm tốt một nội dung nào đó dù là rất nhỏ để các
em phấn khởi và cảm thấy tự tin, ham học hơn.
3.8. Tài liệu kèm theo : Không
Lê Quang Lộc

Trường THCS Ba Mỹ,
huyện Ba Tri

Giáo viên

8,1đ

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status