LỜI NÓI ĐẦU
1.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, vấn đề lạm phát trong nước cao. Tăng trưởng kinh tế
duy trì ở mức thấp và còn nhiều điểm cần khắc phục, dư địa của chính sách tài
khóa bị thu hẹp, tiến độ cải cách doanh nghiệp nhà nước còn chậm chạp, tỷ lệ nợ
xấu trong khu vực ngân hàng còn cao và có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh
vực bất động sản,.. Những vấn đề trên đã trực tiếp gây ra tình trạng rủi ro, bất ổn
đe dọa hệ thống ngân hàng. Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng
cao hơn trước. Môi trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn,
chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín
dụng. Trong giai đoạn 2008 - 2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân
26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%. Tốc độ tăng trưởng dư
nợ tín dụng từ năm 2011 chậm lại đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầu năm 2012 dư
nợ tín dụng không tăng nhưng nợ xấu tăng tới 45,5% do tình hình kinh doanh và
tài chính của các DN suy giảm mạnh ( Theo Trang Nhịp sống kinh tế Việt Nam và
thế giới). Để từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng
nhằm khơi thông dòng vốn trong hệ thống các TCTD, bảo đảm an toàn hoạt động
ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ vốn tích cực cho nền kinh tế,
cần triển khai một số giải pháp quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng.
Với thị trường tài chính đang đối diện với những bất ổn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, thì
việc đo lường và quản trị rủi ro tín dụng hết sức quan trọng. Việc đo lường rủi ro
tín dụng là một phương pháp cần thiết trong việc nhận diện, đánh giá và dự báo
tình hình tài chính của mỗi khách hàng, mỗi doanh nghiệp. Mô hình dự báo kiệt
quệ tài chính của doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng trên mô hình hình nhị
phân (binary logistic) dựa trên các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính của Platt,
H.D và Platt, M.B (2006). Mô hình Binary Logistic ước lượng xác suất kiệt quệ
tài chính của doanh nghiệp, xem xét mức ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến
tình hình doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các hành
động kịp thời nhằm tránh khỏi tình trạng kiệt quệ tài chính, giúp các NHTM đưa
niêm yết là các doanh nghiệp có quy mô tương tự đang hoạt động tốt trên thị trường
làm đối tượng nghiên cứu. Từ đó, các ngân hàng thương mại nói chung, ngân hàng
Kiên Long nói riêng, có thể ước lượng được khả năng kiệt quệ tài chính và đưa ra
quyết định cho vay đối với DN vay vốn.
b. Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng nguồn dữ liệu từ cơ sở dữ liệu các năm của các công ty được niêm yết
trên sở giao dich chứng khoán HOSE và HNX. Thu thập số liệu từ báo cáo tài
chính của 84 công ty đang hoạt động và hủy niêm yết trên sàn giao dịch. Trong
nghiên cứu này, tôi phân loại quan sát thành hai loại: những quan sát rơi vào tình
trạng kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 0; những quan sát không
bị kiệt quệ hay tình hình tài chính ổn định được gán giá trị biến phụ thuộc là 1. Để
giải quyết vấn đề biến phụ thuộc là nhị phân, tôi sử dụng mô hình Logistic trong
bài nghiên cứu này.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết hợp kiến thức kinh tế và sử dụng các mô hình, phần mềm hỗ trợ để phân
tích rủi ro tín dụng trong Ngân hàng, đồng thời kiến nghị một số giải pháp
nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các nhà quản lý. Kết hợp phương pháp thống
2
kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích những số liệu, tổng hợp dữ liệu,
chạy mô hình và kiểm định.
5.
KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Bài khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận về nghiệp vụ tín dụng ở ngân hàng thương mại cổ
phần Kiên Long và mô hình hồi quy Binary Logistic
Chương 2. Thực trạng tình hình tín dụng doanh nghiệp và xây dựng mô
hình các nhân tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp
Đức vào ngày 17 tháng 07 năm 2009, tại số 15 – 17 Đường Võ Văn Ngân, Phường
Linh Chiểu, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh.
Năm 2014 là năm thứ 4 Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
giai đoạn 2011-2015. Trong năm 2014, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam diễn ra
trước bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp. Kinh tế thế giới phục
hồi chậm hơn so với dự báo. Xung đột mâu thuẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là
tình hình căng thẳng trên biển Đông. Trước tình hình đó, mặc dù thống kê cho thấy
kinh tế Việt Nam đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi, nhưng năng suất và sức cạnh
tranh của nền kinh tế vẫn chưa mấy được cải thiện.
4
Hệ thống ngân hàng, vốn được đánh giá là xương sống của nền kinh tế, vẫn còn
gặp nhiều khó khăn trong năm vừa qua. Tính đến cuối năm 2014, tín dụng toàn hệ
thống tăng hơn 11%, tỷ lệ nợ xấu xấp xỉ 3,9%, tăng so với mức 3,61% so với năm
2013.
Trong bối cảnh kinh tế trong nước và ngành ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn và
đang trên đà phục hồi, Ngân hàng Kiên Long không phải là ngoại lệ, song với sự
nỗ lực Kienlongbank đã khắc phục những khó khăn, thách thức, duy trì hoạt động
luôn ổn định, an toàn và hiệu quả, hoàn thành mục tiêu 2014.
Tổng tài sản năm 2014 đạt là 23.103.925 triệu đồng, tăng 8,10% so với năm 2013.
Nguồn vốn huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế đạt 16.570.527 triệu đồng, tăng
24,56% so với năm 2013. Lợi nhuận trước thuế 233.711 triệu đồng. Nợ xấu được
kiểm soát ở mức 1,95% tương ứng 264.224 triệu đồng.
Bảng 1.1 Tổng tài sản của KLB giai đoạn 2012-2014.
ĐVT: Triệu Đồng
Chỉ tiêu
Tổng tài sản
Năm
(40,59)%
Tổng tài sản
8,1%
Vốn chủ sở hữu
(3,2)%
Vốn điều lệ
-
Nguồn vốn huy động
10,56%
Dư nợ cho vay
11,53%
Nguồn: Báo cáo tài chính KLB
Bảng 1.4: Nhóm chỉ số Thanh toán 2014
Năm 2014
Dư nợ cho vay/Nguồn vốn huy động
0,70 lần
Tính đến thời điểm 31/12/2014, tỷ lệ nợ xấu của Kienlongbank chỉ chiếm 1,95%
% tổng dư nợ và vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn mà Ngân hàng Nhà nước cho phép
(nhỏ hơn 3%).
Trong năm 2014, Ngân hàng Kiên Long thực hiện tăng trưởng tín dụng theo
đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước (tăng trưởng tín dụng 15%). Tổng dư
nợ cho vay (31/12/2014) là 13.526 tỷ đồng, tăng 11,52 % so với năm 2013 và
đạt 100,14% kế hoạch năm 2014 ( kế hoạch năm 2014 : 13.341 tỷ đồng).
Bảng 1.6: Tăng trưởng dư nợ tín dụng tín đến 31/12/2014
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Dư nợ tín dụng
Năm
2012
9.683.477
2013
12.128.627
2014
13.526.466
1.1.3 Cơ cấu tổ chức của NH Kiên Long.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHKL
7
Khối tín dụng - đầu tư
Khối ngân quỹ
Phòng KHDN
Phòng QLV & KDNT
Phòng QLRR
Phòng NS
Phòng KHTH
Phòng KHCN
Phòng kho quỹ
Phòng KSNB
Phòng HC - QT
Phòng KTTC
Phòng Đầu tư
Phòng PC & XLN
Phòng CNTT
biến động trên thị trường về hoạt động tín dụng, huy động vốn, dịch vụ,…Từ đó,
tham mưu kịp thời Ban Tổng Giám đốc đề ra những quyết định đúng đắn nhằm
hạn chế tối đa những rủi ro trong kinh doanh, giúp cho hoạt động của Ngân hàng
ngày càng an toàn và hiệu quả.
Phòng kế toán tài vụ: Tổ chức và thực hiện công tác hạch toán kế toán toàn
hệ thống một cách đầy đủ và chính xác theo đúng quy định của Nhà nước và của
Ngân hàng. Phối hợp với các phòng ban tham mưu cho Ban lãnh đạo thực hiện
chế độ tài chính trong toàn hệ thống một cách an toàn, hiệu quả và tiết kiệm theo
đúng quy định.
Phòng tổ chức hành chánh: Tham mưu cho Ban Giám đốc trong công tác
quy hoạch đào tạo cán bộ của Ngân hàng, đề xuất các vấn đề có liên quan đến
công tác nhân sự, ngoài ra còn là bộ phận thực hiện các chế độ lao động, tiền
lương, thi đua khen thưởng và kỷ luật.
Thực hiện nhiệm vụ soạn thảo các văn bản về nội quy cơ quan, chế độ thời gian
làm việc, thực hiện các chế độ an toàn lao động, qui định phân phối quỹ tiền
lương, xây dựng chương trình nội dung thi đua nhằm nâng cao năng suất lao
động.
Phòng tiếp thị: Thực hiện việc phát triển thương hiệu, quảng cáo, quảng bá
sản phẩm, thực hiện các chương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng, các
hoạt động xã hội và tham gia tài trợ cho các sự kiện văn hóa, thể dục thể thao,…
Phòng đầu tư và ngân quỹ: Hoàn thiện xây dựng các quy trình, quy chế
nghiệp vụ hoạt động. Thực hiện công tác kho quỹ theo quy định của Nhà nước
và Ngành Ngân hàng về an toàn kho quỹ.
Phòng công nghệ thông tin: Từng bước triển khai dự án hiện đại hóa công
nghệ Ngân hàng. Lắp đặt và hướng dẫn nhân viên áp dụng các phương tiện kỹ
thuật hiện đại.
Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ: Thực hiện công tác kiểm tra nội bộ trong
toàn Ngân hàng.
9
trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng.
Nhìn chung, NHKL hiện có mô hình cơ cấu tổ chức chặt chẽ, gồm nhiều bộ phận
với mỗi bộ phận, mỗi phòng đảm nhiệm một phần công việc nhất định thể hiện
tính chuyên môn hóa cao. Hệ thống phân cấp, bậc rõ ràng, phân chia chức năng
nhiệm vụ của từng phòng ban, từng cá nhân trong tổ chức nên đạt hiệu quả cao
trong công việc. Ngoài ra, KLB còn có đội ngũ cán bộ có năng lực, giàu kinh
nghiệm, có tầm nhìn chiến lược, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.
Mỗi phòng ban có một trưởng phòng hay một người quản lý, kiểm soát, đôn đốc
nên công việc luôn tiến hành tốt. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức còn đặt ra cho bộ
máy quản lý một số tồn tại. Do phân chia thành nhiều phòng, nhiều bộ phận nên
gây tốn kém chi phí quản lý. Nhìn vào mô hình cho thấy, ban điều hành sẽ phải
kiểm soát tất cả các phòng ban chức năng, các chi nhánh, phòng giao dịch. Do
đó, khối lượng công việc của ban điều hành rất lớn, việc kiểm soát, giám sát và
tổng công việc sẽ gặp khó khăn. Ngân hàng chưa có chính sách thu hút những
10
người lao động trẻ có trình độ đào tạo cao, nhiệt tình năng động và thích ứng
nhanh với sự thay đổi của môi trường cạnh tranh.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC SUẤT VỠ NỢ
Theo Luật phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được
các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
Xác suất phá sản là khả năng doanh nghiệp bị phá sản trong tương lai và thường
được thể hiện bằng con số phần trăm (%).
Trong thẩm định giá, xác suất phá sản là một tham số tài chính có ảnh hưởng trực
tiếp đến giá trị doanh nghiệp, một doanh nghiệp có xác suất phá sản càng lớn thì
giá trị doanh nghiệp sẽ giảm xuống và ngược lại.
1.2.1 Mô hình Z-core.
Một trong những mô hình dự báo xác suất phá sản, mô hình chỉ số Z (Z-core) của
giáo sư người Mỹ Edward I. Altman, trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc
Xếp hạng
Xác suất phá sản
5 năm
10 năm
AAA
0.03%
0,03%
AA
0,18%
0,25%
A+
0,19%
0,40%
A
0,20%
0,56%
B-
31,10%
42,12%
CCC
39,15%
51,38%
CC
48,22%
60,40%
C+
59,36%
69,41%
C
69,65%
77,44%
100%
BB
12.2 %
C
80%
BBB
2.30 %
CC
65%
A-
1.41 %
CCC
46.61%
A
0.53 %
tốt chuyên môn nghiệp vụ của mình và làm việc một cách nghiêm túc. Việc TĐV
dựa vào kết quả xếp hạng trái phiếu của các cơ quan xếp hạng làm căn cứ ước tính
xác suất phá sản của doanh nghiệp đó cũng đồng nghĩa với việc giao trách nhiệm
ước tính xác suất vỡ nợ cho các cơ quan xếp hạng.
- Giả định các tiêu chuẩn xếp hạng không thay đổi theo thời gian.
- Phương pháp này đo lường khả năng vỡ nợ trên kết quả xếp hạng trái phiếu của
doanh nghiệp, nhưng phương pháp không đề cập đến việc những công ty vỡ nợ có
ngừng kinh doanh hay không?
Thực tế, nhiều công ty vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù kết quả xếp hạng trái phiếu
của doanh nghiệp có tạo ra mối lo ngại cho việc vỡ nợ.
1.3 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÁC SUẤT VỠ NỢ
VÀ MÔ HÌNH BINARY LOGISTIC
Nghiên cứu xác suất vỡ nợ của các ngân hàng Nga của Alexander M. Karminsky
và Alexander Kostrov (2014) so sánh một số mô hình để ước lượng xác suất phá
sản của các ngân hàng Nga bằng việc sử dụng số liệu thống kê quốc gia 19982011, và thấy rằng mô hình hồi quy nhị phân logit với một cấu trúc dữ liệu quasipanel tốt nhất. Kết quả chỉ ra rằng có một mối quan hệ hình chữ U bậc hai giữa tỷ
lệ an toàn vốn của một ngân hàng và xác suất vỡ nợ. Ngoài ra, kinh tế vĩ mô và các
13
yếu tố thời gian cải thiện đáng kể tính chính xác của mô hình. Những kết quả này
là hữu ích cho các cơ quan quản lý tài chính quốc gia, cũng như cho các nhà quản
lý rủi ro trong ngân hàng thương mại.
Ước lượng Bayes về xác suất vỡ nợ của Hannes Kazianka (2015) ước tính độ tin
cậy của các xác suất vỡ nợ (PD) của một khách hàng, là một trong những nhiệm
vụ quan trọng nhất trong mô hình rủi ro tín dụng cho các ngân hàng áp dụng các
phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ trong khuôn khổ Basel II-III. Với
mong muốn để phân tích độ tin cậy một danh mục phá sản thấp của các công ty
nhà ở phi lợi nhuận, nghiên cứu xem xét PD dự toán trong một khuôn khổ Bayes
và phát triển mục tiêu cho các tham số θ đại diện cho PD trong mô hình Gaussian
và mô hình một nhân tố Student t. Cuối cùng, việc phân tích các danh mục công ty
đối lập nhau trong một thể thống nhất của quá trình kinh doanh, chúng luôn tồn tại
và mâu thuẫn với nhau. Muốn quá trình kinh doanh tồn tại và phát triển kinh doanh
phải khống chế được rủi ro.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ (rủi ro mất khả năng chi
trả) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng (rủi ro sai hẹn).
Căn cứ vào khoản 1 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD (Ban hành
theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005), rủi ro tín dụng được định
nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là
khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo
cam kết”.
Như vậy, có thể nói rằng, rủi ro tín dụng xuất hiện trong mối quan hệ kinh tế trong
đó ngân hàng là chủ nợ và khách hàng đi vay thực hiện không đúng cam kết trả nợ
đã được thảo thuận trong hợp đồng tín dụng.
1.4.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng.
1.4.1.2.1 Các nguyên nhân khách quan.
Nguyên nhân từ chính trị pháp luật
Hoạt động của ngân hàng luôn chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị và hệ
thống pháp luật cụ thể. Mỗi khi môi trường chính trị có biến động hoặc pháp luật
thay đổi thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nếu như trong nước diễn ra sự mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức tình hình
kinh tế của đất nước sẽ thay đổi theo chiều hướng xấu, kinh doanh bị ngừng trệ,
thu nhập giảm. Do đó khả năng trả nợ của ngân hàng giảm làm cho rủi ro tín dụng
có nguy cơ gia tăng. Chính sách hay pháp luật thay đổi thường xuyên, không nhất
quán, mâu thuẫn, không rõ ràng cũng làm gia tăng rủi ro tín dụng. Chẳng hạn nhà
nước có chính sách tăng thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm cho khả năng trả nợ
của khách hàng giảm, rủi ro tín dụng tăng lên.
Như vậy tác động xấu từ sự bất ổn định của môi trường chính trị và hệ thống pháp
1.4.1.2.2 Các nguyên nhân chủ quan.
Nguyên nhân từ phía khách hàng.
Khả năng quản lý kinh doanh yếu kém
Khả năng quản lý yếu kém thể hiện ở những chiến lược sai lầm, thiếu tầm nhìn,
thiếu tập trung và thiếu kiểm soát. Do hạn chế kinh nghiệm, năng lực chuyên môn,
nên các DNNVV rất khó khăn đối phó với những biến động lớn của thị trường,
làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH. Ngoài ra, quản trị nhân sự yếu kém, quản
trị yếu tố đầu vào, đầu ra không hiệu quả, công tác Marketing không được chú
trọng...cũng là những biểu hiện sự yếu kém trong quản lý mà NH cần phải xem xét
để tránh rủi ro.
Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các DNNVV.
Ngoài ra, các DNNVV chưa chấp hành nghiêm chỉnh và trung thực những chuẩn
16
mực kế toán. Do vậy, sổ sách kế toán mà DNNVV cung cấp cho ngân hàng không
phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình tài chính của DN. Điều này gây khó khăn
cho cán bộ ngân hàng khi phân tích khách hàng và đánh giá khả năng trả nợ của
khác hàng. Đây cũng là nguyên nhân vì sao các NHTM luôn xem nặng phần tài
sản đảm bảo khi quyết định cho vay với DNNVV.
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay
Khi nước ta gia nhập WTO, với chính sách phát triển kinh tế, các DNNVV được
thành lập một cách đễ dàng. Khi cấp phép thành lập DN, các cơ quan chức năng
hầu như không kiểm tra đến việc các DN đó có vốn đúng như đăng ký hay không,
không kiểm tra xem các DN đó hoạt động như thế nào. Chính vì vậy đây là một
khẽ hở để một số kẻ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của NH. Họ cứ thành lập DN rồi đi
không có thái độ thận trọng đối với vấn đề rủi ro, hoặc do thiếu thông tin trong quá
trình đưa ra quyết định cho vay. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sai sót trong
quá trình cấp tín dụng, dẫn đến rủi ro.
Sự hợp tác lỏng lẻo giữa các NHTM
Kinh doanh NH là một nghề đặc biệt, đi vay để cho vay và rủi ro trong kinh doanh
NH mang tính chất dây chuyền. Do vậy các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau
nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng
một khách hàng khi khách hàng đó vay tiền tại nhiều NH. Nếu thiếu sự trao đổi
thông tin dẫn đến nhiều NH cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới
hạn cho phép thì rủi ro sẽ chia đều cho tất cả NH.
1.4.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động và đo lường rủi ro tín dụng.
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM. Do đó, đo lường chất lượng
tín dụng là một nội dung quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh
doanh của NHTM. Tùy theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu
khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên
hệ mật thiết với nhau.
Chỉ tiêu sử dụng vốn
Hệ số sử dụng vốn=
ồ
ố
ử ụ
độ
ố
x 100%
Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép đánh giá tính hiệu
năng mất vốn. Ba nhóm nợ này là cơ sở để đo lường chất lượng tín dụng của
NHTM. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì nợ có vấn đề càng lớn, tuy nhiên không phải
khoản nợ xấu nào cũng dẫn đến RRTD vì về mặt định tính có thể có nhưng món
nợ nằm trong nhóm này nhưng không phải do đọng vốn cũng không hẳn do mất
vốn.
Chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn tín dụng (vòng quay vốn tín dụng)
Doanh số thu nợ trong năm
Vòng quay vốn tín dụng trong năm =
Dư nợ bình quân trong năm
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mất lần
trong một năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân
hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tỷ lệ lãi treo
Lãi treo
Tổng dư nợ
Lãi treo là số tiền khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán lãi. Lãi treo
càng lớn thì quỹ dự phòng lãi phải thu càng cao. Đây cũng là một dấu hiệu quan
trọng để nhận biết RRTD vì lãi không thu được thông thường sẽ dẫn đến mất vốn.
Trên thực tế đa số các NHTM thay tỷ lệ này bằng các tỷ lệ lãi suất đầu ra để so
sánh với lãi phải thu.
Ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng trên, hiện nay nhiều ngân hàng cũng
đã sử dụng các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng tín dụng như việc tuân thủ
các quy chế, chế độ thể lệ tín dụng, lập hồ sơ cho vay, phương án sản xuất kinh
doanh có hiệu quả,…
Tỷ lệ lãi treo =
19
1.5 GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC.
P(Y=1) =
Vậy thì xác suất không xảy ra sự kiện là:
P(Y=0)=1- P(Y=1) =1Thực hiện phép so sánh giữa xác suất một sự kiện xảy ra với xác suất sự kiện đó
không xảy ra, tỷ lệ chênh lệch này có thể được thể hiện trong công thức:
20
( = 1)
= 1+
( = 0) 1 −
1+
Lấy Log cơ số e hai vế của phương trình trên rồi thực hiện biến đổi vế phải ta
được kết quả là
(
)
[
] = + 1 (*)
(
)
Ta có thể mở rộng mô hình Binary logistic cho 2 hay nhiều biến độc lập
1.5.2.1 Diễn dịch các hệ số hồi quy của mô hình Binary Logistic.
Tên gọi hồi quy Binary logistic xuất phát từ quá trình biến đổi lấy logarit của thủ
tục này. Sự chuyển hóa cho các hệ số của hồi Binary logistic có nghĩa hơi khác với
hệ số hồi quy trong trường hợp thông thường với các biến phụ thuộc dạng thập
phân. Đó là: từ công thức (*) ta hiểu hệ số ước lượng
thực ra là sự đo lường
những thay đổi trong tỷ lệ(được lấy logarit) cùa các xác suất xảy ra sự kiện với 1
đơn vị thay đổi trong biến phụ thuộc X1.
( = 1)
lấy ước lượng của hệ số hồi quy của biến độc lập trong mô hình (hệ số hồi quy
mẫu) Binary logistic chia cho sai số chuẩn của hệ số hồi quy này, sau đó bình
phương lên theo công thức sau:
Wald Chi- Square =
=
. .
. .
1.5.2.4 Kiểm định mức độ phù hợp tổng quát.
Ở hồi quy Binary logistic, tổ hợp liên hệ tuyến tính của toàn bộ các hệ số trong mô
hình ngoại trừ hằng số cũng được kiểm định xem có thực sự có ý nghĩa trong việc
gỉai thích cho biến phụ thuộc không. Với hồi quy tuyến tính bội ta dùng thống kê
F để kiểm định giả thuyết
: ρ1 = ρ2 = … = ρk = 0, còn với hồi quy Binary
logistic ta dùng kiểm định Chi Square. Căn cứ vào mức ý nghĩa mà SPSS đưa ra
trong bảng Omnibus Tests of Model Coefficients để quyết định bác bỏ hay chấp
nhận . [4]
1.5.2.5 Các phương pháp đưa biến độc lập vào mô hình hồi quy Binary
Logistic.
Với phương pháp hồi quy từng bước (Stepwise), số thống kê được sử dụng cho các
biến được đưa vào và dời ra căn cứ trên số thống kê likelihood-ratio (tỷ lệ thích
hợp) hay số thống kê Wald. Cũng có thể chọn một trong các phương pháp thay thế
sau:
• Enter: đưa vào bắt buộc, các biến trong khối biến độc lập được đưa vào trong một
bước.
• Forward: Conditional là phương pháp đưa vào dần theo điều kiện. Nó kiểm tra
việc loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Likelihood-ratio dựa trên ước
lượng thông số có điều kiện.
Biểu đồ 2.1: Tình hình tín dụng của các ngân hàng thương mại tính đến 9
tháng đầu năm 2013
Tỷ lệ nợ xấu trong 9 tháng đầu năm 2013 của nhiều ngân hàng đã tăng vọt,
trong đó có những ngân hàng nợ xấu hơn 9% như PGBank hay trên dưới 8%
như SHB, SCB.
24
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ xấu của 9 tháng đầu năm 2013 so với năm 2012.
Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước
Theo số liệu công bố từ Ngân hàng nhà nước vào cuối năm 2014, ngành ngân hàng
đã tăng trưởng tín dụng 14,16%. Tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín
dụng là 3,8%, theo Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng nhà nước là 5,3%.
Năm 2014, các ngân hàng tiếp tục cắt giảm lãi suất từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm so
với cuối năm 2013. Ngoài ra, lãi suất của các khoản vay cũ cũng được điều chỉnh
giảm. Tỷ trong dư nợ có lãi suất trên 13% chỉ còn chiếm 10,65% trên tổng dư nợ,
giảm so với mức 19,72% trong năm 2013.
Những tháng đầu năm 2015, mặt bằng lãi suất ở hầu hết các ngân hàng đều đã giảm
và kì vọng sẽ tiếp tục giảm xuống cho đến cuối năm. Tuy nhiên, lãi suất cho vay
trung dài hạn vẫn ở quanh mức 10%/năm, đây là mức lãi suất khá cao đối với
những doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Vậy nên dù các ngân hàng thương mại
vẫn luôn đưa ra các gói tín dụng kích thích người vay nhưng vẫn chưa thu hút và
hiệu quả. Nhằm giúp các ngân hàng có thể tăng trưởng hơn, Ngân hàng nhà nước
buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng hay đẩy mạnh cho vay nhằm giảm
dần tỉ lệ nợ xấu về mức 3%, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp. Sự dọn đường
của cơ quan quản lý nhà nước này là cơ sở để các ngân hàng thương mại giảm dần
mặt bằng lãi suất huy động và cho vay.