Văn hóa ứng xử của người việt tây nam bộ với môi trường sông nước (qua ca dao, tục ngữ) - Pdf 30

MỤC LỤC
Trang tựa
Quyểt định giao đề tài

-V-


-2-


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIÉT TÁT
ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cừu Long

ĐCSVN

Đàng Cộng sản Việt Nam

KHXH và NV

Khoa học xă hội và Nhân vãn

Nxb

Nhà xuất bản

TNB

Tây Nam bộ



Bàng đô các khu vực chịu ảnh hường của ngập lù hàng năm ờ

20

Hình 1.3

ĐBSCL
Lược dô kinh tê vùng ĐBSCL

25

Hình 2.1

Nhà ở ven sông

46

Hình 2.2

Nhà Công tử Bạc Liêu

48

Hình 2.3

Câu Mỹ Thuận

52



Ti lệ xuàt hiện ca dao về trang phục

45

Biểu đó 2.3

Ti lệ xuất hiện tục ngừ, ca dao vể cư trú

51

Biểu đồ 2.4

Ti lệ xuất hiện tục ngữ, ca dao về phương tiện đi lại

61

Biểu dó 2.5

Tỉ lệ xuất hiện tục ngừ, ca dao về lao động sán xuất

64

Biểu đó 2.6

Ti lệ xuất hiện tục ngừ, ca dao về đời sổng tình cảm

69



TRIRỜÌIG SÔNG NƯỚC (QUA CA DAO, TỤC NGỮ)"

làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành

Văn hóa học, với mong muốn dem den nhiều diều hấp dẫn, thú vị qua một góc nhò của nền
văn học dân gian. Đồng thời cũng góp phần dề người dân miền TXB tìm hiểu phát huy và
nâng cao nhận thức trong văn hỏa ứng xừ một cách hài hòa với môi trường sòng nước trong
tình hình hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong qúa trình hơn 300 nàm hình thành và phát triển, vùng đất mới Nam Bộ đã ữỡ
thảnh đề tài có tính chất thời sự cùa đông đảo çicri nghiên cứu trong và ngoài nước. Đặc biệt

-5-


vấn đề sưu tuyển, nghiên cửu ca dao, dân ca và tục ngừ Nam Bộ nói chung, miền TNB nói
riêng trước hết phải nói den các công trình thicr) về khía cạnh vãn học:
-

Đoàn Xuân Kiên ừong CA DAO MIỆT VƯỜN ( 1982) nói về công tác bước dầu sưu tầm
ca dao, dân ca Nam Bộ

-

Bùi Mạnh Nhị với SEN THÁP MƯỜI (1980) sưu tầm và giới thiệu Ca dao miền Nam về
Hồ Chí Minh; Lưu Nhất Vũ, Lê Giang với TÍM HIỂU DÂN CA NAM BỘ (1983).

-

Sờ Vãn hóa &Thông tin Đồng Tháp có TRÊN NỀN THÁP í 1983) giới thiệu ca dao của

ĐỒNG THÁP (1986) giới thiệu, sưu tầm ca dao về Đồng Tháp.

Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị Bạch Liên troné tác phẩm VAN HỌC DÂN GIAN BEN
TRE (1988) giới thiệu, sưu tầm ca dao và dân ca Ben Tre về chù đề thiên nhiên, con
người, tình yêu nam nừ và gia đình.

Nguyễn Vạn Niên với CA DAO DÂN CA CHÂU ĐỐC (1988) đã sưu tẩm, phân
loại và giới thiệu ca dao dân ca vùng đất này.
-

Thạch Phương (cb) với ĐỊA

CHÍ

LONG AN (1989) dã çiành một phần dc giói thiệu và

sưu tầm ca dao Long An.
-

Đoàn Tứ, Thạch Phương (cb) với ĐỊA CHÍ BEN TRE (1991) dã giành một phần dề giói
thiệu và sưu tầm ca đao - dân ca Ben Tre.

-

Nguyễn Xuân Kính (cb) với KHO TÀNG TỤC NGỪ NGƯỜI VIỆT, (1995).

-6-


-


Lê Giang vối BỘ HÀNH VỚI CA DAO (2004).

-

Chu Xuân Diên (ch) với VÃN HỌC DÂN GIAN BẠC LIÊU (2005), v.v...
Bên cạnh dó, có các công trình nghicn cửu it nhiều dề cập ca dao, tục ngừ trong mối
quan hộ tìm hiểu dặc diểm, sắc thái đời sống vãn hóa con người Nam Bộ nói chung, miền
TNB nói riêng, có thổ kc tên như;
-

Nguyên Hoa với TINH CÁCH NGTCỜÍ NAM BỘ QUA

CA DAO

-

DÂN CA

(1988) biên khảo

vả sưu tuyển ca dao - dân ca Nam Bộ về tinh cách người Nam Bộ.
-

Ne^ycn Thị Mai với Khoá luận Tinh cách người nông dân Nam Bộ trong Vấn học dân
gian (1989).

-

Võ Thị Kim Loan với Khoá luận TINH

Khách thề: Luận vãn nghiên cứu các yếu tố gắn với môi trường sông nước qua ca dao
và tục ngừ phàn ảnh về văn hoá tổ chức đời sống và các giá trị văn hóa gắn với môi
trường sông nước.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
về khoa học, trước hết, luận văn thực hiện việc tuyền chọn ca dao và tục ngừ của
riêng người Việt miền TNB về Văn hóa ứng xử gắn với môi trường sông nước, mà nguồn tư
liệu chủ yểu là thành quả của các công trình sưu tầm, tuyền chọn trước đó. Đày là dicu mà
nhiều công trình đã thực hiện nhưng chưa trọn vẹn vì nhiều lý do. Thứ hai, luận văn dưa ra
một cải nhìn có tính chất hộ thống về ca dao và tục ngữ cùa miền TNB trong dicu kiện khoa
học thực tại, nhất là ưong nghicn cửu văn hóa, đường như chua có một công trình chính thức
nào nghiên cứu toàn diện dến vấn đề này.
về thực tiễn, trước thực tại đất nước dann đi vào con dường hội nhập và phát triển,
việc sưu tầm, phân loại ca dao và tục ngữ là một biều hiện thiết thực trong việc gìn giữ vốn
văn hóa dân gian quỷ giá của dân tộc. Nó không chi hừu ich với người miền Tây để hiểu biết
hơn về chính dời sống văn hóa mình mà còn có tác động tích cực giúp mọi người hiều biết vè
mành dất miền TNB bởi ca dao và tục ngữ dược tái hiện rất thường xuyên, de nghe, dc nhớ
và lâu quên.
5. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cửu văn hóa ứng xứ gắn với môi trường sông nước ờ miền TNB qua việc sưu
tuyển, phân loại ca dao và tục ngữ theo hệ thống dưới góc nhìn văn hỏa học với mục dich tác
già luận văn muốn góp phần gìn giữ nền vàn hóa dân gian của dân tộc. Bời trong kho tàng
văn học Việt Nam, tục ngừ, ca dao chinh là viên ngọc quý. Đồng thời vấn đề nghiền cứu sè
là nguồn tư liệu dề tác giả luận văn tham khảo phục vụ cho công việc hiện tại của tác giả.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa ứng xử gắn với môi trường sông nước ở miền TNB qua việc sưu
tuyển, phân loại ca dao và tục ngữ theo hệ thống dưóri góc nhìn văn hỏa học là một đề tài có
phạm vi khá rộng, bao quát. Do dó, đề tài sẽ được thực hiện thông qua sử dụng các phương
pháp nghiên cửu chủ yếu sau:


tục ngữ
Chương 3: Hộ giá trị vãn hóa gắn với môi tnrờiìg sồng nước ỡ
miền TNB

10-


PHÀN NỘI DUNG
CHƯƠNG I

TỎNG QUAN VÈ VÁN ĐÊ NGHIÊN cứu
1.1 Cơ sỡ lý thuyết về văn hóa vùng dưới góc nhìn địa văn hóa
Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của dất nước về phía nam, nằm gọn ừong lưu vực của
2 con sông Đồng Nai và Cửu Long, vả lả vùng đất cửa sông giáp biển. Nam Bộ có 2 mùa,
mùa mưa vả mùa khỏ, vòng quay thiên nhiên đã tạo ra vòng quay mùa vụ ờ dày với những
net khác biệt so với các vùng khác, vì thế nó cũng tạo ra đặc trưng vãn hóa tiêu biểu.
Nam Bộ còn là vùng đất mới. Khi vùng dất này thuộc về VN, dặc biệt là vào thế kỷ
XVĨĨ lúc người Việt vào đây làm ấn sinh sổng, vùng dất này mới dần dần phồn vinh, cùng
vời người Việt là người Hoa, người Khmer, người Chăm, người Mạ, Xtiêng, Charo, Mcmông
dã tạo cho vùng này một bức tranh văn hóa da dạng với cấu trúc chủ thể da tộc người.
Tuy nhicn xét kỳ về không gian và thời gian vãn hoả, có thề thấy Nam Bộ có hai vùng
văn hoá rõ rệt: vùng Đông Nam Bộ và vùng TNB. Trong số các nhà nghiên cửu phân vùng
văn hoá VN kề trên, Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuan đã xem “TNB" là một vùng
văn hoá với tỗn gọi là VÙNG

VĂN HOẢ

CỨU LONG hay vùng VĂN

HOÀ

vùng trũng thấp thì dất phèn và trầm tích dầm mặn do ảnh hường của môi trường biển và
nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày dặc cũng tạo nên sắc thái nổi bật.
Như vậy, vùng TNB có hệ sinh thải da dạng: ntỊọt, lợ, mặn đan xcn. Đày là vùng
dồng bằng, dịa hình khá bàng phẳng cao độ không lớn so với mực nước biển, nhung lại có
cành quan rừng da dạng với rửng ngập mặn ven biển, rừng nguycn sinh (Phú Ọuốc). rừng
Tràm (Đồng Tháp Mười), rừng nhiệt đới lả rộng (Hài đảo, Phú Quốc). Đặc biệt là TNB có
cành quan sông nước với một hệ thống thuý đạo, sông, rạch, lạch gắn với diều kiện tự nhiên
và tạo nên một vùng văn hoá sông nước.
Chính cấu trúc cảnh quan môi trường môi trường sinh thái của vùng đã quyết định các
loại hình khai thác kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp, và qui định ncn các phương pháp khai thác
tác động vào thiên nhiên của con người, góp phan tạo nên dặc trưng vãn hóa vùng. Những
nơi dất phèn, có nước ngọt trồng lúa 2 - 3 vụ, còn nơi đất mặn ven bien thí 1 vụ... đều tạo ra
kiều canh tác lúa ngập nước hay nước nổi. Ngoài ra, có một số nơi như Ư Minh là tiều vùng
vãn hỏa lúa nước điển hình với việc nhờ vảo nước mưa đổ canh tác (văn hóa tận dụng tài
nguyên nước, điều này dê nhận thấy ỡ nhừng vùng mận phèn vùng giồng duyên hài và vùng
bán đảo Cà Mau).
Đặc trưng địa văn hỏa dề nhận diện nhất ở vùng TNB là thái dộ
và sự ứng xử của chù thề với nguồn nước trong một vùng sông
nước khá độc đáo: Tận dụng nguồn nước mưa tạo nên quỳ nước.
Tận dụng mùa nước nồi đề dành nước cho mùa kiệt và với sự linh
hoạt đó người dân TNB giữ dược mức thủy cấp, ém phèn và tạo ra
vi khí hậu - một sự thích ứng tuyệt vời của con người ưong bất
kỳ hoàn cảnh tự nhiên nào. TNB lả vùng sòng nước, người dân
nơi này không chặn nước mà tháo


nước. Vùng này không hề có đê nhu đồng bằng Bắc Bộ mà dựa vào chế dộ thủy triều,
hệ thốnií thủy lợi dưa nước ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ, vào kênh rạch rồi lên mương, lcn
vườn, có kênh xuôi theo dòng một lạch triều, kênh xuôi theo dòng một lạch triều nối với
đuôi một lạch dối diện (kênh Xà No. Lái Hiếu, Cán Gáo...) kênh thẳng góc với 2 lạch triều,


TNB

ĐÓ LÀ SỰ DUNG HỢP VÁN HÓA CÙA NHIỀU

(Kinh Hoa - Chăm - Khmer...) theo Ngô Văn Lệ, “Nam Bộ - mà cụ thể là ĐBSCL

- là nơi duy nhất có các tộc người thiểu số sinh sống bên cạnh người Việt” [37; tr. 1061.
Ngoài ra, với vị thế ba mặt ticp giáp biển, với tổng chiều dài trỗn 700 km TNB có một ưu

-14-


điểm mà khó có vùng nào có, đó là môi trường giao lưu rộng mờ, rất thuận lợi cho tiếp xúc
và eiao lưu văn hóa - phát triền kinh tế.
1.2.

Giói thuyết khải niệm ca dao, tục ngừ
1.2.1.

Ca dao
Ca dao. ca dao - dân ca, dân ca và phong dao là những khái niệm dược bàn đến nhiều

ừong nghiên cứu về văn hoá dân gian nói chuniỉ, văn học dân gian nói riêng. Ranh giới khu
biệt các khái niệm này dôi khi không thật sự rạch ròi, bời cùng một tác phẩm, trong từng,
dicu kiện tiếp cận, người ta cỏ thổ gọi là ca dao hoặc ca dao - dân ca và cũng có thề là dân ca.
Trong phạm vi dối tượng luận vàn nghiên cứu, khái niệm “ca dao” dược đề cập trong tương
quan với các khái niệm còn lại nhàm cỏ thổ nhận diện một cách cơ bản lảm cor sở triển khai
các luận điểm nghiên cứu về sau.
Tron? nhiều bài nghiên cứu về ca dao, các tác giả có hướng xem ca dao là phần lời


dối trong ca dao, nó là tiếng vang cùa tình người, đưa người dến với người, chia sè
với người và sống với người.
về nội dung phản ánh, ca dao phản ánh khả toàn diện đời sống tâm tư, tình cảm của
COĨ1 người. Chinh vì vậy mà nhà nghiên cứu Hoàng Trinh dã cho rằng: ‘Tỉnh cảm trong ca
dao là tình cảm mang cải nhân tính, cái nhân tir tướng phản ánh thá giới quan, nhân sinh
quan và nhận thức của con niỊười về mọi mật ưong cuộc sồng“ [46; tr.337]. Và cùng theo
ông. hạt nhân triết lý của ca dao chứa dựng những truyền thống tu tưởng của dân tộc mà chủ
nghĩa nhân dạo cốt lõi là lao động - 15 phải - tình thương. Từ chủ nghĩa nhân dạo cót lõi này,
ca đao đi vào dời sống dán gian trên mọi bình diện, tử đề tài lao dộng, làm chủ thiên nhiên
cùa con niỊười đến tình yêu nước, yêu thiên nhicn, yêu đôi lứa, tình doàn kết lòng nhân ái,....
về hình thức ntỊhệ thuật, ca dao là một thồ thơ dân gian ncn trước hết nó phái là thơ.
Thơ - ca dao dược thề hiện chú yếu dưới hình thức lục bát và lục bát biến thề. Trong sách
KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT, CÓ 10.305 bài ca dao ữên tổng số
11. 825 bài dược sáng tác theo thẻ lục bát (chiếm 87%) và trong sách CA DAO VN, có 973
bài trên tồng số 1.015 bài được sáng tác theo thổ lục bát (chiếm 95%) [421- Bcn cạnh
dỏ, các thề thơ khác cũng dược vận dụng, như: song thất lục bát chính thức, sonç thất
lục bảt biến thố hoặc phối hợp nhiều thổ thơ khác nhau, số cầu troniỉ một bài ca dao
thưcmg không cố định, it nhất là 2 câu (thường là 1 cặp 6-8), nhiều thì có thể đến mấy
chục câu tùy theo sự diễn tả tâm trạng tình cảm của quần chủng sáng tác đố có thề
bộc lộ dược hét ý, hết tình của mình. Tuy nhiên, trong dicn xướng dưới phương thức
đối đáp, một bài có thể kèo dài vỏ hạn định tùy khả năng tiếp nối và hắt vần của
những người tham dự.
1.2.2.

Tục ngữ
Theo nhà nghiên cửu Hoảng Trinh, cho dán nay, líiới tục ngử học vẫn cho rằng chua

có một định nghĩa nào hoàn chinh có thề dược thống nhất chấp nhận vì tục ngừ là một thực
thổ ngôn ngữ kết tinh nhiều mặt: tư duy, tư tưởng, truyền thống, xã hội, ngôn từ (Riêng ngôn

Sấm ngữ: là những lời mang tinh chất tuơniỊ lai khi tiên đoán, tiên nghiệm sự việc sẽ
xảy ra.
Ngạn ngữ: rất gần với tục ngừ, vì chữ ngạn có nghĩa là lời nói người xua truyền lại.
Trong VÁN HỌC VN SỨ YẾU, học líiá Dương Quảng Hàm dã đồng nhất hai khái niệm này khi
cho rằng “tục ngữ còn gọi là ngạn ngừ" [16; tr.851 tuy nhiên, nếu hiểu ngạn ngừ có tinh chất
“lời hay ỷ dẹp” thì tục ngừ khòng hằn hao giờ cùng là như thế, bài kho tàng tục ngữ có
nhừng câu rất bình thường, chẳng hạn như những câu về thiên nhiên, thời tiết.

-18-


Phương ngôn: cùng rất gần với tục ngừ, song hạn chế về phạm vi vì chi hiu hành ưong
một vùng nhất định nào dó chú không thông đụng.
Cách ngôn và châm ngôn: với việc hiểu "cách” là phưcmg thức, "chầm" là răn bảo thì
cách ngôn và châm ngôn cũng rất gần với tục ngữ, thiên về tinh chất giáo huấn, hướng dẫn,
khuyên răn troniĩ đời sống.
Danh ngôn: là những lời nói hay vả diuig den mức sâu sắc, được truyền tụng, được
người dương thời và hậu thế nhắc lại; danh ngôn thường là sản phẩm của danh nhân (Một lời
nói tuy hay, nhimg cùa một người không nồi tiếng, khó ưở thành danh nçôn).
Từ những khải niệm cổ nót gần với tục ngữ trên, có thổ thấy ranh giới giữa tục ngừ
với cảc khái niệm trên đôi lúc không thật sự rõ ràng, có nhũng dicm giao thoa; dẻ có cơ sở
tìm hiểu dặc điểm tục ngừ, chúng tôi tạm chấp nhận việc không đe cập den những khải niệm
này mà sử dụntỊ khái niệm tục ngừ với một quan diểm tương đối rộng như phần ữên dã trình
bày.
về nội dung phản ảnh, dân gian thường coi tục ngừ là cái túi khỏn cùa người VN, sự
tinh khôn ờ đây không phải là tư tường triết lý cao siêu, huyền bí mà là nhừniỊ điều bình dị
đời thường góp nhặt nên ùt nhiều đời. Từ dó. có thể thấy tục niĩữ phản ánh da diện và khá
đầy dủ các mặt khi đưa ra nhừng nhận xét, phán doán về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và
đời sống con người, theo tác giả Chu Xuân Diên: “Phần lớn nội dung tục ngừ đều là nhừng
kinh nghiệm dược rút ra từ việc quan sát và thể nghiệm các hiện tượng xảy ra trong dời sống

vSông Hậu ra biển theo một dòng chảy duy nhất, mặc dù vẫn có những cù lao lớn ờ
giừa dòng. Sau khi gặp sông Vàm Nao nối liền với sõng Tiền, sông Hậu nhận một lượng
nước sông Tiền chuyển qua, làm cho sự chênh lệch lưu lượng giữa hai sông không còn đáng
kề. Cách biền khoảng 75km, sông bắt dầu chia nhánh đổ ra hiền qua ba cửa Định An, Bát xắc
và Tranh Đc [61Hệ thống sông ngòi, kênh rạch ( kênh: người miền Tây còn gọi là kinh) ờ ĐBSCL
chằng chịt như một mạng nhện khổng lồ, với hcm 2500km sông rạch tự nhiên và 2500km
kênh đào, trong dó có 1575km kênh cỏ lòng rộng 18- 60m, 480km rộng 8- 16m, còn lại là
dưới 8m [43].
Ỏ TNB, có một nền nhiệt độ cao, ồn định tronií toàn vùng, trung bình là 28 dộ c. Chế
độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm tít 2.226 - 2.790 giờ, ít xảy ra thiên tai. Một năm
chia làm hai mùa: mùa mưa vả mùa khô.
Mùa mưa thường trùng hợp với gió mùa tây nam (gió nồm), kco dài từ tháng 5 đến
tháng 10, dây cùng lả mùa nưỡc lù của sông Cửu Long. Nguồn nước trong vùng dược lấy tù
2 nguồn chỉnh là sòng Mekong và nước mưa. Sông Mekong chảy qua ĐBSCL hàng năm
dem lại lượng nước bình quân khoàng 475 tỷ mét khối nước và vận chuyển khoảng 150 200
triệu

tấn phù sa.Việc ĐBSCL

hàng năm bị ngập lù gần 50% diện tích tử 3
4 tháng tạo nên một đặc điểm nổi
bật của vừng, một mặt là hạn chế lán đối với canh tác, trồng
ưọt và gây nhiều khó khản cho đời sống của dàn cư, nhung mặt
khác cũng tạo nên nhùng diều kiện thuận lợi cho việc dánh bắt,

-22-


nuôi trồng thủy sản và hả sung dộ phì nhiêu cho dất trồng
trọt. Mực nước mùa lũ có thể cao hơn mực nước mùa cạn dến 4m.

bềnh bồng lên với nước cho nen người Việt miền này còn gọi là MÙA NƯỚC NOI.
>•1 m

I

t

«M

Hình 1.2: Ban đồ các khu vực chịu ảnh hường của ngập lũ hàng năm ờ ĐBSCL
fwww.pcdagogie.ac-toulouse.fr/histgco/program/enclasse/vietnam/vietnanl.htm]
Từ tháng 11, cố gió mùa dông bắc (gió bấc) và mùa khô bắt đầu. Sông Cửu Long
bước vào mùa kiệt nước, dòng chảy của sông cạn dần. Thật hiếm có một dồng bằng rộng
lớn, bầng phẳng, không vướng tầm mắt đến tận chân trời như ĐBSCL. Đày là một bình
nguyên bát ngát có dộ cao trung bình từ l-2m, những giồng 1ỊÒ cao không quá 5m so với
mực nước biển.
Điều kiện tự nhiên ờ miền TXB rất thuận lại cho sự sinh trưòng của mọi loài sinh vật,
dộng - thực vật đem lại nguồn lợi chủ yếu ỡ TNB là nhùng dộnc: - thực vật ưa nuớc [16].

về sản phẩm ưồng trọt trong vùng chủ yếu là cây lúa nước, sau đó mới đến các loại
khoai dậu, hoa màu. Bên cạnh đó còn có vườn cây ãn ưái được trồng với hàng trăm giống
khác nhau. Lớp phủ thực vật tự nhiên ở miền này chủ yểu là cò dại và các loài cây thủy sinh

-24-


mọc ven sông như bần, ô rô, dừa nước, điên diển, sậy ... Ờ vùng trũng ngập nước thì quanh
năm mọc dầy cò bang, cò năn, cò lác, lúa trời, sen, súng. Trên sông, lục bình ưôi lang thang
khắp nơi trên sông rạch, có chỏ còn kết thìuih tùng màng rộng mênh mông trên các bãi bồi.
Rừng ớ TNB chủ yếu là rừng ngập nước. Rửng ngập mặn ven biền chiếm diện tích


VẸT,

cây

DÀ; ĐƯỚC,

vẹt dần lấn chỗ,

mẩm lại mọc ngày càng xa ra phía ngoài ữcn những bãi phù sa mới. Chỗ đất phía sau đã ồn
dịnh, chất hữu cơ tăng lên nước biển nhạt hơn và vô số các loài cây khác ữanh nhau mạc hỗn
độn như: cốc, mắm trắng, vẹt dù, sú, bần, rồi đến chà là, dừa nước, sau cùng là rừng tràm
mọc thuần nhất. Cứ vậy mà tiến dần ra phía ngoài theo bước chân của mấm đen và đước. Đất
dai ở đồng bằn lí châu thồ sông Cửu Long mở rộng dần ra là nhờ vậy [35; 268-2701.
Cách đây 300 năm, TNB vẫn còn là một vùng hoang vu, dầy cọp, sấu, voi, trâu rừng,
rắn dộc, muỗi mèng, dia vắt. Đây còn là nơi tập trung nhiều loài thủy sản. Ricng cá nước
ngọt đã có tới 255 loài, thuộc 130 giống, 45 họ [25; 294]. Bờ bien ờ TNB dài, có 220 bãi cá,
chiếm ưu thế cà hai nguồn cá nồi và cá đáy. Các ngư trường lớn của vùng gồm: Phú Quốc,
Thổ Chu, Hòn Khoai. Hòn Chuối. Trong dỏ, Phú Ọuốc là ngư tniỡng lớn nhất nước, có dội
ntỊư thuyền dược trang bị ngư cụ tốt [ 11 ].
Rừng ngập mặn không chi là nơi cư trú, mà còn là nguồn cung cấp thức ãn cho động
vật thủy sinh. Lá cây rụng xuống nước được vi khuẩn làm cho mục rữa là nguồn thức ãn của
sinh vật phù du. Tôm, cua, tép ốc nhờ vào sinh vật phù du lớn lên, rồi tiếp tục cá lại ăn tôm,
tép, cá lớn nuốt cả bẻ... Một hecta rửng mỗi năm có thề cho 10 tấn lá. Như vậy với diện tích
300. 000ha. rừng ớ TNB là nguần cung cấp thức ãn rất lcm cho các loài thúy sản [34].
1.3.2.

Môi trường kinh tế-xã hội

-25-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status