Văn hóa ứng xử của người nam bộ và người mỹ qua lời khen và lời hồi đáp khen - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*********************

TRẦN KIM HẰNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI NAM BỘ VÀ NGƯỜI MỸ
QUA LỜI KHEN VÀ LỜI HỒI ĐÁP KHEN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố HỒ CHÍ MINH - Năm 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*********************

TRẦN KIM HẰNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI NAM BỘ VÀ NGƯỜI MỸ
QUA LỜI KHEN VÀ LỜI HỒI ĐÁP KHEN
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU
Mã số: 62.22.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHANG

Thành phố HỒ CHÍ MINH - Năm 2011


QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
-CN:

Chủ ngữ

- HĐ:

Hành động

-HĐK:

Hồi đáp lời khen

-HSSV:

Học sinh, sinh viên

-KMR:

Hành động khen hay thành phần mở rộng

-LĐPT:

Lao động phổ thông

-LK:

Lời khen


-Phụ lục 01: Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. (Hình 1.1)

1

-Phụ lục 02: Bốn cấu trúc diễn ngôn. (Hình 1.2)

1

-Phụ lục 03: Các kiểu gọi phổ biến trong tiếng Anh ở Mỹ. (Bảng 1.1)

2

-Phụ lục 04: Khen và các hành động liên quan. (Bảng 1.2)

3

-Phụ lục 05: Một số hành động khác có liên quan mật thiết với khen. (Bảng 1.3)

3

-Phụ lục 06: Các kiểu xưng hô thường gặp của người Nam Bộ.

4

-Phụ lục 07: Những từ ngữ cùng nhóm với khen.

6

-Phụ lục 08: Phiếu khảo sát (Việt, Anh).


Phụ lục 16: Danh mục mã hóa các dữ liệu.

100


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU

Trang

01. Lý do chọn đề tài

1

02. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2

03. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

04. Tư liệu nghiên cứu

3


11

1.2. Ứng xử trong ngôn ngữ – văn hóa

12

1.2.1. Khái niệm về ứng xử và văn hóa ứng xử

12

1.2.2. Ứng xử trong ngôn ngữ và văn hóa

13

1.3. Một số đặc điểm về văn hóa Nam Bộ
1.3.1. Môi trường tự nhiên và xã hội Nam Bộ
1.3.2. Văn hóa Nam Bộ
1.3.3. Con người Nam Bộ
1.4. Một số đặc điểm về văn hóa Mỹ
1.4.1. Môi trường tự nhiên và xã hội Mỹ

29
29
30
32
33
33



55

Chương 2 VĂN HÓA NAM BỘ QUA LỜI KHEN VÀ HỒI ĐÁP KHEN

58

2.1. Văn hóa Nam Bộ qua lời khen và hồi đáp khen xét ở góc độ sử dụng từ ngữ
và cấu trúc

58

2.1.1. Cách sử dụng từ ngữ trong lời khen và hồi đáp khen

59

2.1.2. Cách diễn đạt

63

2.1.3. Các cấu trúc thường dùng trong lời khen và hình thức hồi đáp khen

65

2.2. Văn hóa Nam Bộ qua lời khen và hồi đáp khen xét ở góc độ tương tác
ngôn ngữ- xã hội

77

2.2.1. Khen và hồi đáp khen xét ở góc độ giới tính


Chương 3 VĂN HÓA MỸ QUA LỜI KHEN VÀ HỒI ĐÁP KHEN

103

3.1. Văn hóa Mỹ qua lời khen và hồi đáp khen xét ở góc độ sử dụng từ ngữ
và cấu trúc
3.1.1. Cách sử dụng từ ngữ trong lời khen và hồi đáp khen
3.1.2. Cách diễn đạt

103
104
106


3.1.3. Các cấu trúc thường dùng trong lời khen và hình thức hồi đáp khen

110

3.2. Văn hóa Mỹ qua lời khen và hồi đáp khen xét ở góc độ tương tác
ngôn ngữ- xã hội

132

3.2.1. Khen và hồi đáp khen xét ở góc độ giới tính

132

3.2.2. Khen và hồi đáp khen xét ở góc độ tuổi tác

134


4.1.1. Trên phương diện ngôn ngữ

153

4.1.2. Trên phương diện tư duy

157

4.2. Nét khác biệt trong văn hóa ứng xử Việt- Mỹ qua lời khen
và hồi đáp khen

166

4.2.1. Trên phương diện ngôn ngữ

166

4.2.2. Trên phương diện tư duy

167

4.3. Ứng dụng
4.3.1. Một vài lỗi lầm cần lưu ý
4.3.2. Nghệ thuật khen và tiếp nhận lời khen

185
187
189


thể của khen trong các vấn đề liên quan đến văn hóa và giao thoa văn hóa. Luận án
của Nguyễn Văn Quang rất sáng tạo trong hình thức trình bày và xử lý các thông
tin dữ liệu đối chiếu song ngữ và văn hóa Việt -Mỹ. Tuy nhiên, thông qua 100 phiếu
khảo sát bằng tiếng Việt và 100 phiếu khảo sát bằng tiếng Anh dường như chưa nói
lên hết tính phổ quát của đề tài vì tiếng Việt trong luận án này là tiếng Việt vùng
Bắc Bộ. Tác giả Nguyễn Văn Quang có quan tâm nhiều đến yếu tố văn hóa và giao
thoa văn hóa theo cách miêu tả mà chưa lý giải tận nguồn cội vì sao lại có hiện
tượng này hay cách phản ứng kia trong cả hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa Đông,
Tây trong hai xã hội khác nhau, thuộc hai châu lục rất xa nhau.

Vì thế, chúng tôi thấy rõ tính cấp thiết của đề tài trong việc giúp cho người
dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh có cái nhìn toàn diện hơn về lời khen và
hồi đáp lời khen trong văn hóa ứng xử của xã hội Việt Nam, điển hình là tiếng Việt


2
Nam Bộ và xã hội Mỹ, cụ thể là tiếng Anh ở Mỹ. Nghiên cứu này góp phần vào việc
soi sáng lý luận giao tiếp dưới tác động của các yếu tố ngôn ngữ- văn hóa. Các lỗi,
lầm khi khen và hồi đáp khen trong ngôn ngữ và văn hóa ứng xử của người Việt học
tiếng Anh hay người Anh, Mỹ học tiếng Việt cũng rất cần được nghiên cứu nhằm
tìm ra nhiều giải pháp giúp những đối tượng này khắc phục và giao tiếp thuận lợi,
thành công hơn trong môi trường đa ngôn ngữ và giao thoa văn hóa. Đó chính là
những lý do để chúng tôi chọn đề tài này.
02. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
Tìm hiểu những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa ứng xử thể hiện qua lời
khen và lời đáp trong tiếng Việt ở Nam Bộ và tiếng Anh ở Mỹ để giúp cho việc giao
tiếp hàng ngày đạt tối đa mặt tích cực và giảm tối thiểu mặt hạn chế. Đồng thời, kết
quả nghiên cứu góp phần nâng cao việc dạy và học tiếng Anh cho người Việt và
tiếng Việt cho người nước ngoài. Để đạt được mục đích này, luận án cần phải giải
quyết một số việc cụ thể sau:

Tư liệu phục vụ cho việc khảo sát thực tế, phân tích và bình luận trong luận án
được thu thập chủ yếu từ ba nguồn.
04.1. Quan sát, ghi nhận trong giao tiếp thực tế.
04.2. Các ấn phẩm hiện đại gồm truyện, sách, giáo trình dạy và học ngoại ngữ
được chọn ngẫu nhiên; dựa trên tiêu chí là được xuất bản chính thức, công khai
bằng tiếng Anh hay bằng tiếng Nam Bộ.
04.3. Điều tra khảo sát được tiến hành bằng hai cách:
a. Điều tra bằng phiếu khảo sát: Phiếu khảo sát (Ankét) được soạn thảo bằng
tiếng Việt cho người Việt Nam Bộ và tiếng Anh cho người Mỹ, gồm ba phần: (1)
thông tin cá nhân của đối tượng khảo sát, (2) suy nghĩ và nhận định, (3) các trường
hợp cụ thể. Đối tượng điền phiếu là người Việt sinh trưởng ở các vùng thuộc miền
Nam VN và người Mỹ sinh trưởng tại Mỹ. Tất cả có trình độ học vấn từ trung học
phổ thông trở lên và trẻ nhất là 18 tuổi (xem phụ lục 08) .
b. Điều tra bằng phỏng vấn sâu: Đối tượng gồm người Việt Nam Bộ và người
Mỹ (sinh trưởng tại Mỹ) có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông và trẻ nhất
là 18 tuổi (xem phụ lục 09).
05. PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU


4
Để thực hiện luận án này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp của ngôn
ngữ học xã hội, tức là phương pháp nghiên cứu về sự phân tầng trong sử dụng ngôn
ngữ. Sự phân tầng này được biểu hiện ở các tầng lớp xã hội khác nhau như nhóm
tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị, trình độ học vấn, mức thu nhập, v.v. Trong phạm
vi luận án, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các đối tượng khảo sát ở các góc độ:
(1) giới tính, (2) tuổi tác, (3) hôn nhân, (4) nghề nghiệp, (5) nơi cư trú, và (6) trình độ
học vấn.
Các thủ pháp của ngôn ngữ học xã hội như điều tra bằng phiếu, phỏng vấn
trực tiếp, miêu tả, thống kê và lập bảng biểu, so sánh và đối chiếu, phân tích định
tính cũng được áp dụng trong quá trình nghiên cứu, cụ thể là:

chuyển dịch.
06. CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN
06.1. Xác định được lớp từ ngữ đặc Nam Bộ và cách dùng chúng trong lời khen và
hồi đáp khen.
06.2. Đưa ra những mẫu câu trong lời khen cùng các kiểu hồi đáp khen phổ biến
của người Nam Bộ. Đồng thời chứng minh rằng, thói quen sử dụng các cấu trúc này
có liên quan chặt chẽ tới địa vị, tuổi tác, giới tính, hôn nhân, nghề nghiệp, học vấn,
nơi cư trú của người tạo lời.
06.3. Bổ sung về nội dung, mục đích và hình thức lời nói của khen hoặc đáp lại lời
khen trong tiếng Việt và tiếng Anh mà những người nghiên cứu đi trước chưa phát
hiện.
06.4. Khẳng định về mặt định tính và định lượng rằng, nội dung cùng hình thức
lời khen và hồi đáp khen có liên quan trực tiếp đến các đặc điểm riêng của chủ thể
khen và đối tượng được khen. Từ đó, tính văn hóa địa phương, tính văn hóa xã hội
và văn hóa cá nhân dđược xác định rõ.
06.5. Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa khen và các hành động khác có liên
quan.
06.6. Phân tích và chứng minh mối quan hệ tương hỗ giữa hành động lời nói của
ngôn ngữ và tư duy nhận thức trong văn hóa ứng xử theo truyền thống và hiện đại
của xã hội Việt Nam và xã hội Mỹ.


6
06.7. Cung cấp nhiều ví dụ sinh động về ngôn ngữ học xã hội trong dạy và học
tiếng Việt hay tiếng Anh.
06.8. Gợi ý nhiều chiến thuật trong khen và tiếp nhận lời khen để việc giao tiếp
giữa người Việt và người Việt, người Việt và người Mỹ, người Mỹ và người Việt,
người Mỹ và người Mỹ trở nên thuận lợi hơn và đạt hiệu quả cao hơn.
07. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm


Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Có rất nhiều nhà khoa học quan tâm và dày công nghiên cứu lĩnh vực văn
hóa, nhưng vì khái niệm và nội dung của văn hóa vừa quá rộng lại quá phức tạp;
hơn nữa, việc sử dụng thuật ngữ này hết sức đa dạng, nên có hàng trăm định nghĩa
khác nhau về văn hóa ở cả trong nước lẫn ngoài nước. Nhìn chung tùy vào từng
quan niệm, thuật ngữ văn hóa hàm chỉ tất cả, từ thời trang đến những tập tục lâu
đời; từ các đồ dùng vật dụng, đến những nghi lễ truyền thống, từ những nếp sinh
hoạt đời thường trong từng gia đình đến những thể thức tôn nghiêm nơi thờ cúng
linh thiêng. Krober và Klukholm (1952) (Dẫn theo [87]) cho rằng văn hóa là sản
phẩm do con người tạo ra; là lịch sử; bao gồm những tư tưởng, khuôn mẫu và giá
trị; là sự lựa chọn; là sự học hỏi; văn hóa hình thành trên nền tảng các biểu trưng
dân tộc và văn hóa vừa là sự trừu tượng của hành vi vừa là sản phẩm của hành vi.
Mọi nền văn hóa đều được hình thành chủ yếu dựa vào cách người ta ứng xử, cảm
giác và phản ứng. Nói tóm lại, Krober và Klukholm đã khẳng định rằng văn hóa
nhận ra nhờ ở những gì thường được thể hiện trong niềm tin, định hướng, giá trị,
cách thức ứng xử, dấu hiệu biểu trưng trong giao tiếp, các mối quan hệ, các quy tắc
nghi lễ mà các thành viên trong cộng đồng chia sẻ, cho dù có sự khác biệt về giai
cấp, nơi ở, các nhóm xã hội (XH), và đương nhiên là sự khác biệt giữa các cá thể.
Robert Lado cho rằng, “Văn hóa là một hệ thống cấu trúc của hành vi được mẫu
thức hóa”, còn Kluckholm và Kelli thì nhấn mạnh vào mẫu thức và hình thể về văn


8
hóa khi đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ các kiểu mẫu được tạo dựng về mặt
lịch sử cho cuộc sống, rõ ràng và không rõ ràng, có lí và phi lí, tồn tại trong khoảng
thời gian nhất định như là những điều chỉ dẫn tiềm tàng cho hành vi của con người”
[24,210]. Giddens định nghĩa văn hóa là các giá trị mà các thành viên trong cùng

biệt nhân bản, có
lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. “ (Dẫn theo [43,23])
Vậy có thể hiểu văn hóa là những nét chung của một cộng đồng, dân tộc hay
một quốc gia tồn tại tự nhiên ngay trên bản thân của mỗi người một cách có ý thức
hoặc không ý thức; thể hiện qua hành vi, cách ứng xử và các sản phẩm của mỗi con
người tạo ra trong môi trường xung quanh. Do đó, văn hóa có tính kế thừa, chắt lọc,
phát huy và lưu truyền.
1.1.2. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là tiếng nói của con người, “là hệ thống các âm thanh, từ ngữ và các
quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện giao tiếp chung cho một cộng đồng” (Dẫn
theo [42,1209]). Ngôn ngữ không phải là hiện tượng sinh vật, không mang tính di
truyền. Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng mang tính tự nhiên thuần túy, tồn
tại một cách khách quan, không lệ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Ngôn
ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong XH loài người, do ý muốn và nhu cầu giao tiếp
của con người. Do đó, ngôn ngữ là một hiện tượng XH (Dẫn theo [9,14]).
Emitt và Pollock [52] xem ngôn ngữ là một tiến trình, một sản phẩm và các tác
giả này cho rằng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức môi trường xung quanh, trao
đổi thông tin trong những tương tác XH, và chức năng chính là giao tiếp. Richards
[79,150] khẳng định ngôn ngữ có ba chức năng chính là: (1) Mô tả để đưa ra những
thông tin sự kiện. Loại thông tin này có thể khẳng định hoặc chối bỏ, trong một số
trường hợp còn được kiểm chứng lại. (2) Biểu đạt cung cấp thông tin về người nói;
về cảm nhận, mối quan tâm, thành kiến và các kinh nghiệm đã qua của người nói.
(3) Xã hội thiết lập và duy trì các mối quan hệ giữa con người với nhau. Các nhà
ngôn ngữ học cũng cho rằng, ngôn ngữ có hai chức năng chính là phương tiện giao
tiếp trọng yếu nhất của con người và là phương tiện của tư duy. Hai chức năng này
luôn gắn liền nhau vì ngôn ngữ và tư duy cùng ra đời một lúc, không tách rời nhau.


10
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng và tham gia vào quá trình hình thành

11
buộc về văn hóa đối với lối nghĩ của dân tộc, thể hiện trong cách ngôn ngữ đó chia
cắt hiện thực và phạm trù hóa kinh nghiệm.
Chúng tôi cho rằng ý kiến của Deena Levine đã nêu lên được mối quan hệ
giữa hai yếu tố ngôn ngữ, văn hóa rằng, ngôn ngữ, văn hóa và XH luôn đan xen lẫn
nhau. Do đó, để có thể hiểu được một ngôn ngữ thì nhất thiết phải có kiến thức cơ
bản về văn hóa và XH của cộng đồng nói ngôn ngữ đó. Nói cách khác, để hiểu được
hành vi, văn hóa ứng xử của ai đó thì thật cần thiết phải hiểu được tường tận XH
mà người đó được sinh ra và ngôn ngữ mà người đó sử dụng.
1.2. ỨNG XỬ TRONG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
1.2.1. Khái niệm về ứng xử và văn hóa ứng xử
“Ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử” [3,11]. Theo Hoàng Phê, ứng là
đáp lại, và xử là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ với người khác trong
một hoàn cảnh cụ thể nhất định [30]. Do đó, từ ứng xử bao gồm nhiều nghĩa khác
nhau như ứng đáp, ứng đối, ứng phó, ứng biến, ứng khẩu và xử sự, xử thế, xử trí,
xử lý, cư xử, đối xử, v.v. Từ góc độ văn hóa XH, Đoàn Văn Chúc giải thích ứng xử
được dùng “để chỉ các hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò này đối
diện với một vai trò khác. Và đó là những hành động, hoặc gọi là phản ứng theo một
cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò XH với nhau, mà còn
ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” [8,123]. Ứng xử của con người, dù
là đối tượng nào, cũng “không diễn ra theo cách ngẫu nhiên, tùy tiện; mà trước mỗi
loại tình huống, con người đều ứng xử theo một cách nào đấy” [8,125]. Từ chỗ mang
tính đơn lẻ, những kiểu ứng xử dần dần được lựa chọn, đánh giá, khái quát hóa để
trở thành khuôn mẫu chung cho những quan hệ ứng xử cùng loại, tức là nếp ứng xử
hay khuôn mẫu ứng xử hoặc khuôn mẫu văn hóa, là tiền đề của văn hóa ứng xử
mang tính chuẩn mực cộng đồng, XH. Tác giả Phạm Vũ Dũng đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử,
chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác
nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm lý… trong quá trình phát triển
và hoàn thiện đời sống; đã được tiêu chuẩn hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân,

người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi
thực hiện hành động ở lời đó” [6,90]. Austin cũng đã phân loại “Những hành động


13
phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng
cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành động hay số phận của người khác là
hành động ứng xử” [7,121]. Theo lẽ thường, dù không buộc người nghe phải hồi
đáp, nhưng không nhận được tín hiệu phản hồi nào từ người nghe cho lời nói của
mình, người nói sẽ cảm thấy hụt hẫng, bị coi thường. Còn chính người nghe nếu
không có phản ứng hồi đáp nào, cũng sẽ tự cảm thấy thiếu lịch sự. Do đó, tính lịch
sự, lễ phép và tính phù hợp đóng vai trò rất quan trọng trong giao tiếp bằng ngôn
ngữ.
1.2.2.2. Lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ
a. Một số quan điểm về lịch sự
Trong giao tiếp, để có được sự thành công không nhất thiết phải có sự trao đổi
thông tin, mà thường là để chứng tỏ sự ân cần quan tâm lẫn nhau. Do đó, lịch sự hết
sức cần thiết trong đời sống hằng ngày. Theo Lakoff, lịch sự là “một hệ thống các
quan hệ liên nhân được thiết lập để tạo thuận lợi cho giao tiếp bằng cách tối thiểu
hóa khả năng gây xung đột và đối đầu vốn tàng ẩn trong mọi đối tượng giao tiếp của
con người” (Dẫn theo [53]). Để tạo lập sự hòa hợp giữa các đối tác giao tiếp, Lakoff
đưa ra ba nguyên tắc lịch sự là: (1) Không áp đặt. (2) Hãy để ngỏ sự chọn lựa. (3)
Cố phát triển tình cảm thân thiện và tin cậy [66,299]. Nhằm làm tối thiểu hóa những
cách nói mất lịch sự và phát huy tối đa những cách nói lịch sự, Leech [67] đưa ra
sáu phương châm: tế nhị, rộng lượng, tán thưởng, khiêm tốn, tán đồng, cảm thông.
Theo Leech, sáu phương châm này có thể áp dụng trong mọi XH, với mọi nền văn
hóa và đặc biệt ở những quốc gia nói tiếng Anh, thì phương châm một trở nên quan
trọng nhất. Một quan điểm khác về lịch sự, mà được các nhà nghiên cứu ủng hộ rất
nhiều, liên quan đến thể diện, hình ảnh của chính mình trước công chúng, là của
Brown và Levinson [48], [49]. Các tác giả đưa ra hai khía cạnh của thể diện là

nghe về một điều gì đó. Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người nghe.
Nó có tính lảng tránh và bù đắp, nghĩa là tránh không dùng hành động đe dọa thể
diện hoặc bù đắp những tổn hại về thể diện khi không thể tránh thực hiện một hành
động FTA nào đó với những biện pháp làm dịu hóa vấn đề như nói giảm, nói gián
tiếp, nói ướm, xin lỗi, thanh minh, vuốt ve, giảm sốc. Tác giả Nguyễn Quang [32]
đưa ra một số các yếu tố tác động đến lịch sự dương tính và âm tính của người Việt,


15
gồm: tuổi tác, giới tính, địa dư sinh sống, điều kiện sống, trình độ ngoại ngữ và mức
độ văn hóa hóa, bản chất nghề nghiệp, khoảng cách quan hệ, thái độ, tình cảm cần
biểu hiện, khí chất, trạng thái tâm lý, môi trường, đề tài giao tiếp, mục đích giao
tiếp. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu về lịch sự ở phương Đông không thống nhất
rằng lịch sự là chiến lược của cá nhân hay trong tương tác XH. Đối với những nhà
nghiên cứu này, lịch sự là sự tuân theo những quy định chuẩn mực trong XH. Theo
Matsumoto, trong văn hóa Nhật, khái niệm thể diện của người Nhật gắn liền với sự
tôn trọng trật tự thứ bậc và sự thừa nhận vị thế XH của người đối thoại hơn là ý
thức về quyền hay sự tự do cá nhân. “Trong bất kỳ một phát ngôn nào của tiếng
Nhật, người ta cũng bị bắt buộc phải tiến hành những lựa chọn về hình thái và từ
vựng phụ thuộc vào mối quan hệ liên nhân giữa các thành viên tham gia giao tiếp.”
[70,127]. Còn lịch sự trong quan niệm của người Trung Quốc, theo Gu, dù có tính
chiến lược vẫn là một hiện tượng “thuộc về cấp độ XH, có sự áp đặt chuẩn mực lên
mọi cá nhân.” [54,247], mà việc không tuân thủ chuẩn mực này sẽ dẫn đến những
phê phán của XH [19,8]. Khái niệm lịch sự trong tiếng Trung Quốc có ý nghĩa là
“khiêm với mình và tôn kính với người” (Dẫn theo [18,141]). Các lý thuyết lịch sự
của những nhà nghiên cứu phương Tây như của Lakoff, Leech, Brown và Levinson
có tính chất phổ quát. Chúng khác nhau về nội dung và phương pháp nhưng giống
nhau là đưa ra các nguyên tắc, các chiến lược cá nhân để tạo lập sự hòa hợp giữa
các đối tác giao tiếp. Chúng có tính cụ thể trong thời điểm diễn ra cuộc thoại, chúng
ta có thể tạm gọi loại lịch sự này là lịch sự chiến lược. Còn loại lịch sự có tính truyền

nhiên, tác giả khẳng định, người già thường thiên về cách diễn đạt gián tiếp hơn
người trẻ. Nữ giới thường thiên về cách diễn đạt gián tiếp hơn nam giới. Cư dân
nông thôn thường thiên về cách diễn đạt gián tiếp hơn cư dân thành thị. Người làm
khoa học XH thường thiên về cách diễn đạt gián tiếp hơn người làm khoa học tự
nhiên. Người có địa vị cao thường nói thẳng hơn so với người có địa vị thấp hơn.
Lúc giận dữ, người ta thường nói thẳng hơn bình thường. Người hướng ngoại hay
có khí chất hoạt, thường nói thẳng hơn người hướng nội hay có khí chất trầm. Khi
phải đề cập tới những đề tài tế nhị hay những điều cấm kị, người ta thường nói vòng
hơn. Khi nói về những vấn đề có lợi cho đối thể giao tiếp, chủ thể giao tiếp thường
nói thẳng. Nhưng khi nói về những vấn đề có lợi cho chủ thể giao tiếp, cách diễn đạt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status