Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 tỉnh Đồng Nai - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

TRẦN QUỐC HƢNG

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI KHU
CÔNG NGHIỆP BIÊN HÒA 2 - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đồng Nai, Tháng 10 Năm 2014


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài.
Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp, trong đó
việc tập hợp những phƣơng pháp kế toán, những qui trình nhằm quan sát, nhận
diện, thu thập, đo lƣờng, phân tích và sử dụng những thông tin này nhằm phản ánh
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh với định hƣớng chủ yếu phục vụ cho nhu
cầu thông tin của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp. Thông tin của kế
toán quản trị có vai trò rất quan trọng nhằm giúp các nhà quản trị thực hiện các
chức năng hoạch định, tổ chức-điều hành, kiểm tra và ra quyết định.
Khu công nghiệp Biên Hòa 2, tỉnh Đồng Nai với vai trò là đầu tàu trong việc
phát triển kinh tế nhƣ là tạo thêm nhiều việc làm, thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, là
động lực quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng nâng
cao tỷ trọng công nghiệp và góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của tỉnh. Để cụ thể hóa các mục tiêu phát triển kinh tế, và cũng nhƣ gia tăng thêm
hiệu quả sản xuất kinh doanh, thì các doanh nghiệp trong tỉnh nói chung và các

-

Đối tƣợng nghiên cứu: Là những nội dung kế toán quản trị đƣợc thực

hiện tại các doanh nghiệp.
-

Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Biên

Hòa 2, tỉnh đồng Nai
+ Thời gian nghiên cứu: khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán
quản trị từ tháng 5/2014 – 8/2014.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài là theo phƣơng pháp định tính, mà cụ
thể là các phƣơng pháp sau:
-

Phƣơng pháp khảo sát: Khảo sát các doanh nghiệp thông qua các câu

hỏi trong bảng khảo sát.
-

Phƣơng pháp phỏng vấn: Phỏng vấn qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp.

-

Phƣơng pháp phân tích:Thu thập, phân tích, đánh giá dữ liệu khảo sát.

-


6. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo,
nội dung chính của đề tài gồm 3 chƣơng:
-

Chương 1: Tổng quan về kế toán quản trị.

-

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị trong các
doanh nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa 2, tỉnh Đồng Nai.

-

Chương 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị trong các
doanh nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa 2, tỉnh Đồng Nai.


4

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị
1.1.1 Trên thế giới
Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển ở vào những năm cuối thế kỷ
18 và đầu thế kỷ 19. Đến nửa cuối thế kỷ 19 Kế toán quản trị đƣợc áp dụng đầu tiên
ở Anh và Bắc Mỹ trong ngành Dệt, Đƣờng sắt, sau đó đƣợc áp dụng vào ngành
Thuốc lá, Luyện kim, Hóa chất. Và đến năm 1925, kế toán quản trị đƣợc áp dụng
vào hầu hết các ngành kinh tế.

quản trị chiến lƣợc, nhấn mạnh đến việc tạo ra giá trị gia tăng thông qua việc gia
tăng lợi ích cho khách hàng, cổ đông, sử dụng hiệu quả nguồn lực. Trong giai đoạn
này kế toán quản trị phát triển xuất phát từ 2 nhóm nguyên nhân:
-

Nhóm nguyên nhân thuộc tầm vĩ mô
+ Quá trình toàn cầu hóa
+ Sự phát triển của công nghệ thông tin
+ Sự phát triển của nền kinh tế tri thức
+ Sự thay đổi năng động của thời đại.

-

Các nguyên nhân thuộc về môi trƣờng kinh doanh
+ Sự rút ngắn của chu kỳ sống của sản phẩm
+ Vai trò ngày càng tăng của khách hàng
+ Sự thay đổi cấu trúc doanh nghiệp theo hƣớng linh hoạt dựa trên hệ thống

mạng liên kết
+ Sự nhận thức lại giá trị vô hình.
Mặt khác, sự phát triển kinh tế xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức
khác nhau về kế toán tài chính, kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trƣờng đã
làm nổi bật nhu cầu về Kế toán quản trị, thúc đẩy phát triển kế toán quản trị, thông
tin phục vụ cho nâng cao năng lực quản trị - cạnh tranh để bổ sung toàn diện, hoàn
thiện hơn hệ thống thông tin kế toán trong môi trƣờng sản xuất kinh doanh thay đổi
rất nhanh.
Kế toán quản trị đƣợc xem nhƣ là quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra,
định tính, định lƣợng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính
về hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp
thực hiện toàn diện các chức năng quản trị doanh nghiệp.

niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, IFAC (1998), Management
Accounting Concepts, page 84, 99 “Kế toán quản trị được xem như là một quy
trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và
truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát,
điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả
nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.”
- Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv D.Banker, Robert S.kaplan,
S.mark Young (2001), Management accounting, Third edition, Prentice Hall
International, Inc: “Kế toán quản trị là một quy trình cải tiến không ngừng việc
hoạch định, thiết kế, đo lường hệ thống thông tin tài chính, thông tin phi tài chính
hoạt động của doanh nghiệp để hướng dẫn, thúc đẩy hành động, hành vi quản trị và
điều kiện hoạt động của doanh nghiệp tạo nên giá trị văn hóa kinh doanh cần thiết
nhằm đạt chiến lược, chiến thuật và mục tiêu doanh nghiệp.”


7

- Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ (2002):“Kế toán quản trị là
một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin
thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát
hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải
tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt
chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ.”
- Theo nhóm tác giả Charles T.Horngren, Alnoor Bhimani, Srikant M.Datar,
George Foster (2002), Management and cost Accounting, second edition, Frentice
Hall Europe: “Kế toán quản trị là ứng dụng nguyên tắc kế toán, nguyên tắc quản
trị tài chính để tạo lập, bảo vệ, gìn giữ và gia tăng giá trị cho tổ chức.”
- Theo nhóm tác giả Jan R.Williams, Susan F.Haka, Mark S.Bettner (2005),
Finacial & Managerial Accounting the basic for business decisions, Mc.Graw-Hill


Đối tƣợng sử dụng Nhà quản trị bên trong doanh Những đối tƣợng bên ngoài
nghiệp là chủ yếu
doanh nghiệp là chủ yếu
thông tin
Hƣớng về tƣơng lai
Đặc điểm thông tin

Phản ảnh quá khứ

Linh hoạt, theo yêu cầu của Cố định, tuân thủ nguyên tắc
nhà quản trị
kế toán
Biểu hiện thông qua ba loại Biểu hiện dƣới thƣớc đo giá trị
thƣớc đo

Yêu cầu thông tin

Đòi hỏi tính kịp thời cao hơn Đòi hỏi tính chính xác cao
tính chính xác.

Phạm vi cung cấp thông Từng bộ phận, toàn doanh Toàn doanh nghiệp
nghiệp
tin
Các loại báo cáo

Báo cáo theo yêu cầu và mục Báo cáo tài chính nhà nƣớc
đích sử dụng của nhà quản trị
quy định


tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh,
điều kiện thị trƣờng, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật

Thông tin do kế


9

toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt và hƣớng dẫn nhà quản
trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.
-

Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành
Tổ chức là quá trình xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý,

đồng thời tạo ra những điều kiện hoạt động cần thiết bảo đảm cho cơ cấu tổ chức
đƣợc vận hành hiệu quả. Nhà quản trị có thực hiện tốt công việc tổ chức mới tạo
nên một môi trƣờng nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy đƣợc
năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu
chung của tổ chức.
Điều hành là một trong những chức năng chung của quản trị gắn liền với các
hoạt động đôn đốc, động viên, giám sát các công việc hàng ngày, đảm bảo các hoạt
động trong tổ chức đƣợc thực hiện một cách nhịp nhàng, thúc đẩy các thành viên
trong tổ chức hoạt động với một hiệu quả cao nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức–điều hành là cung
cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong
doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp. Thông
tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lƣợng
của các hoạt động đã và đang đƣợc thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời
điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của DN.

cho nhà quản trị lựa chọn phƣơng án tối ƣu nhất. Đối với các quyết định có tính
chiến lƣợc, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác
định các mục tiêu của tổ chức và đánh giá các mục tiêu đó có thể thực hiện đƣợc
trên thực tế hay không. Đối với các quyết định tác nghiệp, kế toán quản trị cung cấp
những thông tin để giúp nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của tổ
chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang đƣợc sử dụng nhƣ thế nào.
Vai trò của kế toán quản trị đƣợc thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị
trong tổ chức:
-

Ở cấp độ quản trị cấp cơ sở, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho

nhà quản trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phân do họ quản lý.
-

Ở cấp độ quản trị cấp trung gian, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ

cho nhà quản trị cấp trung gian giám sát và đƣa ra quyết định về các nguồn lực nhƣ
nguyên vật liệu, vốn đầu tƣ, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng.
-

Ở cấp độ quản trị cấp cao, kế toán quản trị cung cấp thông tin đã đƣợc tổng

hợp từ các nghiệp vụ, sự kiện đã xảy ra theo từng ngƣời điều hành, từng khách hàng
và từng bộ phận phục vụ cho nhà quản trị cấp cao để hỗ trợ cho họ đƣa ra các quyết
định trong ngắn hạn và dài hạn.
1.5 Nội dung của kế toán quản trị
1.5.1 Hệ thống kế toán chi phí và phân tích biến động của chi phí
1.5.1.1 Hệ thống kế toán chi phí
a. Khái niệm về chi phí: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh

mua các sản phẩm.
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và đƣợc tính hết
thành phí tổn trong kỳ để xác định kết qủa kinh doanh của đơn vị.
b3. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp thƣơng mại
Cách phân loại chi phí trong doanh nghiệp thƣơng mại chỉ khác với doanh
nghiệp sản xuất một điểm là: trong doanh nghiệp thƣơng mại không có chi phí sản
xuất công nghiệp mà thay vào đó là chi phí hàng mua giá vốn , nó bao gồm giá
mua và chi phí thu mua. Giá mua và chi phí thu mua là chi phí sản phẩm trong


12

doanh nghiệp thƣơng mại.
b4. Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí khi phát sinh đƣợc tính trực tiếp vào các
đối tƣợng sử dụng, nó đƣợc tính thẳng vào từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản
phẩm...
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp cho
một đối tƣợng nào đó mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp.
- Chi phí chênh lệch: Là chi phí có trong phƣơng án này nhƣng lại không có
hoặc chỉ có một phần trong phƣơng án khác. Tất cả những sự thay đổi đó hình
thành các chi phí chênh lệch và chính chúng sẽ là căn cứ để ngƣời quản lý lựa chọn
phƣơng án.
- Chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được:Chi phí kiểm soát đƣợc đối
với một cấp là những chi phí mà nhà quản lý cấp đó đƣợc quyền ra quyết định,
những chi phí mà ngƣời quản lý cấp đó không đƣợc quyền ra quyết định thì gọi là
chi phí không kiểm soát đƣợc.
- Chi phí cơ hội: Là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phƣơng án
này thay vì chọn phƣơng án khác.
- Chi phí chìm (ẩn, lặn): Là những chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và nó không

yếu tố định phí và yếu tố biến phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp
thƣờng thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vƣợt quá mức căn
bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí. Sự pha trộn giữa phần định phí và biến phí
có thể theo những tỷ lệ nhất định.
c. Đối tƣợng tập hợp chi phí và tính giá thành
Đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn. Vì vậy, đối tƣợng
tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh chi phí hoặc là các đối tƣợng chịu chi phí
nhƣ: Từng phân xƣởng, từng giai đoạn, từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng.
Trong công tác kế toán chi phí và tính giá thành, việc xác định đối tƣợng tập
hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên nó làm cơ sở xây dựng hệ thống chứng từ ban
đầu và xây dựng hệ thống cơ sở chi tiết của chi phí sản xuất.
Việc xác định đối tƣợng tính giá thành căn cứ vào đặc điểm, cơ cấu tổ chức
sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất sản phẩm

Vì vậy đối

tƣợng tính giá thành có thể là : Từng sản phẩm công việc, đơn đặt hàng hoàn thành.
Chúng ta nên căn cứ vào chu kỳ sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản
xuất

mà xác định đối tƣợng tính giá thành để cung cấp số liệu tính giá thành sản

phẩm một cách kịp thời. Vì khi chúng ta lựa chọn đối tƣợng tính giá thành thích hợp


14

sẽ là cơ sở tính giá thành thích hợp và chính xác.
d. Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian cần thiết phải tiến hành tổng hợp chi

15

xuất. Giá thành sản phẩm đợc xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ
phận , chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn , bộ phận sản
xuất tạo nên thành phẩm.
Giá thành = Z1 + Z2 +

+ Zn

f3. Phƣơng pháp hệ số
Đƣợc áp dụng trong những doanh nghiêp mà trong cùng một quá trình sản
xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lƣợng lao động nhƣng thu đƣợc
đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hơp riêng cho từng loại
sản phẩm đƣợc mà phải tập hợp chung cho cả quá trinh sản xuất. Theo đó, kế toán
doanh nghiệp căn cứ vào hệ số qui đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ
đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để
tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Giá thành đơn vị SPtừng loại = Giá thành đơn vị SP gốc x Hệ số quy đổi từng loại

Tổng giá thành S của các loại SP = Giá trị SP dở dang đầu kỳ + tổng chi phí phát
sinh - giá trị SP dở dang cuối kỳ
f4. Phƣơng pháp tỷ lệ
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách , phẩm
chất khác nhau nhƣ : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo... để giảm bớt
khối lƣợng hạch toán, kế toán thƣờng tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm
sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản
xuất kế hoạch hoặc định mức , kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành
sản phẩm cùng loại.
Giá thành thực tế từng loại SP = Giá thành kế hoạch Định mức x Tỷ lệ chi phí
f5. Phƣơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ


Lượng thực tế (×)
giá đònh mức

Lượng đònh mức
(×) giá đònh mức

Biến động lượng
Biến động giá
giá
Tổng biến động
đdđộngđộng

Nguồn: Giáo trình KTQT, 2008)
Sơ đồ 1.1. Mơ hình chung để phân tích biến phí
Đối với từng khoản mục chi phí, tên gọi các biến động có thể thay đổi:
– Chi phí ngun liệu trực tiếp
Biến động giá ngun vật liệu:

(q1p1 – q1p0)

Biến động lƣợng ngun vật liệu: (q1p0 – q0p0)
– Chi phí nhân cơng trực tiếp
Biến động giá lao động:

(h1r1 – h1r0)

Biến động năng suất:

(h1r0 – h0r0)

sản xuất chung đƣợc phân tích theo cùng một mô hình trong khi định phí sản xuất
chung đƣợc phân tích theo một mô hình khác, mô hình này có liên quan đến dự toán
linh hoạt.
1.5.2 Dự toán ngân sách
1.5.2.1 Khái niệm
Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu
kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt đƣợc trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ
r cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
đó. Dự toán ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán nhƣ: dự toán tiêu thụ,
dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự
toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý
doanh nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tƣ, dự toán tiền, dự toán
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán .
1.5.2.2 Phân loại dự toán ngân sách
a/ Phân loại theo thời gian:
- Dự toán ngân sách ngắn hạn: Là dự toán đƣợc lập cho kỳ kế hoạch là một năm
và đƣợc chia ra từng kỳ ngắn hơn là hàng quí và hàng tháng. Và đƣợc lập hàng năm
trƣớc khi niên độ kế toán kết thúc và đƣợc xem nhƣ là định hƣớng chỉ đạo cho mọi
hoạt động của tổ chức trong năm kế hoạch.


18

- Dự toán ngân sách dài hạn: Là dự toán ngân sách vốn, đây là dự toán đƣợc lập
liên quan đến tài sản dài hạn, điểm cơ bản của dự toán ngân sách vốn là lợi nhuận
dự kiến lớn, mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài.
b/ Phân loại theo chức năng:
- Dự toán hoạt động: Là dự toán liên quan đến hoạt động chính, cơ bản và cụ
thể của doanh nghiệp.
- Dự toán tài chính: Là các dự toán liên quan đến tiền tệ, vốn đầu tƣ nhƣ dự toán

Quản lý cấp
trung gian

Quản lý cấp
cơ sở

Quản lý cấp
cơ sở

Quản lý cấp
trung gian

Quản lý cấp
cơ sở

Quản lý cấp
cơ sở

Nguồn: Giáo trình KTQT, 2008
Sơ đồ 1.2: Trách nhiệm, trình tự lập dự tốn ngân sách
Nhƣ vậy, tất cả các cấp đều cùng tham gia lập dự tốn ngân sách. Mỗi cấp
góp phần tốt nhất cho việc lập dự tốn thống nhất. nhà quản trị cấp cao dựa vào các
thơng tin chi tiết từ bên dƣới và phối hợp với cái nhìn tổng quan tồn doanh nghiệp
để quyết định các chính sách trong việc lập dự tốn.
1.5.2.4 Các mơ hình lập dự tốn ngân sách
a/ Mơ hình 1: Mơ hình ấn định thơng tin từ trên xuống.
Theo mơ hình này các chỉ tiêu dự tốn đƣợc định ra từ ban quản lý cấp cao
của tổ chức và truyền xuống cho quản lý cấp trung gian . Sau đó quản lý cấp trung
gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở .
b/ Mơ hình 2: Mơ hình thơng tin phản hồi.

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

-

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp.

-

Dự toán chi phí sản xuất chung.

-

Dự toán tồn kho thành phẩm hàng hóa.

-

Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

-

Dự toán tiền.

-

Dự toán kết quả hoạt động kinh doanh.

-

Bảng cân đối kế toán dự toán.


thành phẩm
cuối kỳ

Dự toán sản xuất

Dự toán chi phí
nguyên vật liệu
trực tiếp

Dự toán chi
phí nhân công
trực tiếp

Dự toán chi phí BH
và chi phí quản lý
doanh nghiệp

Dự toán chi phí
sản xuất chung

Dự toán tiền

Bảng kết quả
hoạt động kinh
doanh dự toán

Bảng cân đối kế
toán dự toán

Nguồn: Giáo trình KTQT, 2008


không kiểm soát đƣợc lợi nhuận và vốn đầu tƣ. Trong hệ thống tổ chức quản lý,
trung tâm doanh thu thƣờng là các cửa hàng hoặc bộ phận bán hàng. Cơ sở để đánh
giá kết quả hoạt động trung tâm về doanh thu là dựa vào tốc độ tăng doanh thu ngày
càng cao qua các kỳ hoạt động, dựa vào sự biến động của doanh thu thực tế so với
dự toán.
- Trung tâm lợi nhuận: Là trung tâm có quyền kiểm soát chi phí, doanh thu, lợi
nhuận nhƣng không kiểm soát đƣợc vốn đầu tƣ .Trong hệ thống tổ chức quản lý,
trung tâm lợi nhuận thƣờng là các xí nghiệp hoặc công ty. Cơ sở để đánh giá kết
quả hoạt động trung tâm lợi nhuận là dựa vào tốc độ tăng lợi nhuận ngày càng cao
qua các kỳ hoạt động, dựa vào sự biến động lợi nhuận thực tế so với dự toán.
- Trung tâm đầu tư: Là tung tâm có quyền kiểm soát chi phí, doanh thu, lợi
nhuận và vốn đầu tƣ.Trong hệ thống tổ chức quản lý, trung tâm đầu tƣ thƣờng là các
tập đoàn hoặc các tổng công ty. Cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của trung tâm đầu
tƣ là dựa vào tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ ROI và lợi nhuận còn lại RI .
b/ Đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm:
-

Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm chi phí
Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí đƣợc đánh giá

thông qua các chỉ tiêu cấp trên giao và các chỉ tiêu này đƣợc thể hiện trong các báo
cáo, các chỉ tiêu này đƣợc so sánh giữa thực tế và dự toán, để giúp các nhà quản trị
nhận biết đƣợc chênh lệch nào là tốt, chênh lệch nào là xấu.
-

Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm doanh thu

Thành quả quản lý của các trung tâm doanh thu thƣờng đƣợc đánh giá thông
qua các chỉ tiêu cấp trên giao, các chỉ tiêu này đƣợc so sánh giữa thực tế và dự toán

Tài sản được đầu tư

ROI= Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x số vòng quay tài sản



Tỷ lệ hoàn vốn




RI = Lợi nhuận hoạt động -  Tài sản được đầu tư 
mong muốn tối thiểu 


c/ Báo cáo kế tốn trách nhiệm
-

Báo cáo chi phí: Là tồn bộ chi phí phát sinh trong doanh nghiệp đƣợc tập

hợp lại và phân loại từng chi phí thành một báo cáo để làm cơ sở đánh giá thành quả
của các nhà quản trị của trung tâm chi phí.
- Báo cáo doanh thu: Tồn bộ doanh thu phát sinh và đƣợc tập hợp lại và phân
loại doanh thu theo từng sản phẩm thành một báo cáo để làm cơ sở đánh giá thành
quả hoạt động của các nhà quản trị của trung tâm doanh thu.




24

thông tin thích hợp cho việc lựa chọn quyết định.
Ở đây cần ghi nhận một điều là những thông tin thích hợp trong một tình
huống quyết định này không nhất thiết sẽ thích hợp trong tình huống khác. Nhận
định này xuất phát từ quan điểm những mục đích nghiên cứu khác nhau cần có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status