1
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----oOo-----
LƯU CÔNG MINH
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA
NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT MIỀN TÂY
NAM BỘ TRONG QUAN HỆ
GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
(TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG)
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
2
2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG HCM.
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
1.
PGS. TS. PHAN AN
3. Lưu Công Minh. (2019 c). Phụ nữ Việt miền Tây Nam Bộ
trong quan hệ gia đình. Tạp chí Khoa học ĐH Sư Phạm
Tp. HCM (ISN 1859-3100).
4
4
5
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa ứng xử được hiểu là hành vi giao tiếp, cách đối nhân xử thế
của con người trong đời sống. Văn hóa ứng xử thể hiện trình độ học vấn
và nhận thức của cá nhân, cộng đồng và rộng hơn nữa là dân tộc. Văn hóa
ứng xử thể hiện bên ngoài qua các hành vi như giao tiếp trong cộng đồng
xã hội và thể hiện bên trong qua các chuẩn mực, giá trị đạo đức, văn hóa.
Nghiên cứu về văn hóa ứng xử để thấy được sự biến đổi của nó trong bối
cảnh xã hội hiện nay cũng góp phần phản ánh và thấy được sự phát triển
nói chung của xã hội trên bình diện văn hóa, văn minh.
Những nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt ở miền Tây Nam Bộ đã
để lại nhiều dấu ấn trong đời sống văn hóa và được phản ánh rất rõ nét
qua “thi, ca, nhạc, họa”, qua những công trình nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu văn hóa học, tâm lý học, xã hội học. Trong đời sống hiện nay,
văn hóa ứng xử của phụ nữ Việt ở Tây Nam Bộ không chỉ thể hiện dấu ấn
sự tương tác của con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và
xã hội xung quanh mà còn là cơ sở nền tảng cho sự phát triển của gia
đình, xã hội, cao hơn là sự phát triển của cả vùng miền có những đặc
trưng riêng vốn có như Tây Nam Bộ.
Các vấn đề cần quan tâm (Xã hội học số 4 (120), 2012)…
2.3. Các công trình nghiên cứu về phụ nữ Tây Nam Bộ và phụ nữ Tiền
Giang. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu: Văn hóa người Việt vùng
Tây Nam Bộ của Trần Ngọc Thêm chủ biên (2014); “Tìm hiểu giá trị văn
hóa của người Việt ở Nam Bộ: Trường hợp người con gái Út” (2015) của
Phan An; “Tìm hiểu ý thức, tình cảm, thái độ giao tiếp của người Nam Bộ
qua tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” (2015) của Nguyễn Văn Nở, Huỳnh Thị
Lan Phương; “Người phụ nữ trong văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
(qua tư liệu ca dao)" của Phan Thị Kim Anh (2019);...
Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, luận án sẽ tập trung làm rõ
văn hoá ứng xử của người phụ nữ Việt ở Tiền Giang trong mối quan hệ
với gia đình và xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng đến làm rõ đặc điểm văn hóa ứng xử của phụ nữ ở
miền Tây Nam Bộ, cụ thể là ở Tiền Giang, trong xây dựng gia đình và
hoạt động xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài; Nghiên cứu văn hóa ứng
xử của phụ nữ ở Tiền Giang thông qua các mối quan hệ trong gia đình và
các mối quan hệ xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Văn hoá ứng xử của người phụ nữ Việt từ 18 tuổi trở lên ở Tiền Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Từ năm 2007 đến nay (2018); Phạm vi không gian:
7.2. Về mặt thực tiễn:
Luận án góp phần cung cấp những cứ liệu quan trọng nhằm khẳng
định vai trò, vị thế của phụ nữ Tiền Giang trong việc thúc đẩy sự phát
triển của gia đình và xã hội thông qua văn hóa ứng xử. Luận án cung cấp
các thông tin hữu ích giúp các cấp, các ngành liên quan có thêm góc nhìn
nhằm đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp tạo điều kiện cho phụ nữ
phát huy vai trò, vị thế của mình trong thời kỳ hội nhập.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, Nội dung của luận án được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý
luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu; Chương 2: Văn hóa ứng xử của
phụ nữ Việt ở tỉnh Tiền Giang trong mối quan hệ với gia đình; Chương 3:
Văn hóa ứng xử của người phụ nữ Việt ở tỉnh Tiền giang trong mối quan
hệ xã hội
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
a. Văn hóa và văn hoá ứng xử
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người và môi trường xã hội của mình (Trần Ngọc
Thêm, 1996, tr.27). Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp
ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng
xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ,
hành vi, nếp sống, tâm sinh lý,… trong quá trình phát triển và hoàn thiện
đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá
nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc
trưng, bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia,… được cá nhân,
nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo.
Giới và vấn đề giới trong nghiên cứu văn hoá: Khái niệm “Giới”
dùng để chỉ sự khác biệt về vai trò xã hội giữa nam và nữ trên bình diện
vai trò, thái độ ứng xử và các giá trị của họ. Văn hóa giới (cultural
gender) là một khái niệm rộng, trong đó quy định sự khác nhau của vai
trò nam và nữ trong một nền văn hoá. Theo Phan Thị Kim Anh, văn hoá
giới “là văn hóa về những yếu tố của giới khác nhau giữa các nền văn hóa
và bên trong các nền văn hóa. Việc thể hiện giới tính hay vai trò giới là
một nhóm các chuẩn mực hành vi gắn liền với nam giới hay nữ giới được
nền văn hóa xã hội quy định và chấp nhận”.
10
1.1.3. Quan điểm của Nhà nước về công tác phụ nữ thời kỳ đổi mới
Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ được thể hiện qua các văn
kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng thể hiện quá trình phát triển về mặt
nhận thức của Đảng ta về vấn đề phụ nữ, góp phần đạt được mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và phấn đấu “đến
năm 2020, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ
lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”.
1.2. Khái lược về miền Tây Nam Bộ
1.2.1. Điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế – xã hội miền Tây Nam Bộ
Miền Tây Nam Bộ được hình thành gắn bó với quá trình khai hoang
của người Việt và việc xác lập chủ quyền của Nhà nước phong kiến cách
đây hơn 300 năm trước. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một bình
nguyên rộng lớn của Việt Nam, đây là vựa lúa của miền Nam Việt Nam.
Đất đai miền châu thổ Cửu Long hầu hết là đất phù sa. Tuy nhiên, cũng
như bất cứ một châu thổ nào, thành phần lý học của đất rất biến thiên.
Các đất ven sông thường là thịt pha cát, cũng như các dãy duyên hải xưa
cũ, chạy song song với bờ Biển Đông (còn gọi là giồng). Đất đai xa bờ
thể hiện đậm nét, xuyên suốt qua hàng ngàn năm nay. Tuy nhiên, tùy từng
giai đoạn phát triển của xã hội mà vai trò phụ nữ đối với gia đình mình và
gia đình chồng được thể hiện ở mức độ khác nhau.
1.3.2. Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt trong xã hội hiện nay
Phụ nữ Việt Nam đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của
dân tộc và đất nước. Từ những người được xem là lệ thuộc, thụ động
trong gia đình, phụ nữ Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ để ngang hàng,
bình quyền với nam giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Phụ nữ đã
dần khẳng định mình ở các vai trò lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức
không chỉ về mặt số lượng mà còn cả về chất lượng. Phụ nữ Việt Nam
ngày nay đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực, trong an ninh, quân đội,
trong xây dựng, kinh doanh; giỏi việc nước đảm đang việc nhà, đem lại
sự bình quyền nam nữ, đóng góp nhiều cho xã hội, cho công cuộc phát
triển của đất nước.
Tiền Giang với dân số hơn 1,7 triệu người, trong đó Phụ nữ chiếm trên
50%. Hệ thống tổ chức Hội hiện có 11 Hội Phụ nữ cấp huyện và 4 đơn vị
trực thuộc. Phong trào phụ nữ toàn tỉnh Tỉnh Tiền Giang hiện nay có đổi
mới và phát triển, công tác tuyên truyền, nâng cao kiến thức về pháp luật,
bình đẳng giới được quan tâm; nhận thức về chính trị, kinh tế – xã hội có
chuyển biến tích cực; nhiều mô hình hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình
hạnh phúc bền vững có hiệu quả, phụ nữ tham gia ngày càng tích cực các
phong trào thi đua yêu nước nhất là phong trào thi đua phụ nữ tích cực
học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc và cuộc vận
động “Xây dựng Gia đình 5 không, 3 sạch’’, tham gia xây dựng nông
12
thôn mới... góp phần tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh
nhà.
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA PHỤ NỮ VIỆT Ở TỈNH
13
c. Trong quan hệ tình cảm
Nét văn hóa đặc trưng trong đời sống gia đình của phụ nữ ở Tiền
Giang là họ rất xem trọng tình cảm, thủy chung, nhưng họ không ghen
tuông quá đỗi. Người phụ nữ Tiền Giang nói chung họ rất giàu tình cảm,
dường như tình cảm chế ngự lý trí nên đôi khi trong đời sống vợ chồng
xảy ra xung đột họ rất dễ bỏ qua, tha thứ cho chồng con. Người phụ nữ ở
Tiền Giang do tính cách vốn phóng khoáng, giản dị, hiền lành nên họ rất
dịu dàng, tình cảm. Trong đời sống hôn nhân gia đình họ luôn là người
làm nên mái ấm của gia đình, nồng nàn và đầy yêu thương.
Do ảnh hưởng bởi đặc điểm địa lý vùng miền, điều kiện sản xuất kinh
tế, đa số người phụ nữ Tiền Giang gắn bó với ruộng đồng, từ đó hình
thành nên đức tính chịu thương chịu khó trong cuộc sống. Họ không ngại
nắng mưa, tảo tần dành trọn tấm lòng cho gia đình, thầm lặng hy sinh cho
hạnh phúc của gia đình. Người phụ nữ Tiền Giang luôn nhún nhường
không so đo thiệt hơn với chồng trong những lúc cãi vã. Họ luôn tìm cách
dung hòa bầu khí trong gia đình để tránh xảy ra xung đột, mang lại không
khí hòa thuận trên dưới an bình.
2.1.2. Với con cái
a. Trong chăm sóc hàng ngày
Trong nét văn hóa đậm chất miền Tây, người mẹ luôn là chiếc cầu nối
các thành viên trong gia đình qua bàn tay chu đáo khéo léo, tỉ mỉ. Tiền
Giang nổi tiếng với hương vị đồng quê hay miệt vườn. Bữa cơm hằng
ngày không quá cầu kỳ cao lương mỹ vị, nhưng thay vào đó là những con
cá đồng mà họ vừa bắt được, nắm rau sau vườn như bài hát “còn thương
rau đắng mọc sau hè” cũng đã đủ mang lại cho họ bữa cơm ấp cúng, đậm
hương vị đồng quê. Người Tiền Giang nức tiếng bữa cơm cá kho tộ với
canh chua. Kết quả khảo sát tại tỉnh Tiền Giang về thời gian làm các việc
đình. Có khi sau cưới hỏi, con gái về nhà chồng ở được vài tháng hay vài
năm họ muốn dọn về nhà cha mẹ ruột ở vì họ thấy thoải mái khi ở gia
đình, bên cạnh đó người con gái cũng có thời gian chăm sóc, phụng
dưỡng cha mẹ lúc xế chiều.
b. Với cha mẹ chồng
Về nét đặc trưng cơ bản của con dâu ở Tiền Giang cũng giống như
những nàng dâu vùng miền khác. Với sự thay đổi cơ bản của xã hội và sự
phát triển của nền kinh tế thị trường, vai trò của người phụ nữ trong gia
đình và ngoài xã hội cũng đã thay đổi nên vai trò, chức năng làm dâu
cũng khác. Nàng dâu ở Tiền Giang thời hiện đại đã thoát khỏi thân phận
“ăn gửi, ở nhờ”. Họ được tự chủ hơn trong gia đình, có tiếng nói hơn bên
nhà chồng. Nàng dâu ấy cũng được chấp nhận là thành viên trong gia
đình chứ không phải là “người làm mướn không công”. Nhưng nàng dâu
hiện tại lại vấp phải những mâu thuẫn mới trong gia đình bên nhà chồng,
có khi sự hiện đại hóa của bản thân các nàng dâu lại làm cho gia đình bên
15
chồng bất mãn do sự ngông cuồng, thiếu lễ giáo, đức độ trong hành vi, lời
nói và thiếu tôn trọng cha mẹ chồng. Các nàng dâu ở Tiền Giang tuy sống
riêng nhưng họ vẫn quan tâm, chăm sóc và tỏ lòng kính trọng, hiếu thảo
với cha mẹ chồng vì cha mẹ chồng là người sinh và chăm sóc chồng mình
khôn lớn và cũng là ông bà của con mình.
2.1.4. Với anh chị em
a. Với anh chị em ruột thịt
Người phụ nữ miền Tây lúc xưa họ không được cha mẹ chia cho của
cải trong gia đình cũng như quyền thừa kế “nhất trưởng nam nhì con trai
út”, họ không có tài sản hay của cải nào cha mẹ cho do quan niệm "lấy
chồng theo chồng" nên không được chia phần gia tài, họ chỉ được quà
mừng trong ngày cưới gọi là của hồi môn, ngoài ra họ không được chia
một cách sâu hơn, ta có thể thấy sự phân chia vừa bình đẳng vừa mang
tính chất giới trong việc chuẩn bị mâm lễ tết cúng ông bà của người Tiền
Giang nói riêng và người miền Tây nói chung. Việc đi chợ ngày tết, làm
mâm cơm cúng ông bà ngày 30 tết dường như làm một nhiệm vụ mang
tính thiên chức nữ giới. Khi chúng tôi hỏi về điều này, và sự vất vả của
công việc nội trợ ngày tết, hầu như không có một than vãn hay trách cứ
nào về sự vất vả của hai công việc nói trên. Dường như tính mặc định/
thiên chức nữ đã được phát huy cao độ trong công việc, không gian, thời
gian này. Người phụ nữ dồn tất cả sức lực, tình yêu thương gia đình, lòng
kính trọng, hiếu thảo của mình để chuẩn bị mâm cỗ ngày tết. Họ làm với
tất cả hạnh phúc lẫn trách nhiệm, xem như một trách nhiệm vinh quang
hơn là công việc thông thường. Bên cạnh đó, việc dọn dẹp bàn thờ và bày
mâm ngũ quả và cúng bái trong nhà lại thuộc về “đặc quyền” của đàn
ông. Họ cũng làm việc này với tất cả lòng thành kính, ngưỡng vọng và
hiếu thảo hướng về ông bà tổ tiên. Nếu quan sát kỹ hơn, các vấn đề về
văn hoá truyền thống cũng như có tính giáo dục con cái sẽ rất cao qua các
công việc, nghi thức của mâm cỗ ngày tết. Qua việc thờ cúng ông bà, tổ
tiên bằng việc làm gương, luôn thành kính đều đặn nhang khói mà vô
hình dung người phụ nữ Tiền Giang đã khéo léo răn dạy con cháu luôn
tưởng nhớ đến công ơn của ông bà, tổ tiên. Người phụ nữ có vai trò quan
trọng trong việc lan tỏa niềm tin về sự phù hộ chở che của ông bà, tổ tiên
đến với thế hệ con cháu nhằm giúp con cháu hướng thiện, sống tốt với gia
đình và những người xung quanh.
2.2.2. Trong các nghi lễ chu kỳ đời người
Trong các gia đình ở Tiền Giang, đối với việc đặt tên con thường do
ông bà nội đặt. Tuy vậy, việc này được tham khảo kỹ lưỡng bên nhà
ngoại để tránh trùng tên với những người lớn. Trong các nghi lễ cưới xin
cho con, vai trò của người phụ nữ cũng hết sức được chú trọng. Nhìn một
cách hệ thống, đám cưới của người Việt phản ánh 2 quy tắc ứng xử cơ
bản: Quy tắc ứng xử trong gia đình, dòng tộc và Quy tắc ứng xử trong
của người phụ nữ trong mối quan hệ với chồng. Quan hệ vợ chồng của
người Tây Nam Bộ nói chung và người Tiền Giang nói riêng quan tâm
đến các giá trị thiết thực, linh hoạt, hỗ trợ nhau trong đời sống nhiều hơn
là tính lễ nghĩa. Theo đó, trong sinh hoạt, từ ăn uống, (từ cách ngồi ăn
trong gia đình cho đến thái độ và cách ăn, người phụ nữ vẫn nặng về tính
phục vụ, chăm sóc) hay các vấn đề về giáo dục con cái, vai trò của người
đàn ông vẫn có tiếng nói quyết định. Trong quá trình khảo sát văn hoá
ứng xử của người phụ nữ Việt ở Tiền Giang, chúng tôi tuyệt nhiên không
thấy gia đình nào quá gia trưởng kiểu chồng chúa vợ tôi hoặc kiểu lễ nghi
khách sáo trong cách xưng hô, giao tiếp vợ chồng. Người phụ nữ Tiền
Giang gọi chồng mình bằng ông và xưng tui cũng một biểu hiện của sự
bình đẳng này. Tính bình đẳng còn được thể hiện ngay cả trong quan hệ
18
luyến ái vợ chồng. Khái niệm cắn răng, nhắm mắt “chiều chồng” cũng ít
khi tồn tại trong đa số người phụ nữ Tiền Giang. Khi chúng tôi hỏi: Trong
đời sống vợ chồng, trước cô có phải thường xuyên chịu đựng hay cố
chiều chồng quan hệ khi bản thân mình không thích hoặc chưa sẵn sàng?
Đa số người phụ nữ được hỏi đều trả lời là không. Họ chỉ thực hiện việc
đó khi họ thích và bày tỏ thái độ dứt khoát khi mình không thích.
2.3.2. Văn hóa ứng xử linh hoạt, bình đẳng trong việc phụng dưỡng
cha mẹ hai bên
Trong mối quan hệ với gia đình gia tộc họ hàng nội ngoại, đặc biệt là
gia đình bên ngoại, người phụ nữ Việt ở Tiền Giang cũng có những ứng
xử khá đặc biệt. Một số nơi ở Tây Nam Bộ và Tiền Giang, nhiều phụ nữ
khi đi lấy chồng, ngoài việc chăm lo cho gia đình bên chồng, họ vẫn về
chăm lo cho gia đình mình, thậm chí rước bố mẹ về phụng dưỡng mà
không sợ anh em (ruột thịt) hay hàng xóm láng giềng dị nghị. Nhiều cô,
khi bố mẹ mất, họ rước ảnh, lập bàn thờ ở nhà mình và hoàn toàn nhận
nghĩa, gặp người có hoàn cảnh khó khăn dù không quen biết họ sẵn lòng
giúp đỡ, khi có người lỡ đường cậy nhờ họ đều vui vẻ chỉ dẫn. Vì họ
quan niệm rằng giúp đỡ người khác để lỡ mai cũng có người giúp mình
khi gặp khó khăn, hay “cha mẹ ở đời để đức cho con”.
3.1.2. Trong quan hệ với chính quyền địa phương
Phụ nữ Tiền Giang nói chung đã có một truyền thống lịch sử vẻ
vang. Họ đã tham gia tranh đấu, đưa vị thế của họ ngang tầm với nam
giới, họ đã hi sinh cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp lớn lao, vẻ
vang của quê hương, dân tộc.
Những sự thay đổi của xã hội, đã tác động đến những người phụ nữ
Tiền Giang, họ cũng thay đổi cách nhìn, tư tưởng, cũng tích cực học hỏi,
đào tạo bản thân để nâng cao trình độ, nâng cao trách nhiệm tham gia vào
công tác quản lý với chính quyền sở tại. Nhiều phụ nữ cũng đã khẳng
định được bản thân, xóa bỏ những mặc cảm tự ti về giới tính, họ đã làm
tốt các công tác được giao phó. Khi phụ nữ làm lãnh đạo chính quyền thì
những người phụ nữ tại địa phương được quan tâm nhiều hơn. Họ cũng
quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của chị em: điều kiện sống,
lao động, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, nghỉ ngơi, giải trí… dần dần được
cải thiện tích cực, hầu hết họ coi đó là trách nhiệm của mình nên phải chu
toàn cho tốt, góp phần đem lại sung túc cho cuộc sống của chị em nơi
thôn xóm.
3.1.3. Trong cơ quan – Đoàn thể
Thống kê cho biết, phụ nữ Tiền Giang làm các công việc tại cơ quan
nhà nước và hiện họ là công nhân, viên chức nhà nước. Số người làm
việc tại trụ sở xã, huyện, thành phố là 75 người, chiếm 27,7% số người
được phỏng vấn. Các nghề khác như: công nhân chiếm 5,0%; làm nông
chiếm 6,9%, làm nội trợ chiếm 35,6%. Như vậy, công việc làm nông chị
em chiếm vị trí thấp nhất do nghề này đòi hỏi nhiều sức lực. Phụ nữ Tiền
Giang cũng tham gia tích cực vào đoàn viên, đoàn thể. Họ hăng hái thực
những nghị định, nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Đảng, của nhà
cúng tế trong lễ Nghinh Ông ở Vàm Láng (Mùng 9 và Mùng 10 tháng 3
Âm lịch); tham gia tái hiện đội quan đánh giặc của Trương Định (20
tháng 8 Âm lịch)… Bên cạnh đó, người phụ nữ cũng tham gia tích cực
vào các trò chơi như bịt mặt đập bình; kéo co…, các hoạt động thể dục
thể thao được tổ chức trong lễ hội.
Như vậy, nhìn từ vai trò giới, gần như không có sự phân biệt về giới
trong các hoạt động lễ hội mang tính tâm linh, cộng đồng. Cụ thể hơn,
trên một phương diện văn hoá ứng xử, người phụ nữ Tiền Giang khi tham
gia các hoạt động lễ hội tại địa phương luôn có ý thức về tâm thế, hành vi
và cả sự giao tiếp. Họ không quá cầu kỳ về trang phục khi đến tham dự
21
các hoạt động lễ hội nhưng qua khảo sát của chúng tôi, hầu như không có
sự cẩu thả hay ăn mặc phản cảm nào của người phụ nữ ở các địa điểm
diễn ra lễ hội. (Hiện tượng mà những năm gần đây khá phổ biến ở một số
nơi khác). Quan sát lễ cúng tại lễ Nghing Ông ở Vàm Láng ngày 13 và
14/4/2019 (nhằm ngày mùng 9 và 10/3 âm lịch) vừa qua, chúng tôi nhận
thấy: Những người phụ nữ đến tham gia lễ đều ăn mặc giản dị (không
khác so với ngày thường); đồ lễ cúng tế cũng theo dạng cây nhà lá vườn,
có gì mang nấy. Ngay cả những mâm xôi (nhiều màu: xanh, trắng, đỏ,
tím) được những người phụ nữ chuẩn bị cũng rất “chất phác” về hình
thức, (theo kiểu chú trọng đến nội dung hơn hình thức bên ngoài); Khi
hành lễ, họ cũng hành lễ mộc mạc, ít bài bản, chỉ thắp hương, khấn vái
những điều (có lẽ đã chuẩn bị trước). Điều này khác với người phụ nữ
miền Bắc, khi tham gia lễ hội, họ chuẩn bị khá chỉn chu từ khăn áo, mủ
đến các vật lễ dâng cúng cũng được chuẩn bị và trang trí hết sức cận thận,
sắc màu bắt mắt; khi hành lễ thì rất cầu kỳ (quỳ rạp, vái lạy, khấn…) và
thời gian hành lễ cũng lâu hơn….
Những lễ hội này tạo cho những phụ nữ người Việt ở Tiền Giang
thiện nguyện, văn hoá, tôn giáo đều thể hiện thái độ ứng xử này. Đó
không chỉ là sự kết nối đạo và đời mà còn thể hiện một văn hoá ứng xử
mang đậm bản sắc phụ nữ Việt trên vùng đất phương Nam.
Công giáo: Chị em phụ nữ tại Tiền Giang cũng tích cực tham gia
vào các hoạt động tại giáo xứ, nhà thờ nơi họ sinh sống. Họ cũng hăng
hái tham gia vào các tổ chức Công giáo tại họ đạo như: hội phạt tạ Thánh
Tâm Chúa, Hội các bà mẹ Công giáo, Hội Legio, hội trợ tử… để như là
cánh tay nối dài của giáo xứ, phụ giúp các linh mục chăm sóc – viếng
thăm các gia đình trong họ đạo, thăm hỏi những gia đình khó khăn, hỗ trợ
chăm sóc những người già tàn tật, neo đơn. Bên cạnh đó, họ cũng tổ chức
những buổi đọc kinh cầu nguyện tại gia đình giúp tăng thêm tinh thần
đoàn kết giữa giáo dân trong họ đạo. Ngoài ra các chị em cũng tham gia
tổ chức các buổi hoạt động từ thiện: bữa cơm miễn phí cho người nghèo,
phát quà cho người nghèo các dịp lễ Tết, tổ chức khám chữa bệnh miễn
phí cho người có hoàn cảnh khó khăn, trao học bổng khuyến khích cho
các em nghèo.
Nhìn chung, người phụ nữ công Tiền Giang trong các công tác xã
hội, thiện nguyện luôn nêu cao vai trò và khẳng định được những đóng
góp của mình cho sự phát triển chung của nữ giới. Họ ứng xử, giao tiếp
và hành động bằng những việc làm cụ thể trên nhiều phương diện: công
tác thiện nguyện, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế hộ gia đình,
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông thôn…
Tín ngưỡng thờ thần: Chúng tôi thực hiện khảo sát tại miễu Vạn
Linh tại thành phố Mỹ Tho để nghiên cứu về văn hóa ứng xử cũng như
vai trò của phụ nữ nơi đây trong tín ngưỡng thờ thần. Hàng năm vào dịp
lễ cúng vía Bà chị em phụ nữ rất hăng hái tham gia vào các lệ cúng, do
đảm đang và tỉ mỉ, cẩn thận phụ nữ thường đảm nhiệm khâu chuẩn bị,
những việc không quá nặng nhọc và cần sự chu đáo thì được giao cho
phụ nữ như mua sắm đồ cúng, lau chùi, dọn dẹp, trang trí. Phụ nữ tham
gia trình bày đồ cúng lễ và tham gia bày biện đồ ăn thức uống, nấu ăn.
cô, chị em có chất giọng tốt thích biểu diễn thì tham gia vào đoàn hát để
thỏa mãn đam mê, cũng là để kiếm sống, còn những người phụ nữ khác
không có năng khiếu trổ tài thì đi xem, cổ vũ cho người diễn. Hát bội
thường diễn ra nhộn nhịp vào các ngày lễ Tết, cúng đình chùa, lễ hội…
đây là dịp vui chơi của các chị em, dân làng. Quan sát tham dự một lễ
cúng đình và chương trình hát bội, chúng tôi nhận thấy những người phụ
nữ – diễn viên khi tham gia các vỡ đều rất nhập vai. Họ hoá thân vào
những nhân vật lịch sử, các nhân vật cô đào trẻ đẹp (trong nghi thức Ngũ
hành của Lễ Đại Bội). Hầu hết những người phụ nữ này đến với với loại
hình nghệ thuật hát bội bởi say mê tiếng trống, tiếng đàn và những giai
24
điệu quyến rũ của nó. Lâu dần, trở thành cái nghiệp, và tự bao giờ, họ trở
thành những sứ giả văn hoá, người truyền cảm hứng và người lưu giữ ký
ức cộng đồng. Những lúc họ hoá thân vào tuồng xưa tích cũ, ngợi ca
những tấm gương trung, liệt, hiếu, nghĩa... cũng là lúc chúng tôi cảm
nhận rất rõ sự ứng xử nhân văn với văn hoá truyền thống; với các giá trị
về đạo đức, đạo lí của ông cha.
Đờn ca tài tử: Hiện nay ở tỉnh Tiền Giang có khoảng 100 câu lạc
bộ, nhóm đờn ca tài tử với trên 1 ngàn người tham gia thường xuyên ở
các Trung tâm Văn hóa, Nhà Văn hóa, các tụ điểm sinh hoạt văn hóa trên
địa bàn tỉnh. Đờn ca tài tử cũng thu hút đông đảo chị em, phụ nữ các tỉnh
miền Tây Nam Bộ nói chung, Tiền Giang nói riêng tham gia biểu diễn, họ
không chỉ góp lời ca mà còn học những loại nhạc cụ để tăng thêm phong
phú, đa dạng của buổi biểu diễn. Đa số phụ nữ nói chung đến với đờn ca
tài tử vì đam mê. Trong một cuộc khảo sát trên phạm vi hẹp, chúng tôi
nhận thấy, sự tham gia của phụ nữ trong đa phần có nguồn gốc bị động.
Họ bị ảnh hưởng bởi cha, chồng, hoặc tình cờ thấy mê rồi dần dần theo.
Một điều đặc biệt nữa mà chúng tôi nhận thấy là hầu như có sự “mặc
muốn nhắn gửi những tâm tình, những ước vọng, những khát mong. Cải
lương đã đi sâu vào đời sống đến mức những cái tên của nghệ sĩ trở thành
câu cửa miệng hoặc thành ngữ trong đời sống của công chúng “mút mùa
lệ thủy” ám chỉ hành động kiên trì, chịu chơi đến cùng như làn hơi ngân
dài, da diết của Lệ Thủy. Quý cô, quý bà Tiền Giang rất mê thể loại nghệ
thuật cải lương, mỗi khi có gánh hát về là phải đi xem, mặc cho đường sá
xa xôi hay đêm tối. Có những nhà không có ti vi phải đi xem nhà hàng
xóm, tụm sáu tụm tám xem ké cho thỏa mãn nhu cầu giải trí. Có những
bà lớn tuổi mê đến nỗi quên cả mỏi mệt sau ngày làm việc, có những cô
tay nách con nhỏ mà đi xem. Tuy nhiên những năm gần đây với sự phát
triển của xã hội, cuộc sống trở nên vội vã hơn, cùng với sự phát triển
công nghệ nên người ta cũng không còn bỏ thời gian đến những rạp hát
cả buổi để xem diễn cải lương nữa, màn ảnh truyền hình và băng đĩa đã
đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của người dân, bên cạnh đó thể loại tân nhạc
đang phát triển rộng rãi thống lĩnh thị trường âm nhạc nên loại hình nghệ
thuật sân khấu cải lương truyền thống dần dần đi vào suy thoái.
3.3. Nét đặc trưng văn hóa ứng xử của phụ nữ Việt ở tỉnh Tiền Giang
trong quan hệ xã hội
Người phụ nữ Tiền Giang trong mối quan hệ với cộng đồng nơi cư
trú, nơi làm việc cũng có những nét văn hoá ứng xử có thể xem là đặc
trưng. Những nét đặc trưng tính cách hay văn hoá ứng xử, xét cho cùng là
kết quả của quá trình giao tiếp với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội.
3.3.1. Văn hóa ứng xử chan hòa, cởi mở và thân thiện
Bắt đầu từ cái nhìn địa văn hoá, vùng đất Nam Bộ nói chung và Tiền
Giang nói riêng có cấu trúc mở, với điều kiện tự nhiên nhiều sông nước,
kênh rạch, khí hậu hiền hoà hai mùa mưa nắng; cá tôm sẵn bắt lúa trời
sẵn ăn… Đối với người phụ nữ Tiền Giang, trong quá trình khảo sát về
văn hoá ứng xử của họ ở khu xóm và địa bàn cư trú, chúng tôi nhận ra