Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng cho người nghèo ở nông thôn việt nam hiện nay - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa Ngân hàng – Tài chính
------

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
MÔN NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
Đề tài:
Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng cho người nghèo
ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Danh sách nhóm

Lớp chuyên ngành
Lớp tín chỉ:

Nguyễn Thị Ngọc Bích
Lê Ngọc Huyền
Nguyễn Thị Minh Hưng
Nguyễn Thị Thắm
Tài chính quốc tế 50
Ngân hàng phát triển 4

Hà Nội, tháng 10 năm 2011


CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội giai đoạn 2000 đến nay
Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2010, tốc độ tăng trưởng GDP/người được đánh
giá là đồng đều qua các năm (Bảng 1)
Hình 1.1 : GDP bình quân đầu người qua các năm


3


Bảng 1.1 : Tỷ lệ nghèo đói 2000 – 2005 ( theo chuẩn nghèo cũ)
Tỷ lệ hộ
nghèo 2000(%)
Đông Bắc
22,35
Tây Bắc
33,96
ĐB Sông Hồng
9,76
Bắc Trung Bộ
25,64
Duyên hải Nam 22,34
Trung Bộ
Tây Nguyên
24,90
Đông Nam Bộ
8,88
ĐB sông Cửu Long
14,18
Toàn quốc
17,18

Tỷ lệ hộ nghèo
2004(hộ)
179.872
81.986

11,0
1,70
6,78
7,0

Nguồn: Bộ lao động thương binh và xã hội
Trong đó, chuẩn nghèo cũ là 124.000đ đối với khu vực nông thôn và 163.000 đối
với khu vực thành thị. Vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất là Tây Bắc và Tây Nguyên, thấp
nhất là Đông Nam Bộ (13 tỉnh nghèo nhất cả nước tập trung chủ yếu ở các vùng miền
núi phía Bắc và Tây Nguyên
Tuy nhiên trong giai đoạn này, thành tựu xóa đói giảm nghèo chưa thực sự
vững chắc, tỷ lệ tái nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo ở các vùng miền núi và
vùng dân tộc ít người so với các vùng phát triển và đô thị có chiều hướng gia tăng (đói
nghèo ở các dân tộc thiểu số chiếm 61% tổng hộ nghèo vào 2005).
1.2.2. Giai đoạn từ 2006 – 2010.
Trong giai đoạn này, chuẩn nghèo của Việt Nam được áp dụng là 200000đ đối
với khu vực nông thôn và 260.000 đối với khu vực thành thị.
Hình 1.5: Tình hình xóa đói giảm nghèo giai đoạn từ năm 2000 – nay
Đơn vị : %

Trong giai đoạn này, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo,
chương trình 135 và Nghị quyết 30A của chính phủ, đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22%
năm 2005 xuống còn 9.45% năm 2010.

4


Tuy nhiên vẫn còn những bất cập trong quá trình giảm nghèo ở giai đoạn này
như tốc độ giảm nghèo ở khu vực miền núi còn chậm. Bên cạnh đó, tốc độ giảm
nghèo có xu hướng giảm dần qua các năm, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp

7,08 7,34 7,79 8,4 8,23 8,46
0,22 0,26 0,45 0,61 - 0,17 0,23

6,18 5,32 6,7
-2,28 -0,86 1,38

14,5 11
3
3,5

13,4 11,3 10,6
1,3 2,1 0,7

8,31 7
18
2,96 1,31

14,7
3,3

Nguồn: Tính toán từ số liệu của bộ KH&ĐT
Bảng 1.3 Tổng hợp hệ số co giãn của tỷ lệ nghèo đói và thu nhập

5


Vùng
Vùng KTTĐBB
Vùng KTTĐMT
Vùng KTTĐPN

vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó.
1.3.2 Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ
hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm
bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ
của mình trong tương lai để thoát nghèo.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: bệnh tật, mất mùa, thiên tai, hạn
hán, sự thiếu năng động, thụ động trong suy nghĩ, thiếu các công trình phúc lợi công
công....cũng là các nguyên nhân khiến việc giảm nghèo ở nước ta trong những năm
qua gặp không ít khó khăn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA NGƯỜI NGHÈO
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1. Tín dụng và vai trò của tín dụng đối với người nghèo
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu và cơ bản là
do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn. Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là “chìa khoá” để

6


người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói.
Vai trò của tín dụng đối với người nghèo có thể được tóm tắt như sau:
2.1.1. Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói
Người nghèo đói do nhiều nguyên nhân, như: Già, yếu, ốm đau, do đông con,
do thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do thiếu vốn...Trong thực tế ở nông thôn
Việt Nam, nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh
doanh.Vì vây, giải quyết vấn đề vốn đói là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên
giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo.
2.1.2 Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt
động kinh tế được nâng cao hơn

14/11/1990) là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt thực hiện hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực
hiện các mục tiêu của Nhà nước.
Hiện nay, NHNo&PTNTVN cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại cho
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Cho vay đối với các hộ gia đình và các hợp tác
xã nông thôn chiếm hơn 50% trong tổng dư nợ vay và khách hàng của Ngân hàng
bao gồm 68% là nông dân. Quy mô trung bình một khoản vay là khoảng 21,1 triệu
VND. Quy mô khoản vay như vậy thể hiện đối tượng khách hàng mục tiêu của
ngân hàng là các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn và những người có mức thu nhập
trung bình.
Mạng lưới
Mạng lưới của NHNo& PTNTVN được phân theo 4 cấp: Trụ sở chính ở Hà Nội
(cấp Trung ương); 3 văn phòng đại diện để điều phối và giám sát hoạt động ở miền
Nam, miền Trung và Campuchia; các chi nhánh tỉnh thành, các chi nhánh quận huyện
và các chi nhánh liên xã.
Ở mỗi huyện đều có một chi nhánh của NHNo&PTNT, chi nhánh cấp huyện thực
hiện giao dịch với khách hàng, chẳng hạn như: nhận đơn xin vay vốn, giải ngân vốn
vay, thu hồi khoản tiền cho vay gốc và lãi huy động tiết kiệm,.. Để tạo thuận lợi hơn
cho khách hàng, một số chi nhánh cấp huyện thành lập các ngân hàng liên xã. Số
lượng các chi nhánh liên xã đã phát triển từ 534 trong năm 1998 lên tới 695 năm 2003.
Thành lập chi nhánh ngân hàng liên xã là một biện pháp hữu hiệu để NHNo&PTNT
tăng mức độ tiếp cận đến các hộ nông dân nói chung và hộ nghèo nói riêng. Đây được
coi là nỗ lực lớn để tiếp cận được với tầng lớp nghèo nhất trong xã hội. Để mở rộng
hơn nữa mạng lưới này, chủ yếu là khu vực vùng sâu vùng xa, NHNo&PTNT bắt đầu
xây dựng mô hình các ngân hàng lưu động từ năm 1995. Mô hình này đã được nhân
rộng ra khắp hệ thống NHNo&PTNT với sự hỗ trợ tài chính để mua sắm xe cộ chuyên
chở tiền sử dụng cho các ngân hàng lưu động từ Dự án tài chính nông thông do Ngân
hàng thế giới tài trợ.
Nguồn vốn
Nguồn vốn chính của NHNo&PTNT là huy động tiền gửi tiết kiệm, hối phiếu,

2003
67,87
57.530
2004
5,30
60.581
2005
13,64
68.842
2006
17,65
80.991
2007
21,95
98.769
2008
25,04
123.497
2009
25,96
155.554
Nguồn : http://www.agribank.com.vn
Tuy nhiên, dù có sự tăng trưởng huy động vốn cao nhưng NHNo&PTNTVN vẫn
không đảm bảo được mức huy động tiết kiệm đủ tài trợ cho hoạt động cho vay. Phần
huy động tiết kiệm từ khu vực nông thôn trung bình chỉ đáp ứng được 85% nhu cầu tín
dụng từ khu vực này.
Tiếp cận hộ nghèo

9


93.000
2,52
2006
112.411
20,87
Nguồn : http://www.agribank.com.vn
NHNo&PTNTVN đã áp dụng các loại hình cho vay thuận tiện cho người vay
như hạn mức tín dụng (trong mức vay quy định mỗi lần vay không phải làm thủ tục
đơn từ); lưu vụ (các vùng trồng lúa có 2 vụ liền kề được duy trì nợ vay, không phải trả
gốc từng lần)…. Chất lượng tín dụng được bảo đảm, tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng thấp,
đến nay là dưới 2%.
Sự chú trọng tới thị trường nông thôn và nông dân của NHNo&PTNTVN được
thể hiện qua tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp nhà nước từ 68% trong tổng dư nợ cho
vay năm 2003 giảm xuống còn 7,2% năm 2009 trong khi tỷ trọng dư nợ cho vay đối
với hộ sản xuất và hợp tác xã tăng từ 17% năm 2009 lên 48,9%. Ngay từ khi quyết
định 67 ban hành, NHNo&PTNTVN đã chủ động huy động nguồn vốn đầu tư “đi vay
để cho vay” với mục tiêu chính là phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đây là
ngân hàng đầu tiên cho nông dân vay vốn phát triển sản mà không cần thế chấp hay
bảo đảm.
Điều kiện cho vay
NHNo&PTNTVN thực hiện cho vay đối với nông nghiệp, nông thôn theo nghị
định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông

10


thôn. Việc yêu cầu khách hàng xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở một
số chi nhánh của NHNo&PTNTVN phần nào làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn của
các hộ nông dân vì trên thực tế, nhiều hộ vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.

các thành viên hoàn trả khi đến hạn.
Thu nợ

11


NHNo&PTNT thu lãi hàng tháng, hoặc ba tháng một lần và thu nợ gốc vào cuối
thời hạn khoản vay, hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Quy định hiện tại của Ngân
hàng cho phép gia hạn nợ. Nếu một khoản nợ bị quá hạn do thiên tai, dịch bệnh,v.v…
cán bộ tín dụng sẽ đề nghị với giám đốc chi nhánh cho phép gia hạn khoản vay theo đề
nghị của khách hàng. Một khoản nợ có thể được gia hạn một lần hoặc nhiều lần,
nhưng không được vượt quá một chu kỳ sản xuất đối với các khoản vay ngắn hạn và
không vượt quá 6 tháng đối với các khoản vay trung và dài hạn. Trong thực tế, các hộ
nông dân thường vay trung và dài hạn, do đó, họ thường đề nghị gia hạn khoản vay
thêm một chu kỳ sản xuất. Trong trường hợp sau 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của
giai đoạn được gia hạn mà khách hàng vẫn không thể thanh toán, quy định cho phép
NHNo&PTNT bán các tài sản để thu hồi khoản nợ gốc và tiền lãi chưa được thanh
toán.
Hạn chế
Hầu hết các hộ nghèo mới chỉ tiếp cận các món vay ngắn hạn của NHNo&PTNT,
trong khi đó họ còn có nhu cầu đối với các món vay trung và dài hạn, chính các khoản
vay này sẽ giúp họ có thu nhập cao hơn.
Cho dù đã rút ngắn quy trình và cải thiện thủ tục cho vay đối với các khoản vay
nhỏ, NHNo&PTNT chưa có sản phẩm dành riêng cho hộ nghèo.
Tiềm năng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong việc
mở rộng tiếp cận tới hộ nghèo
NHNo&PTNT có thể là một tác nhân quan trọng làm thay đổi điểu kiện sống của
người nghèo thông qua việc hỗ trợ cho vay. Các tiềm năng của ngân hàng này bao
gồm:
Cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại của hệ thống NHNo&PTNT và bề dày kinh

Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009

NHCSXH
Tiết kiệm
637
1491
1718
1680
861
320
28

+/- %

134,7
15,22
-2,21
-48,75
-62,83
-91,25
Nguồn: Tổng hợp từ www.vbsp.org.vn
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn phân theo hình thức huy động của NHCSXH

+ Tỷ trọng

2004
13.20
5
1.661

16,.65 12,58
918
2.681

9,98
3.043

20,30

2005

2006

2007

2008

2009

17.005
1.641

20.82

29,20
4 4.696

31,59
5.940

41,31
8.019

35,43
13.09
2

10,8
11.79
3

27,97

.036

Trung
bình

13,22

33,09
637

30,56


6,65
1.656

2,38
2.102

12,3
582

7,57

5,81

5,46

5,94
30

5,78
30

5,50

4,49

0,8
2000

5,50


14


2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009

10.376
14.271
18.355
24.139
34.862
52.511
72.660

51,87
37,54
28,62
31,51
44,42
50,63
38,37
Tổng
40,42
Nguồn: Tổng hợp từ www.vbsp.org.vn

tháng khó khăn, không có việc làm, trong khi đó, họ lại có những khoản chi tiêu đột
xuất và nhiều khi họ phải đi vay nặng lãi ở thị trường tín dụng phi chính thức. Nhận
thức rõ được vấn đề này, NHCSXH đã thực hiện cho vay mục đích phi sản xuất như:
cho vay chi phí học hành cho con cái, chữa bệnh,…
2.2.1.3. Quỹ tín dụng nhân dân
Bên cạnh NHNo&PTNT và NHCSXH, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) cũng
đóng một vai trò tích cực trong việc cung cấp nguồn tín dụng cho khu vực nông thôn.
QTDND là các tổ chức tài chính do hộ nông dân thành lập và tự quản lý, có quy mô
nhỏ và ở cấp làng xã; hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã.
QTDND thành lập ở cấp xã và do chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại cács tỉnh cấp
giấy phép hoạt động. So với NHNo&PTNTVN và NHCSXH, QTDND gần gũi với
nông dân hơn.
Mạng lưới
Mạng lưới QTDND ban đầu tổ chức theo ba cấp: các QTDND khu vực, QTDND
ở địa phương và QTDND Trung ương. Vào thời điểm hưng thịnh nhất, hệ thống này
có tới hàng nghìn quỹ ở cấp cơ sở nhưng đến năm 1998 do cuộc khủng hoảng kinh tế
đã ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính nên năm 2000 đã được tổ chức lại theo 2
cấp là Trung ương và cơ sở. Đến nay trong hệ thống này, ngoài Quỹ TDND Trung
ương còn có 1037 Quỹ TDND cơ sở.
Nguồn vốn
Nguyên tắc hoạt động của QTDND là huy động vốn để cho vay lại. Cuối 2009,
tổng nguồn vốn của QTDND ở Việt Nam chiếm khoảng 19880 tỷ đồng. Các QTDND
cơ sở có mức vốn trung bình rất nhỏ bé, với mức trung bình 573 triệu VND/quỹ năm
2005 và 676 triệu VND/quỹ năm 2006.
Cách thức hoạt động của QTDND là huy động nguồn vốn của người dân, sau đó
cho vay đối với các thành viên khác. Thủ tục cho vay và nhận tiền gửi rất đơn giản và
phù hợp với trình độ học vấn khá thấp của người nông dân nông thôn. Hơn nữa, sự đa
dạng hóa các sản phẩm tín dụng và tiết kiệm đã tạo ra nhiều lựa chọn khác nhau đối
với các hộ gia đình có thu nhập khác nhau. QTDND có quan hệ gần gũi với người
nông dân trong làng xã hơn NHNo&PTNT, điều này làm cho người gửi tiền và người

446,43%
4,23%
2009
Tổng nguồn vốn
8.102
21.176
Tổng vốn tự có
1.499
9.821
Tỷ lệ tăng trưởng vốn tự có
144,93%
119,22%
Nguồn: Tổng hợp từ http://ccf.vn/forum/
Hoạt động cho vay
Để được vay vốn từ QTDND, người đi vay phải có tài sản thế chấp: Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc các tài sản có giá trị khác. Tuy nhiên, ở một số QTDND,
khoản vay dưới 5 triệu đồng không cần có tài sản thế chấp.
Bảng 2.7 Dư nợ cho vay của QTDND từ 2001-2009
Đơn vị: tỷ đồng

QTDNDCS
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008



vay hiện hành phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, 28% cho thương mại và
dịch vụ, 12% dành cho chế biến nông sản và nghề thủ công và 3% cho tiêu dùng.
Lãi suất
QTDND áp dụng các mức lãi suất khác nhau tùy thuộc vào từng vừng và thường
cao hơn 1% so với lãi suất của NHNo&PTNT. Mặc dù với lãi suất cao, nhu cầu khoản
vay từ QTDND vẫn ở mức cao do thủ tục đơn giản, dịch vụ thuận tiện và gần gũi với
khách hàng.
Giải ngân và thu nợ
QTDND chỉ thực hiện cho vay tới hộ gia đình, không cho vay thông qua nhóm
như NHNo&PTNT hoặc NHCSXH. Tiền lãi được thu hàng tháng nhưng nợ gốc được
trả vào cuối thời hạn vay. Báo cáo của QTDNDTƯ cho thấy trên toàn hệ thống vẫn
duy trì ở mức cao ( trên 98%), tỷ lệ nợ quá hạn cũng được giảm. Những lý do chính
dẫn đến sự bền vững về mặt tài chính là sự cam kết vững chắc, lãi suất cho vay cao,
quản lý chi phí có hiệu quả và sự gần gũi hơn đối với người dân địa phương.
2.2 Khu vực bán chính thức
2.2.1. Khái quát về khu vực bán chính thức
Một khu vực mặc dù không phải là các TCTD chính thức nhưng rất tích cực
tham gia vào thị trường tài chính nông thôn mà tập trung chủ yếu vào cung cấp các
khoản tín dụng vi mô cho người nghèo và nghèo nhất - đó là các chương trình, dự án
tài chính vi mô do các tổ chức phi chính phủ (quốc tế và trong nước) tài trợ và các tổ
chức TCVM do các tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý (tạm gọi là khu vực
bán chính thức).
Đến nay, có khoảng 60 tổ chức phi chính phủ quốc tế đang hỗ trợ hoạt động
TCQMN ở Việt Nam và hầu hết các hoạt động này được thực hiện thông qua các tổ
chức đoàn thể như Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh... đặc biệt
là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đây là đoàn thể lớn nhất, đi đầu trong lĩnh vực
phát triển hoạt động TCVM. Từ năm 1991, Hội là người khởi xướng và xây dựng hệ
thống "Nhóm Phụ nữ tín dụng-tiết kiệm" phát triển trên phạm vi toàn quốc. Đến nay,

Bảng 2.: Mức độ tăng trưởng vốn tự có và tỷ lệ đòn bầy tài chính của một số
TCTCVM bán chính thức
Đơn vị: triệu VND, %
TCVM
Quỹ HTPN
Chỉ tiêu
CEP
TYM
Thanh
Ninh Phước
Hóa
200 Tổng NV
227.552 88.533 21.384 51.778 4.207
7
Vốn tự có
115.372 44.859 6.634
7.003
3.128
Tỷ lệ đòn bẩy
50,70% 50,67% 31,02% 13,53% 74,35%
200 Tổng NV
424.408 176.526 21.060 53.615 4.507
8
Vốn tự có
137.107 56.100 8.344
8.374
3.198
Tỷ lệ đòn bẩy
32,31% 31,78% 39,62% 15,62% 70,96%
Tỷ lệ tăng trưởng VCSH

là một dạng bảo đảm nhằm tăng tính liên kết và trách nhiệm giữa các thành viên tham
gia. Mức tiết kiệm bắt buộc tùy thuộc cách tính của mỗi tổ chức, thông thường theo
giá trị khoản vay (từ 1-5%), hoặc theo giá trị tuyệt đối đóng góp hàng tháng (3-10
ngàn VND).
Bảng 2. Mức tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự nguyện của một số
TCTCVM bán chính thức tính đến 2009
SL KH
SL KH
tham
tham gia
STT Tên tổ chức
gia TK
TK bắt
tự
buộc
nguyện
1
TYM
34.464
1.516
2
CEP - HCM
113.843
41.650
3
FPW-Thanh Hoá 5.668
0
4
Bình Minh-SEDA 4.644
327

nguyện
(Triệu
VNĐ)

Số
huyện
triển
khai

32.483
97.588
1.814
2.212

1.446
10.553
0
135

18
44
6
3

Tổng
nguồn
vốn
(Triệu
VNĐ)
176.526

69.350

30,30%

211

970.885 23,87%

21.009

3

207.830 23.949

Tỷ trọng
TK/Tổng
nguồn
vốn
19,22%
25,48%
16,55%
20,77%

Nguồn: MFWG và kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu t ại các TCTCVM.
Phần huy động tiết kiệm bắt buộc của các TCTCVM bán chính thức lớn hơn
nhiều so với huy động tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn huy động từ tiết kiệm bắt
buộc của các TCTCVM này cũng chỉ chiếm 21,4% trong tổng nguồn vốn. Nếu so với
các quốc gia trong khu vực, nguồn vốn tiền gửi bắt buộc của các tổ chức TCVM ở

20


Số
TT

1
2
3
4
5

Tên tổ chức

Tổng
khách
hàng (KH)

CEP – HCM
118.955
TYM
34.464
Dự án Việt – Bỉ
41.050
Quỹ PT vì PN nghèo Hà
30.162
Tĩnh
TCVM Tuyên Quang

18.007

Đơn vị: TriệuVND

59.416
0

Tỷ lệ cho
Tỷ
lệ
Tổng tài sản
vay theo
dư nợ/
(Triệu
nhóm/
Tổng
VNĐ)
tổng cho
TS (%)
vay (%)
424.408
91,48
0,00
176.526
79,41
64,95
69.350
85,68
100,00

25.493

51.341


18.139

35.632

88,55

42,51

7.284

17.928

17.928

0

21.060

85,13

100,00

7

Qũy HTPN PTKT7.524
HCM
CEP- Bà Rịa Vũng Tàu 8.069

8


870.126

118.811
383.535

10.874
486.591

134.049
970.884

97,00
90,00

92,00
44,00

6

Nguồn: MFWG và kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu tại các TCTCVM

22


Trong tổng thể các TCTCVM bán chính thức, tín dụng chiếm 93,74% tài sản, với
giá trị tuyệt đối là trên 910 tỷ VND. Nếu so với các TCTD chính thức trong khu vực nông
thôn, dư nợ của các TCTCVM bán chính thức rất nhỏ bé. Hầu hết các khoản tín dụng của
các TC này đều thông qua nhóm (45,44%). Nhiều tổ chức 100% thực hiện giải ngân và
quản lý qua nhóm như TD Việt Bỉ, CEP Bà Rịa, M7 Đông Triều. ai tổ chức cung cấp tín
dụng lớn nhất trong khu vưc bán chính thức là CEP và TYM, với dư nợ chiếm từ 80-90%

Ở Việt Nam, theo Barslund và Tarp, năm 2008, có đến 36% số giao dịch tín dụng
ở nông thôn là phi chính thức. Đặc biệt, ở Phú Thọ, tín dụng phi chính thức chiếm đến
50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây (cũ) con số này là 48%. Theo các nghiên cứu trên, tín
dụng phi chính thức tiếp tục hiện diện ở nông thôn nhờ những ưu thế mà các tổ chức tín
dụng chính thức không có được là đúng lúc, đơn giản và dễ tiếp cận.
Các hình thức tín dụng phi chính thức bao gồm
 Cho vay nặng lãi
Người cho vay nặng lãi thường là những người khấm khá ở nông thôn và có nhiều
tiền hoặc hàng hóa. Họ có thể cho vay với nhiều kì hạn khác nhau (mùa vụ, ngày) bằng
tiền mặt và bằng hiện vật. Họ tuân thủ một phương pháp thị trường khi cho vay và lãi suất
thỏa thuận hàng tháng. Nhìn chung, dịch vụ này khá linh hoạt, có thể cho vay bất cứ ai và
vào bất cứ lúc nào.
 Vay bạn bè, người thân
Loại tín dụng này thường không có lãi suất và kỳ hạn, phụ thuộc vào mối quan hệ
giữa người đi vay với người cho vay.
 Các câu lạc bộ tín dụng nông thôn: Họ, Phường, Hụi.
Họ, hụi, biêu, phường là các tên gọi khác nhau của một hình thức giao dịch về tài
sản theo tập quán, tồn tại từ lâu và khá phổ biến ở nước ta. Tên của loại hình tín dụng này
có nghĩa là “ người thân, bè bạn và những cá nhân có cùng lợi ích”. Thường thì đó là
những hội tín dụng nhỏ, có từ 5 đến 20 thành viên thường là người thân, hàng xóm hoặc

24


có cùng nghề nghiệp, lợi ích, hoạt động riêng rẽ và không có quan hệ gì với các hội khác
cũng như với các định chế chính thức.
Cách thức hoạt động: Trong một họ, hội trưởng được các thành viên bầu ra để
nhận tiền đóng và giữ sổ sách. Các thành viên đóng góp tiết kiệm để gây quỹ và thực hiện
cho vay lần lượt chính các thành viên trong hội. Tiết kiệm có thể bằng tiền mặt hoặc bằng
hiện vật như thóc hoặc vàng. Việc cho vay được thực hiện theo vòng quay lần lượt. Mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status