1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại các quốc gia trên thế giới, chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y
tế (BHYT) là nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội (ASXH), là một trong những chính
sách lớn góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc.
Ở nước ta, trong suốt quá trình thành lập và phát triển, Đảng ta đã luôn quan
tâm đến việc hình thành và phát triển chính sách BHXH, BHYT đối với lao động.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhưng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nước ta
nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước những biến cố làm giảm hoặc
mất thu nhập. Hơn hết mục tiêu cần thực hiện là mở rộng đối tượng tham gia
BHXH cho mọi người dân nhưng hiện nay vì nhiều nguyên nhân mục tiêu đó chưa
thực hiện được, vẫn còn có nhiều tồn tại cần được giải quyết. Kiểm soát thu BHXH
là một quy trình không thể thiếu trong hoạt động BHXH nhằm đạt được các mục
tiêu về hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động.
Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa là một bộ phận quan trọng trong hệ thống
quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam, là cơ sở để thực hiện công tác BHXH. Bảo
hiểm xã hội thành phố Bà Rịa là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh, có chức năng giúp
giám đốc BHXH tỉnh tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT, quản lý
thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn thành phố theo phân cấp quản lý của BHXH
Việt Nam và quy định của pháp luật. BHXH thành phố chịu sự quản lý trực tiếp,
toàn diện của giám đốc BHXH tỉnh và chịu sự quản lý hành chính Nhà nước của
UBND thành phố Bà Rịa.
Việc thất thoát nguồn thu BHXH hiện nay của ngành BHXH Việt Nam nói
chung và BHXH thành phố Bà Rịa nói riêng, đang là vấn đề mà các nhà quản lý
trong ngành BHXH quan tâm hàng đầu. Để tăng cường công tác quản lý nguồn thu,
một trong những biện pháp mà BHXH thành phố Bà Rịa phải thực hiện là hoàn
thiện hệ thống kiểm soát nội bộ các khoản thu tại đơn vị. Vì công tác kiểm soát nội
bộ được thực hiện tốt sẽ góp phần vào việc cũng cố công tác tổ chức hoạt động của
đơn vị ngày càng hiệu quả, ngăn ngừa được sai sót, gian lận trong hoạt động của
cho quá trình quản lý quỹ BHXH tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa trong giai
đoạn kinh tế phát triển mạnh mẽ hiện nay. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ dựa trên cơ sở lý thuyết hiện đại về KSNB trong hoạt động
thu BHXH, BHYT, BHTN là một vấn đề đặt ra cho ngành BHXH nhằm tăng cường
kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu các quỹ BHXH, BHYT, BHTN là một khâu
quan trọng và cần thiết trong việc quản lý của ngành BHXH hiện nay nhằm ổn định
chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước ta.
3
Trước tình hình đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các
khoản thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa” làm đề tài
nghiên cứu hoàn thành khóa học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về KSNB các khoản thu tại đơn
vị hoạt động công.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng về kiểm soát nội bộ các khoản thu tại Bảo
hiểm xã hội thành phố Bà Rịa, chỉ ra những kết quả đạt được và những vấn đề đang
đặt ra hiện nay trong quản lý kiểm soát thu BHXH ở Bà Rịa.
-
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội
bộ các khoản thu tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
-
Nguyễn Thị Phương Liên (2011), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, Trường
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này là tác giả tập trung nghiên cứu về hệ thống
KSNB đối với hoạt động thu và chi BHXH và đề xuất biện pháp triển khai thực
hiện hệ thống KSNB nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan BHXH tỉnh
Phú Thọ.
-
Võ Năm (2012), Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Bình Định, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này là tác giả đi sâu nghiên cứu lĩnh vực KSNB
hoạt động thu BHXH, BHYT, BHTN và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác kiểm soát thu BHXH, BHYT, BHTN tại BHXH tỉnh Bình Định.
-
Trần Ngọc Tuấn (2013), Hoàn thiện công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội
Khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Luận văn Thạc sỹ kinh tế ,
Trường Đại học Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu và phân tích
các vấn đề liên quan đến công tác quản lý thu BHXH đối với khu vực kinh tế tư
nhân dựa trên các quy định về quản lý thu BHXH, phân tích thực trạng công tác
quản lý thu BHXH, những nhân tố tác động đến công tác quản lý thu BHXH đối với
khu vực kinh tế tư nhân và trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đề tài xây dựng
các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý BHXH đối với khu vực kinh tế tư nhân
Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG ĐƠN VỊ HOẠT ĐỘNG CÔNG
1.1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB)
1.1.1. Tổng quan về sự ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển không chỉ là một
phương pháp giúp cho kiểm toán viên trong việc lập kế hoạch kiểm toán mà còn
được nhà quản lý sử dụng như một công cụ chủ yếu nhằm thực hiện chức năng
kiểm soát.
Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 khái niệm KSNB được sử dụng trong
các tài liệu về kiểm toán. Trên thế giới các công ty kiểm toán xuất hiện đầu tiên đều
có nguồn gốc từ Anh quốc, rồi lan rộng sang các quốc gia khác trong những năm
cuối thế kỷ 19.
Tại Việt Nam Kiểm toán chính thức xuất hiện từ giữa năm 1991 dưới hình
thức các công ty kiểm toán độc lập, đến năm 1994 với Kiểm toán Nhà nước và đến
cuối năm 1997 với sự hiện diện của Kiểm toán nội bộ.
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền. Do yêu cầu phát triển, các
công ty cần có vốn và từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra
thông tin về sử dụng vốn. Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.
Đến thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ
đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong
các cuộc kiểm toán.
Vào những thập niên 1970-1980, nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới đã
thông tin tài chính đáng tin cậy”.
Theo định nghĩa của AICPA (Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ) thì
“ KSNB gồm cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận
và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin
cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy các hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân
thủ các chính sách của người quản lý ”.
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ
thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài
sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các
chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
Bảo vệ tài sản của đơn vị :
Hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ bảo vệ các tài sản của đơn vị (bao gồm tài sản
8
cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình) và cả các tài sản phi vật chất như sổ
sách kế toán, các tài liệu quan trọng…khỏi bị đánh cắp, hư hại hoặc bị lạm dụng
vào những mục đích khác nhau.
-
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin kinh tế tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ
quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý vì vậy các thông tin
cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và độ tin cậy về
thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung kinh tế chủ yếu
lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực.
Bốn mục tiêu nói trên của hệ thống kiểm soát nội bộ đều nằm trong một thể
thống nhất tuy nhiên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả
của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ
và tin cậy. Cụ thể như nếu chúng ta muốn tăng cường việc bảo vệ tài sản thì sẽ làm
tăng thêm chi phí như vậy sẽ không đảm bảo được mục tiêu nâng cao tính hiệu quả
của hoạt động. Vậy nhiệm vụ của các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm
soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hòa bốn mục tiêu nói trên.
Theo báo cáo của COSO năm 1992 được công bố dưới tiêu đề KSNB đã
định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “ KSNB là một quá trình bị chi phối bởi
9
người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để
cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
(1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;
(2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính;
(3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”.
Theo định nghĩa trên, có 4 khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: KSNB là
một quá trình; con người; đảm bảo hợp lý và các mục tiêu.
+ Về KSNB là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông
qua lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị
cần kiểm soát các hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này;
+ Về con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý,
HĐQT, các nhân viên trong đơn vị, nó là công cụ phục vụ cho nhà quản lý;
+ Về tính đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho
các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm
bảo tuyệt đối;
+ Các mục tiêu: Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành
Hệ thống kiểm soát nội bộ thường bị xem xét trong mối quan hệ giữa chi phí
bỏ ra với lợi ích đem lại.
Các thủ tục kiểm soát này thường tác động đến những nghiệp vụ xảy ra
thường xuyên mà ít có tác động với những nghiệp vụ bất thường.
Hệ thống kiểm soát nội bộ thường chỉ đặt ra các thủ tục kiểm soát bên trong
đơn vị mà ít có tác động đối với các nghiệp vụ bên ngoài đơn vị.
Các thủ tục kiểm soát thường dễ bị lạc hậu theo thời gian vì có sự đối phó
của người bị kiểm soát.
Hệ thống kiểm soát nội bộ thường dễ bị vô hiệu hóa bởi những nhà quản lý
1.1.4. Kiểm soát nội bộ trong hệ thống quản lý doanh nghiệp
Thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát nhà quản lý sẽ được cung cấp
thông tin về quá trình thực hiện, về kết quả đạt được, kịp thời so sánh với các mục
tiêu đã đặt ra trong kế hoạch để có những điều chỉnh các hoạt động một cách phù
hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Ngoài ra, kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây
tác động xấu tới hoạt động của một đối tượng nào đó.
quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp
lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là những mục tiêu cần đạt được:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế,
hiệu quả và thích hợp;
- Thực hiện đúng trách nhiệm;
- Tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định;
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất ”.
12
So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá
trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào. Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh
thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn, sự
phát hiện sự gian trá và tham nhũng trong khu vực công.
1.2.3. Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI
Cũng như Báo cáo COSO 1992, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của KSNB và
giữa 2 hệ thống, báo cáo COSO 1992 và hướng dẫn của INTOSAI có những khác
biệt về chi tiết.
1.2.3.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh
hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trường kiểm soát là nền tảng
cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ
cấu tổ chức. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
+ Sự liêm chính và giá trị đạo đức cá nhân, chuyên môn của nhà lãnh đạo và
của đội ngũ nhân viên.
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân
viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ. Tinh thần tôn trọng
đạo đức thể hiện qua tất cả các cá nhân, mọi cá nhân phải tuân thủ các điều lệ, quy
định và đạo đức về cách ứng xử của cán bộ công chức nhà nước.
Thái độ và cách điều hành của người quản lý, quyết định giọng điệu (tone)
kiểm toán nội bộ trong KSNB thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo đến KSNB.
Ngược lại nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan
trọng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB. Kết quả là KSNB
chỉ còn là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến mục tiêu, nhiệm vụ của
đơn vị không còn đạt được như mong muốn.
+ Cơ cấu tổ chức gồm:
- Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo. Mỗi cấp quản lý ý thức được
quyền hạn của mình tới đâu.
- Hệ thống báo cáo phù hợp với đơn vị, thiết lập quy trình báo cáo kịp thời,
kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.
Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, được tổ chức
độc lập đối với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất
trong cơ quan.
+ Chính sách nhân sự
14
Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá,
bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, kèm cặp nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy của
nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển dụng,
huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần
quan trọng trong môi trường kiểm soát. Việc ra quyết định tuyển dụng nhân viên
phải đảm bảo được về tư cách đạo đức cũng như kinh nghiệm để thực hiện công
việc được giao.
Nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên khuyến khích bằng
các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể.
Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần
được các nhà lãnh đạo quan tâm.
1.2.3.2. Đánh giá rủi ro
Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của Nhà nước,
công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên thường
xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ.
Phần này không phải là một yếu tố của KSNB, mà trên cơ sở việc nhận dạng
rủi ro, đánh giá rủi ro mà đơn vị thiết lập để đối phó với những rủi ro nào đó xảy ra.
1.2.3.3. Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro và
đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị.
Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các
chức năng. Hoạt động kiểm soát bao gồm các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và
phát hiện rủi ro.
+ Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền
theo trách nhiệm và phạm vi của họ. Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm
bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn của
người lãnh đạo. Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và công bố rõ ràng,
phải bao gồm những điều kiện cụ thể.
+ Phân chia trách nhiệm
Để giảm rủi ro về việc sai sót, lãng phí, những hành động cố ý làm sai và rủi
ro không ngăn ngừa được thì không một bộ phận hay cá nhân nào được giao một
công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Trách nhiệm phải được giao một cách
16
có hệ thống cho từng cá nhân để đảm bảo sự kiểm tra có hiệu quả. Năm trách nhiệm
chủ yếu bao gồm ủy quyền, phê chuẩn, ghi chép, xử lý và đánh giá các nghiệp vụ.
Tuy nhiên, cần lưu ý sự thông đồng làm giảm hoặc phá hủy sự hữu hiệu của KSNB.
Trong một số trường hợp đơn vị có quy mô nhỏ, có quá ít nhân viên để thực
hiện việc phân chia phân nhiệm. Khi đó, nhà lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và
bù đắp bằng những biện pháp kiểm soát khác như sự luân chuyển nhân viên. Sự
luyện)
Việc giám sát kỹ càng giúp việc đảm bảo rằng mục tiêu của việc tổ chức sẽ
được thực hiện. Sự giao việc, soát xét và chấp thuận công việc của nhân viên bao
gồm:
- Sự thông báo rõ ràng, nghĩa vụ, trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm giao
cho mỗi thành viên.
- Đánh giá một cách hệ thống công việc của mỗi thành viên trong phạm vi
cần thiết.
- Chấp thuận công việc theo những tiêu chuẩn để đảm bảo công việc được
thực hiện theo đúng định hướng.
Người giám sát cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn cần thiết và huấn
luyện để đảm bảo rằng sự sai sót, lãng phí và hành động sai trái được giảm thiểu và
làm cho nhà lãnh đạo trực tiếp hiểu được và đạt được kết quả.
1.2.3.4. Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông rất cần thiết để thực hiện mục tiêu của KSNB.
+ Thông tin: Là những thông tin cần được cung cấp cho các cấp quản lý và
các cá nhân, bộ phận trong đơn vị để thực hiện các chức năng KSNB của mình, ví
dụ người quản lý cần nhận thông tin để thực hiện quản lý như việc phê duyệt hợp
đồng mua bán thì các cấp trực thuộc phải có giấy đề xuất mua hàng để phê duyệt.
Vậy giấy đề nghị là thông tin cho nhà quản lý. Hoặc là cuối tháng nhà quản lý được
cung cấp các báo cáo tình hình nợ BHXH, BHYT để thấy được đơn vị nào nợ mà
người lãnh đạo đưa ra các biện pháp thu hồi nợ đọng.
+ Truyền thông: Truyền thông để mọi người hiểu được chức năng của từng
cá nhân nhằm thấy được chức năng của mình trong thực hiện KSNB đáp ứng được
mục tiêu của cơ quan. Ngoài ra, cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài
tổ chức.
18
1.2.3.5. Hoạt động giám sát
kiểm soát
(Nguồn: Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI)
Hình 1.1: các phương pháp và thủ tục kiểm soát.
19
1.3. KSNB các khoản thu Bảo hiểm xã hội
Trong tất cả các hoạt động của BHXH, hoạt động thu và chi là hai hoạt động
chủ yếu và quan trọng nhất.
1.3.1. Tổng quan về hoạt động cơ bản thu và chi Bảo hiểm xã hội
1.3.1.1.Hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Nhìn chung quỹ BHXH ở các nước được hình thành chủ yếu từ các
nguồn sau ( Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội):
-
Người lao động đóng góp
-
Người sử dụng lao động đóng góp
-
Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
-
Thu từ nộp phạt do chậm nộp BHXH của doanh nghiệp
20
hình thành quỹ BHXH ở các nước khác nhau. Nói chung, ở những nước có nền kinh
tế phát triển như Đức, Ý, Mỹ…thì áp dụng cơ chế tự thu tự chi, thu trong năm chủ
yếu chi hết trong năm. Còn các nước kinh tế đang phát triển thì nói chung áp dụng
cơ chế tạo quỹ tích lũy, số dư hàng năm được sử dụng đầu tư tăng trưởng. Do cơ
chế tạo quỹ khác nhau, nên tỷ lệ đóng góp của ba bên cũng khác nhau.
• Rủi ro thu Bảo hiểm xã hội
Nhận diện rủi ro có thể xảy ra trong công tác thu BHXH:
Việc nhận dạng các rủi ro và đánh giá tầm quan trọng của các rủi ro có
thể xảy ra là một bộ phận quan trọng của hệ thống KSNB. Không giống như các
doanh nghiệp, hoạt động BHXH có các rủi ro chủ yếu được ghi nhận ở hoạt động
thu, chi BHXH, BHYT, BHTN. Ngoài các rủi ro xuất phát từ năng lực và đạo đức
nhân viên BHXH, rủi ro thu không đủ theo số phải thu do các đơn vị sử dụng lao
động không cung cấp đầy đủ thông tin của người lao động và tiền lương hiện hưởng
của người lao động đang làm việc trong đơn vị.
Về rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN thường gồm những trường hợp sau:
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN phát sinh khi không thu được BHXH,
BHYT, BHTN từ các đối tượng thuộc diện phải nộp BHXH, BHYT, BHTN nhất là
từ người sử dụng lao động.
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn phát sinh trong những trường hợp
không thu đủ và đúng mức phải nộp vào quỹ BHXH, BHYT.
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn bao gồm từ việc thu chậm trễ do
người nộp không nộp đúng thời gian quy định.
- Rủi ro nguồn thu BHXH, BHYT bị mất, do người đi thu BHXH, BHYT
nộp không đủ (đại lý thu), biển thủ số tiền đã thu không nộp đủ và kịp thời vào quỹ
theo quy định.
Ngoài ra, hoạt động BHXH còn đứng trước rủi ro về mất cân đối thu-chi các
quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Điều này càng đặt ra sự cần thiết của đội ngũ cán bộ
CCVC ngành BHXH để sớm có biện pháp khắc phục trong quá trình phát triển của
ngành nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH, BHYT.
Quỹ BHXH ở các nước được sử dụng để chi tiêu vào các nội dung quan
trọng sau: chi trợ cấp BHXH theo chế độ, chi quản lý hành chính, chi cho đầu tư
tăng trưởng quỹ.
Trong ba phần chi thì chi trả cho các chế độ trợ cấp BHXH là lớn nhất,
quan trọng nhất. Các khoản chi quản lý hành chính (QLHC) và chi cho đầu tư là
không cố định phụ thuộc vào quy mô tổ chức, cách quản lý của một hệ thống
22
BHXH ở từng nước. Chi trả các chế độ BHXH là chi trả theo luật định ở mỗi nước,
phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH, thường bao gồm các
khoản sau:
- Phương thức chi trợ cấp hưu trí xác định định mức đồng nhất, coi là mức
tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia. Một số nước lại định mức trợ
cấp theo thu nhập đã từng có của người lao động trước khi nghỉ hưu. Một nhóm
khác kết hợp cả hai cách: trong phần trợ cấp có phần cơ bản là một mức đồng nhất
cộng thêm phần tỷ lệ theo mức thu nhập. Tuy nhiên, xu hướng chung là trợ cấp theo
mức thu nhập đã từng có của người lao động trước khi nghỉ hưu, phù hợp với đa số
trường hợp là đóng BHXH theo thu nhập.
- Chi trợ cấp ốm đau của quỹ BHXH nhằm bù đắp các chi phí y tế và thu
nhập cho người lao động khi gặp rủi ro ốm đau phải nghỉ việc. Để được nhận trợ
cấp này, người lao động phải có thời gian đã tham gia đóng BHXH theo quy định
tùy theo mỗi nước.
- Chi trợ cấp thai sản của các nước được áp dụng theo những cơ chế khác
nhau, tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội.
- Một số nước trên thế giới có quy định chi trợ cấp tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp phụ thuộc vào mức độ thương tật, nhưng với điều kiện không được bỏ
việc, không được phạm lỗi trong khi làm việc, không tham gia đình công. Phương
thức trợ cấp có thể là chi một lần hoặc dài hạn.
- Chi trợ cấp tử tuất được thực hiện ở hai nhóm nước khác nhau với hai cách:
về số tiền trợ cấp.
-
Rủi ro chi BHXH còn xuất hiện trong trường hợp đã chi nhưng trên thực tế
không xảy ra do gian lận.
-
Rủi ro chi BHXH còn phụ thuộc vào quá trình giao số tiền trợ cấp đến tay
người được hưởng có thể không đủ, mất mát.
• Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
* Nguyên nhân khách quan
Thông tin để làm căn cứ xét duyệt chi trợ cấp BHXH bị người được hưởng
khai man, thiếu chính xác.
* Nguyên nhân chủ quan
- Chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ xét duyệt, thẩm định chi yếu
kém sẽ không đủ cơ sở chứng minh đưa đến kết quả là thông tin bị giả mạo, chi
không hợp lý.
- Quá trình xét duyệt do một hoặc một số người đảm nhận nhưng nếu cá
nhân nào đó vì lợi ích riêng, hoặc mối quan hệ cá nhân nào đó hoặc có sự thông
đồng mà có sự xét duyệt không công bằng, khách quan sẽ xác định số chi vượt quá
quy định cho phép. Thông thường, số lượng đối tượng tham gia BHXH rất đông,
trong tổ chức phải phân chia thành nhiều nhóm để quản lý từng đối tượng. Điều này
dễ dẫn đến sự thông đồng do có mối liên hệ lâu dài, mà không có sự kiểm soát lẫn
nhau, dễ dẫn đến sự chủ quan trong vấn đề chi trả.
- Một số chế độ có sự chi trả trực tiếp bằng tiền thông qua cán bộ chi trả
có thể bị mất mát, biển thủ vì lợi ích cá nhân, không kiểm soát được trực tiếp.
- Việc xác định mức trợ cấp được hưởng phải dựa trên quá trình xét
hội nói trên, nguồn do người lao động và người sử dụng lao động góp là quan trọng,
chủ yếu nhất. Nhưng quá trình quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động và
người lao động cũng phức tạp và khó khăn nhất.
Các căn cứ cơ sở pháp lý thực hiện quản lý thu bảo hiểm xã hội:
- Ngày 23/6/1994 Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội thông qua, tại Chương
25
XII quy định ‘‘Loại hình tham gia BHXH áp dụng đối với doanh nghiệp có sử dụng
từ 10 lao động trở lên. Ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người
lao động phải đóng BHXH theo quy định...’’
- Ngày 17/3/1994 Liên Bộ Tài chính - Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
(1994) ban hành Thông tư Liên bộ số 19/TT-LB hướng dẫn tạm thời về thu quỹ
15% BHXH do ngành Lao động Thương binh và Xã hội quản lý.
- Ngày 14/4/1994 Liên Bộ Tài chính - Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
ban hành Thông tư Liên bộ số 33/TT-LB hướng dẫn bổ sung thông tư số 19/TT-LB
ngày 17/3/1994 về việc quản lý thu-chi quỹ BHXH do ngành Lao động Thương
binh và Xã hội quản lý.
- Ngày 29/6/2006, Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội.
- Ngày 22/12/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số
152/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều Luật BHXH về Bảo hiểm
xã hội bắt buộc.
- Ngày 25/10/2011 Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quyết định số
1111/QĐ-BHXH về phương pháp lập và biểu mẫu quản lý thu BHXH, BHYT,
BHTN.
- Ngày 12/4/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2012/NĐCP quy định về mức lương tối thiểu chung.
Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH tập trung chính vào các nội dung:
* Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và phải đóng bảo hiểm xã