BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT THỂ LOẠI VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4 ; 5 - Pdf 34

[Type here]

MỤC LỤC
Trang
I. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ.........................................................................….2
II. TÊN SÁNG KIẾN...................................................................................................
III. LĨNH VỰC:............................................................................................................
IV.MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN……………………………2 - 16
1/ Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
2/ Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến.
3/ Nội dung sáng kiến
V. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.................................................................................16-17
VI. MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG....................................................................................18
VII. KẾT LUẬN...................................................................................................18 -19

. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt Lớp 4, Lớp 5 hiện hành.
2- Để làm tốt bài văn miêu tả. Tác giả : Phạm Trung Kiên
3- Học tốt Tiếng Việt 5 (Tập 1, Tập 2)- Tác giả: Phạm Thị Hồng Hoa.
4- Luyện tập cảm thụ văn học ở Tiểu học- Tác giả: Trần Mạnh Hưởng.
5- Cuộc sống quanh ta. ( Tập chí Thế giới tự nhiên )
6- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
7- Phương pháp luyện từ và câu Tiểu học (Lớp 4)- Tác giả: Trần Đức Niềm, Lê Thị
Nguyên, Ngô Lê Hương Giang.

1


[Type here]

-------------------PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LĨNH VỰC: Phân môn Tập làm văn của môn Tiếng Việt lớp 4 ; 5

IV.

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:

Thực trạng học sinh:
Năm (2013 – 2014), tôi được phân công phụ trách lớp 4B với 36 học sinh. Hầu
hết 36 học sinh của lớp 4B tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài Tập làm văn.
Sau khi nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tôi nhận thấy học sinh lớp 4 đã
được học văn miêu tả về đồ vật, cây cối, con vật. Nhưng qua khảo sát chất lượng
đầu năm học ( 2014 – 2015 ) ở lớp 5B, đã có hơn 50% học sinh bị đánh giá chưa
hoàn thành về Tập làm văn, dẫn đến môn Tiếng Việt của lớp tôi từng chủ nhiệm
chưa hoàn thành chiếm 30%. Đều đó đã khiến tôi mài mò nghiên cứu để khác phục
thực trạng trên.
2


[Type here]

Các hạn chế của học sinh là:
Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.
Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng. Nhiều
em chưa biết dừng lại để nói kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.
 Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát sự vật còn hời
hợt.
 Các em chưa biết cách dùng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm văn


ĐẶT VẤN ĐỀ :
Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng là
vấn đề được nhiều giáo viên tiểu học quan tâm. Chương trình thay sách tiểu học
phát huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Học sinh tiểu học
ngay từ lớp 1, 2, 3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác nhau, có nội dung
gần gũi trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với cộng đồng. Đó là một
3


[Type here]

ưu điểm không ai phủ nhận. Tuy nhiên, chương trình mới chuyển tải sự thay đổi cả
về nội dung và kỹ năng rèn luyện lẫn hình thức, biện pháp và quy trình lên lớp . Là
giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp 4, 5 không ai tránh khỏi những trăn trở, băn
khoăn là làm thế nào giúp học sinh rèn luyện tốt kỹ năng làm bài Tập làm văn, nhất
là văn miêu tả.
Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một tuổi đã biết
nói, năm sáu tuổi đã biết đọc, đã biết viết Tiếng Việt ? Chúng ta đã tự hào tiếng Việt
ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc. Nhưng một
thực tế làm buồn lòng những thầy cô giáo chúng tôi vì học sinh giỏi phân môn Tập
làm văn còn quá khiêm tốn. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã
biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về từ,
diễn đạt rườm rà tối nghĩa. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy- học Tập
làm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 4, lớp 5? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi
trên là một quá trình và cũng là mục đích cần hướng đến của các kỹ sư tâm hồn.
Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích thực
trạng và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm
văn miêu tả.
Với những lý do trên, tôi chọn và viết đề tài : “ Một số biện pháp giúp học

 Dạy Tập làm văn lớp 4 ; 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức,
kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến
thức, kĩ năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của Bộ
GD-ĐT) và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn 896”
của Bộ GD-ĐT đã đề ra.
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao
cho phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt lớp 4,
lớp 5.
3. Nội dung sáng kiến:
NỘI DUNG:
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm
vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện
pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng phân môn Tập làm văn cho lớp
tôi.
VĂN MIÊU TẢ LỚP 4
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lý thuyết văn miêu tả cho học
sinh lớp 4.
Biện pháp 1: Phân tích mẫu
Phân tích mẫu để giúp HS hiểu thấu đáo mẫu đã nêu ra và làm theo mẫu. Để
làm được điều này, GV cần phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết
hợp tổ chức nhiều hình thức dạy học phong phú. Trong biện pháp này, tôi thường sử
dụng phương pháp quan sát để học sinh quan sát mẫu, đọc thầm mẫu. Sau đó sử
dụng phương pháp vấn đáp gợi mở để HS hiểu mẫu giúp cho việc định hướng bài
học tốt hơn. Sau đó, GV sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, tóm những điều
cơ bản mẫu nêu ra.
Chẳng hạn, khi day bài: “Thế nào là miêu tả?”
HS đọc yêu cầu, đọc thầm mẫu (hình thức học cá nhân)
GV yêu cầu học sinh quan sát mẫu và trả lời câu hỏi (phương pháp quan sát,
phương pháp hỏi đáp, hình thức học cả lớp).
Hỏi: Tên sự vật đầu tiên được miêu tả là gì ?

- Hướng dẩn HS trao đổi, thảo luận nhằm rút ra những nhận xét về đặc điểm
văn miêu tả.
- Ví dụ dạy bài:” Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối” ( TV lớp 4 tập 2/31).
Giả sử dùng phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, GV đưa trực quan
tranh “Bãi ngô”. Sau đó mỗi cá nhân sẽ xác định đoạn văn và nội dung từng đoạn.
- GV cho HS đọc yêu cầu 2; 3 phần nhận xét, thảo luận nhón đôi 2 yêu cầu đó.
- HS trình bày kết quả thảo luận chính là các em được thực hành giao tiếp.
HS sẽ so sánh, đối chiếu, phân tích được trình tự miêu tả trong bài “Bãi ngô” là
theo từng thời kỳ phát triển của cây ngô.
Sau đó, GV dùng phương pháp vấn đáp gợi mở, phương pháp phân tích ngôn
ngữ.
Hỏi: Bài văn miêu tả những thời kỳ phát triển nào của cây ngô ?
+ HS dễ dàng nhận thấy được bài văn miêu tả cây ngô từ lúc còn bé lấm tấm như
mạ non, rồi tả cây ngô lúc trưởng thành, lá rộng dài, tiếp đến tả hoa ngô, bắp ngô
non ở giai đoạn đơm hoa kết trái, cuối cùng tả hoa ngô và lá ngô giai đoạn bắp ngô
mập, chắc.
Còn trình tự miêu tả trong bài “Cây mai tứ quý” theo từng bộ phận của cây.
Hỏi: Bài văn tả những bộ phận nào của cây mai tứ quý ?
- Tán, gốc, cành, cánh hoa, trái.
Bài văn đã sử dụng tự loại nào ? Biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả bộ phân đó?
- Bài văn sử dụng nhiều tính từ miêu tả như: xòe, vàng thắm, chín đậm. Biện
pháp nghệ thuật so sánh: Gốc lớn bằng bắp tay.
6


[Type here]

GV dùng phương pháp phân tích ngôn ngữ chốt lại nội dung yêu cầu 2: Bài văn
miêu tả cây cối có thể tả theo thứ tự từng bộ phân của cây (gốc, thân, cánh, lá, hoa,
quả) hoặc là từng thời ký pháy triển theo mùa trong năm.

- Theo em khi quan sát đồ vật cần chú ý những gì ?
- Học sinh trình bày kết quả thảo luận (rèn thực hành giao tiếp).
- GV sửa chữa bổ sung.
GV dùng phương pháp phân tích ngôn ngữ để HS thấy được: để miêu tả đồ vật
phải quan sát đồ vật. Cách quan sát từ hình dáng bên ngoài đến các bộ phận chính là
quan sát đồ vật theo tình tự hợp lý. Khi quan sát đồ vật sử dụng nhiều giác quan.
Cần tìm ra đặc điểm riêng của đồ vật, phân biệt đồ vật với đồ vật khác nhất là đối
với đồ vật cùng loại ( cùng là gấu bông nhưng có con lông màu đỏ, có con màu nâu,
có con mũi đỏ có con mũi đen.)
7


[Type here]

Tóm lại, biện pháp trên, HS tự hình thành lý thuyết về văn miêu tả về “Cấu tạo
bài văn miêu tả cây cối” và “Quan sát đồ vật”. Các em biết vận dụng lý thuyết văn
miêu tả để viết một bài văn miêu tả một loại cây, một đồ vật có bố cục rõ ràng, các
phần đủ ý, biết sử dụng nghệ thuật nhân hóa, so sánh, dùng từ gợi tả màu sắc, hoạt
động để bài văn thêm sinh động, giàu hình ảnh.
Biện pháp 3: So sánh tới nhận diện
Để giúp HS nhận ra một văn bản thuộc thể loại văn miêu tả, GV cần đặt bên
cạnh nó một văn tả khác, chẳng hạn như văn bản kể chuyện. GV yêu cầu HS phải
nêu ra được văn bản nào thuộc thể loại văn miêu tả và HS lý giải được vì sao nó là
văn bản miêu tả. Để làm được điều này GV cần sử dụng phương pháp quan sát,
phương pháp đối chiếu, phân tích, tổng hợp, phương pháp vấn đáp gợi mở để rút ra
kết luận cần thết về văn miêu tả.
Ví dụ: GV yêu cầu HS đọc bài “Cái nón” (TV 4tập II/11) và bài “Bốn anh tài”
(TV 4 tập II). Hãy cho biết văn bản nào la văn bản miêu tả ? Vì sao ?
GV sử dụng phương pháp quan sát, hình thức học cá nhân, yêu cầu HS đọc
thầm. Khảo sát 2 văn bản trên.

mục tiêu bài dạy, xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạy với kiến thức cũ
và kiến thức sẽ cung cấp tiếp theo. Cụ thể, giáo viên cần nắm vững những vấn đề
sau :
a. Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 5: Cả năm có 62 tiết trong đó Tập
làm văn miêu tả 33 tiết (chiếm hơn 50% số tiết) với mục tiêu là trang bị kiến thức
và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác làm giàu vốn
sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách
cho học sinh.
b. Biện pháp dạy học từng kiểu bài: Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu và
làm bài tập thực hành theo các biện pháp sau:
 Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập.
 Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập.
c. Trình tự dạy Tập làm văn:
Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự dạy đối với hai loại
bài Tập làm văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành. Khi dạy từng
loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nội dung cho
học sinh khá, giỏi; có nội dung cho học sinh trung bình, yếu,...
Ví dụ:
Muốn dạy học sinh làm văn miêu tả đạt yêu cầu thì giáo viên cần biết thế nào
là văn miêu tả, đặc điểm thể loại văn miêu tả, biết yếu tố nào là quan trọng và cần
thiết để giúp học sinh làm được bài văn miêu tả sinh động thông qua quan sát đối
tượng miêu tả (Nội dung này nằm trong bước chuẩn bị bài mới của giáo viên).

2. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy (Tiếng Việt 4 tập
1, trang 140), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp
người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn
miêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình
tự hợp lý :

trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì lạ này. Thân nó
khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...”.
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng.
Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học
sinh kĩ năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...) để quan
sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ 2:
Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy tác giả đã
quan sát bằng các giác quan như sau:
 Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
 Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
 Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những
trận mưa đầu mùa.
 Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng
hót của chào mào.

3. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài:
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu hàng
đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn
chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về
trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:
“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong
công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội dung
bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
10


xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong... là tuỳ thuộc đặc
điểm của cảnh.
c. Chọn nét tiêu biểu:
Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập trung làm nổi bật đặc điểm
đó lên, có thể tả xen hoạt động của người, của vật, ... trong cảnh để góp phần làm
cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn.
d. Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan:
Tả cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo trong
nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh như thế
nào sẽ đem đến cho cảnh những tình cảm như thế. Nhà thơ Lê Anh Xuân, trong
niềm vui của ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát khỏi ách ngoại
xâm, bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên:
“Bỗng thấy nội tôi trẻ lại
11


[Type here]

Như thời con gái tuổi đôi mươi.”
Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức sống.
e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh:
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh
hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang đứng
trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết.
Ví dụ :
Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm Đức
(Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi
nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà
lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.


[Type here]

b. Quan sát trò chuyện trực tiếp:
Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý
kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói,
cử chỉ, thao tác lúc làm việc…để rút ra nét nổi bật... (chọn và quan sát người định tả
trong thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà). Ta cũng cần dùng cách quan sát gián tiếp là
thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về người định tả để bổ sung
những thông tin cần thiết.
c. Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động:
Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt,từng bộ phận để tả nhưng để nội dung
bài văn miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết
đan xen với tả hoạt động.
d. Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình:
Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về người
đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ, vẽ nên một
hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu sự chân thật
làm người đọc cảm thấy khó chịu. Thầy cô giáo cần lưu ý học sinh rằng, trong mỗi
con người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao giờ cũng nhiều hơn
( đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn….) Nếu học sinh phát hiện, cảm
nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho bài văn miêu tả của các em
sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ chấp nhận hơn.
Ví dụ:
Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào
Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì
không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.”
“Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ
cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì cần
cơm và lao động để sống .”

dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp đồng lúa
chín vàng...
b. Sử dụng từ ngữ trong miêu tả:
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh các cách
sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối (đỏ
mọng, đặc sệt, trong suốt...), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hoá,
ẩn dụ...).
Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ...”
Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng chim...
báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời... nhô lên sau luỹ tre xanh. Khói bếp
nhà ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường làng đã...
người qua lại.”
Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các câu
văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh, dải lụa,
giọng bà tiên).
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao )
- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất.
( thuỷ tinh )
- Giọng bà trầm ấm ngân nga như...
( tiếng chuông )
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS phải
suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ.
6. Lập và hoàn thiện dàn ý
Để làm một bài văn đúng trình tự, đầy đủ nội dung, hay về ý tứ lời văn, đẹp về
hình ảnh sống động, dùng từ viết câu chính xác, rõ ràng... đòi hỏi học sinh phải có
vốn kiến thức về từ ngữ, kiến thức về câu, về cách xây dựng văn bản.
Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả rồi, giáo viên cần tổ
chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Mục đích xây
dựng dàn ý là giúp học sinh xác định được đúng yêu cầu của từng phần: mở bài,
thân bài, kết bài, xác định thể loại và đối tượng miêu tả để tránh tình trạng học sinh

nghiệm (TV5- T1- T53).
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của học
sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách
bài bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.
 Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
o Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh đọc
đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình
hình làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số
bài chưa đạt hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp...).
o Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của
kiểu bài tả cảnh,( tả người )… Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh nghe
và nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.
 Hoạt động 2: Chữa bài:
Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:

Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài làm của cả lớp mà
trong quá trình chấm bài, GV đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính
tả … Đến lúc này GV tổ chức, hướng dẫn cho HS nhận xét, sửa chữa. Định hướng
15


[Type here]

như vậy sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kĩ năng diễn đạt
cho lớp. Tuy nhiên, sửa như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhàm chán trong HS vì tiết
trả bài nào cũng sửa chữa những lỗi đó.

Riêng tôi, ngay từ đầu năm học đã lên kế hoạch sửa lỗi diễn đạt
cho lớp, mỗi tiết trả bài viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai loại lỗi nào đó
một cách bền vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.


CHẤT LƯỢNG TẬP LÀM VĂN LỚP 4B NĂM 2014 – 2015
Diễn biến chất lượng Tập làm văn:
Điểm 5
Điểm 4
Số
Thời điểm
HS SL Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
Học kì I
31 8 26,4%
7
25,6%
Học kì II

31

12

38,4 %

10

Điểm 3
SL
Tỉ lệ
10
32 %


Học kì II

31

20

Điểm
7- 8
SL Tỉ lệ
10 32 %

64 %

8

Điểm
5-6
SL Tỉ lệ
3
9,6 %

26,4 %

3

Điểm
1,2,3,4
SL Tỉ lệ
2 6,4 %


33,6 %

Điểm 3
SL
Tỉ lệ
9 24,4 %
7

19,6 %

Điểm 1, 2
SL
Tỉ lệ
5
14 %
2

5,6 %

Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt (Điểm kiểm tra):
Thời điểm

Số
HS

Học kì I

36

Điểm

5,6 %

Điểm
1,2,3,4
SL Tỉ lệ
3 8,4 %
0

0%


[Type here]

Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật
tốt Chất lượng phân môn Tập làm văn đi lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc
nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt của lớp và của tổ chuyên môn.
VII.MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG:
Biện pháp này có thể áp dụng cho thể loại văn miêu tả ở phân môn tập làm
văn của môn Tiếng Việt lớp 4 ; 5.
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học ( nhất là văn miêu tả ở lớp 4 ;
5) tôi xin có mấy đề nghị sau :
1. Đối với cấp trên : Cần điều chỉnh phân phối chương trình Tập làm văn lớp
4-5 để có thêm số tiết Tập làm văn viết và trả bài.
2. Đối với BGH nhà trường : Cần cho áp dụng đối với các lớp khối 4,5 trong
trường, nhằm rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng
dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng.
3. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4; 5 : Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về
phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn ( từng thể loại,
từng kiểu bài cụ thể ) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ động nói
lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ

chắc chắn sẽ gặt hái được thành cơng.

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường và các bạn
đồng nghiệp của trường Tiểu học A Kiến Thành đã giúp tôi hoàn
thành đề tài sáng kiến kinh nghiệm này. Tôi rất vui được chia sẽ
những hiểu biết của mình với q thầy cô.
Tơi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến
……………………………………………
……………………………………………
……………………………………………
……………………………………………
……………………………………………
……………………………………………

19

Người viết sáng kiến

NGƠ MINH TẤN




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status