BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CÁN BỘ KINH TẾ - KẾ HOẠCH
TIỂU LUẬN
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN
Tên tình huống: Xử lý tình huống giá gạo vụ đông xuân năm 2014
giảm mạnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nông dân trồng lúa.
Họ và tên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Nguyễn Việt Tùng
Nghiên cứu viên
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
HÀ NỘI – 2014
2
2
Phần I. Đặt vấn đề
1. Giới thiệu về khoá bồi dưỡng kiến thức QLHCNN.
Khóa học bồi dưỡng ngạch chuyên viên dành cho chuyên viên, viên chức
là khóa học cung cấp cho người học những kiến thức cơ sở căn bản nhất về đặc
điểm quản lý hành chính nhà nước, giúp người học bước đầu làm quen với môi
trường làm việc trong nhà nước cũng như nâng cao năng lực, và cải thiện công
tác quản lý hành chính Nhà nước trong đơn vị hành chính.
3
3
Trong thời gian qua, do tác động của nhiều nguyên nhân, giá gạo vụ đông
xuân ở ĐBSCL đã liên tục sụt giảm đến mức báo động. Nông dân vùng trồng
lúa lại đứng trước cảnh phải bán tháo để cắt lỗ. Thậm chí các thương lái cũng
phải chấp nhận bỏ tiền cọc chứ không thua mua lúa của người nông dân. Trước
tình hình nguy cấp, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình đã phải
cam kết dành khoảng 8 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi để thu mua tạm trữ gạo.
Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn cũng thực hiện phương án Chính phủ thu
mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo cho người dân với mong muốn kiềm chế việc rớt
giá. Điều đáng nói là đây không phải lần đầu tiên, người nông dân phải đối mặt
với hoàn cảnh đáng buồn như vậy mà điều này đã xảy ra rất nhiều lần trong quá
khứ.
Là một nghiên cứu viên làm việc trong Bộ Kế hoạch và Đẩu tư, một cơ
quan chuyên trách về hoạt động định hướng, hoạch định phát triển kinh tế của
Chính phủ, tôi cảm thấy rõ trách nhiệm lớn lao phải tự trao dồi kiến thức nghiệp
vụ cho bản thân, giữ vững đạo đức nghề nghiệp, và thực hiện tốt cuộc vận động
phòng chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ trong những năm gần đây.
Qua lớp học Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, tôi đã tiếp thu và được trang bị
nhiều hơn kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Do đó, tôi xin
chọn đề tài “Xử lý tình huống giá gạo vụ đông xuân năm 2014 giảm mạnh
gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nông dân trồng lúa” làm đề tài tiểu luận
cuối khóa học. Đây là cơ hội tốt để tôi vận dụng kiến thức đã học, liên hệ thực
tiễn, trên cơ sở đó nghiên cứu đưa ra những biện pháp thiết thực phù hợp, giúp
quá trình công tác bản thân tốt hơn.
Cấu trúc, nội dung giải quyết tình huống trên gồm có các phần sau:
Phần I. Đặt vấn đề
Phần II. Nội dung
5
5
Phần II. Nội dung
1. Mô tả tình huống
Một ngày đẹp trời tháng 4 năm 2014
Nguyễn Văn Giai là con thứ ba trong một gia đình thuần nông Nam Bộ,
từ đời ông nội đến đời ba anh Giai đều làm ruộng, suốt ngày bán mặt cho đất
bán lưng cho trời. Đến đời anh Giai, ba mẹ không muốn anh phải cực khổ nên
cố gắng nuôi con ăn học. Tốt nghiệp đại học, anh Giai may mắn tìm được công
việc văn phòng, không phải làm việc ngoài nắng gió. Hôm vừa rồi, gọi điện
thoại về quê hỏi thăm ba mẹ, đến chuyện lúa thóc thì nghe tiếng mẹ thở dài:
“Lúa năm nay mất giá ngay vào lúc sắp thu hoạch, bố phải bán cả xe máy, tivi
để trả tiền phân bón rồi. Chắc mất ít nhất mấy chục triệu mùa này, lại một mùa
trắng tay”. Nghe đến đây, nỗi buồn dâng lên trong anh Giai, một nỗi buồn khó
tả.
Tuy vậy, là một người có học, anh Giaingay lập tức gạt bỏ đau buồn sang
một bên, quyết tâm nghiên cứu nguồn gốc, căn nguyên của sự việc trên, tìm
bằng được những người phải chịu trách nhiệm cũng như cách thức giúp gia đình
anh tránh khỏi những mất mát tương tự sau này. Phát hiện đầu tiên của anh Giai
về kẻ chịu trách nhiệm hóa ra lại đến từ tận Ấn Độ, Thái Lan xa xôi. Theo thông
tin từ Hiệp hội lúa gạo Việt Nam, hai nước này đồng loạt “xả hàng”, bán hàng
triệu tấn gạo làm ảnh hưởng mạnh đến giá gạo. “Sản lượng của họ mỗi năm chỉ
xấp xỉ mình thôi, gạo ở đâu mà họ bán lắm thế? Gạo Ấn Độ chất lượng còn kém
hơn mình sao bán được hơn mình? Người nông dân Thái Lan sao thu nhập lại
cao thế, gấp 3,4 lần ba mẹ mình?”anh Giai ngẫm nghĩ. Sau một thời gian nghiên
cứu thêm, anh đã tìm ra nhữngnghịch lýmang tính vĩ mô hơn, tưởng như chỉ có
những loại gạo thơm cao cấp, có giá mỗi tấn cao hơn gạo Việt Nam rất
nhiều.Mặc dù gần đây, chính sách thu mua, tạm trữ đã vấp phải những khó khăn
do dự báo sai lầm dẫn đến Chính phủ Thái Lan chậm trả nợ cho nông dân. Tuy
nhiên với việc hàng nghìn nông dân Thái Lan cùng nhiều máy cày, máy gặt đã
lên tận Bangkok biểu tình, chặn đường cao tốc, bao vây trụ sở Bộ Thương mại
để đòi tiền, Thái Lan đã buộc phải trích quỹ 22 triệu USD thanh toán tiền trợ giá
gạo. “Thật không còn kỷ cương, phép nước gì nữa” Anh Giai thầm nghĩ.
Rất nhiều câu hỏi được đặt ra đối với anh Giai nhưng vẫn chưa có được
câu trả lời rõ ràng, anh vẫn say mê tiếp tục nghiên cứu. Sự bối rối cũng tương tự
đối với các cơ quan chức năng. Rất nhiều biện pháp đã được bàn đến, một số đã
được thực hiện nhưng chưa phát huy hiệu quả. Trách nhiệm của các bên trong
quản lý nhà nước thì vẫn mơ hồ, trách nhiệm vẫn là của chung. Trong khi đó,
người nông dân vẫn một nắng hai sương bên đồng ruộng, gìn giữ nghề truyền
thống, đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia mà vẫn nghèo, vẫn tự hỏi “rút
cuộc bây giờ, người nông dân chúng ta biết phải làm sao?”
2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
2.1 Nguyên nhân
2.1.1 Nguyên nhân khách quan
2.1.1.1 Thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, nguồn cung dư thừa trên thế
giới
Từ những tháng cuối năm 2013 cho đến đầu năm 2014, thị trường gạo thế
giới chịu áp lực rất lớn từ Thái Lan khi quốc gia này bung hàng tồn với giá thấp
(gạo 5% tấm của Thái giảm chỉ còn 375 USD/tấn), chưa kể sản lượng Thái Lan
năm nay tăng khoảng 2% so với năm trước. Thái Lan vẫn đang có kho dự trữ
lúa gạo lớn nhất từ trước đến nay trong lịch sử của họ và hứa hẹn sẽ còn cố
7
7
nhiên, ngay sau đó, giá lúa tiếp tục giảm sâu. Chỉ trong vòng một tuần, giá lúa
giảm 500 – 1000 đồng/kg.Tại nhiều địa phương khu vực ĐBSCL, nông dân
đành phải chấp nhận bán lúa giá thấp hơn 4.300 đồng/kg (lúa khô). Nông dân
thậm chí cả thương lái và đại lý đều chết “chùm”. Nhiều thương lái đã chấp
nhận bỏ tiền cọc cho nông dân chứ không mua lúa để chịu lỗ. Lợi nhuận của
người nông dân chắc chắn không thể đảm bảo ở con số mà chương trình cam.
Một nghiên cứu mới đây của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông
nghiệp, Nông thôn (IPSARD) đã chỉ ra rằng, sau khi trừ đi các khoản chi phí
nông dân có lãi nông dân hiện chưa được hưởng lợi 30% từ sản xuất lúa gạo
như mục tiêu Chính phủ đề ra. Ngay cả khi giá gạo trên thị trường thế giới lên
cao, nông dân vẫn không hưởng lợi từ giá lên.
8
8
Hộp 1. Giá lúa rơi tự do, 8000 tỷ về đâu?
Một “ông Hai lúa” huyện Tam Nông (Đồng Tháp) bộc bạch: “Tôi sở hữu 300
ha lúa, nhà báo đừng gọi tôi địa chủ. Nhân công của tôi được trả lương đầy đủ
theo hợp đồng. Tôi chết, nào ai biết: vốn vay ngân hàng, tiền phân bón, thuốc
trừ sâu... “.
Mà người trồng lúa chết là “chết chùm”, kéo theo cả đại lý phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, cả thương lái cũng chết. Một đại lý phân bón than: “Giá lúa
hiện nay thì nông dân lỗ nặng, họ lỗ thì lấy đâu tiền trả phân bón...” Ông này
chua chát thêm: “Xem ra cái nghề bán “phân” này đã đến thời mạt vận”.
Thương lái Nguyễn Tài Phú ở Châu Thành A, Hậu Giang chuyên thu mua lúa
vùng Cần Thơ, Hậu Giang thông tin: “Chỉ hơn 1 tuần qua, cánh thương lái
chúng tôi lỗ khá nặng, giá gạo hạt tròn giảm còn 700 đồng/kg, gạo hạt dài
giảm 1.000 đồng/kg. Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ, anh em thương lái không
9
9
trình, kỹ thuật sản xuất, thu hoạch cũng yếu. Khâu chế biến sau tiêu thụ cũng
không được quan tâm, trong khi đáng lẽ với một nền nông nghiệp của Việt Nam
do sản phẩm nông sản đặc thù thời vụ, nhanh hỏng… thì công nghệ sau thu
hoạch phải rất phát triển. Do vậy, gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu ở dạng
thô, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch lớn và bị các nước khác ép giá.
Chính phủ cũng chưa xây dựng được một cơ chế bảo vệ nông dân hiệu
quả. Cơ chế hiện nay chỉ có lợi cho các thương lái, công ty trung gian thu mua
lúa gạo và rất không công bằng cho người sản xuất. Có nhiều trường hợp nông
dân ký hợp đồng mua bán lúa gạo với doanh nghiệp từ trước nhưng khi có sự
thay đổi về giá, các doanh nghiệp sẵn sàng phá vỡ hợp đồng để tìm mức giá có
lợi cho mình. Các cơ quan nhà nước không có sự hợp tác để giúp nông dân. Hội
nông dân hay hội phụ nữ hiện nay chỉ là cơ quan phong trào, trong khi thực chất
nó phải là nơi bảo vệ được nông dân, có quyền đưa ra các tiếng nói của người
dân.Chỉ cần so sánh với Thái Lan, hiệp hội nông dân Thái Lan có cơ chế, bảo vệ
quyền của nông dân của mình, trực tiếp ký hợp đồng với các công ty xuất khẩu,
vì thế trong chuỗi lúa gạo của họ người sản xuất (nông dân) có quyền ra giá với
sản phẩm của họ. Vì họ có quyền cho nên họ cũng rất có trách nhiệm với chất
lượng sản phẩm của mình. Hay như ở phần mô tả tình huống, các nông dân Thái
Lan liên kết với nhau chặt chẽ đến mức họ hoàn toàn có thể tự tổ chức một cuộc
biểu tình quy mô lớn đến hàng ngàn người, bao vây thành phố đòi quyền lợi
chính đáng của mình.
Công tác dự báo về thị trường lúa gạo rất yếu kém và thiếu hiệu quả. Tình
trạng rớt giá thảm hại năm nay không phải là ví dụ tiêu biểu đầu tiên chứng tỏ
sự yếu kém của công tác dự báo thị trường, dự báo kinh tế của Việt Nam. Năm
2008, khi giá lương thực thế giới tăng cao, Việt Nam lại hoàn toàn không có gạo
chức Chủ tịch. Ông Phong nghỉ hưu ở Vinafood 2 từ đầu năm 2014 và gần đây
bất ngờ sắp xếp việc bầu ông Nguyễn Hùng Linh tổng giám đốc công ty du lịch
thương mại Kiên Giang vào vị trí chủ tịch VFA.
Một số thành viên VFA phản đối việc bầu bán cho là không minh bạch và
sai nội qui điều lệ. Chắc hẳn chức chủ tịch VFA phải có quyền và lợi rất lớn nên
mới xảy ra đấu đá như thế. Nhất là trong một thời gian dài, VFA dưới sự điều
hành của ông Trương Thanh Phong bị các đại biểu quốc hội phê phán kịch liệt.
Các đại biểu Quốc hội cho là VFA độc quyền xuất khẩu gạo một cách trá hình,
các Tổng công ty Lương thực miền Nam và miền Bắc chi phối tới 60%-70%
tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam và công tác điều hành xuất khẩu gạo
đem lại nhiều thuận lợi cho họ. Nhóm lợi ích này chỉ muốn buôn bán gạo xuất
khẩu hưởng chênh lệch giá, không muốn đầu tư vùng nguyên liệu hay chia sẻ gì
với nông dân, điều mà GSTS Võ Tòng Xuân gọi là ăn chặn ăn bớt của nông
dân.
2.2 Hậu quả
2.2.1Thiệt hại cho nông dân
Nông dân là những người đầu tiên và gần như là duy nhất chịu thiệt hại
trong nhiều năm qua. Đứng vào vị thế yếu nhất trong chuỗi giá trị, người trồng
lúa Việt Nam bị o ép đủ đường. Câu chuyện ở phần mô tả tình huống có lẽ ai
cũng hiểu rằng đó không phải là trường hợp cá biệt mà đang là thực trạng của
rất nhiều người nông dân trồng lúa ở Việt Nam.
2.2.2 An ninh lương thực
Nông dân bỏ ruộng ngày càng nhiều và xảy ra thường xuyên là hệ quả tất
yếu việc nông dân bị chèn ép nói trên. Ví dụ tiêu biểu như tại huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hóa, đến nay huyện có 69,83ha đất nông nghiệp bỏ hoang, với 1.170
hộ không có nhu cầu sản xuất nông nghiệp, trong đó bỏ hoang đất cấy lúa là
68,72ha (với 1.159 hộ). Riêng xã Tiến Lộc có tới 41,14ha đất nông nghiệp bỏ
hoang lâu nay, với 747 hộ nông dân không có nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
Trong số đó có 65 hộ nông dân làm đơn trả ruộng cho UBND xã, với diện tích
3,19ha.Tại cuộc tiếp xúc cử tri ở xã Tiến Lộc (Hậu Lộc) và buổi làm việc với
các nhà văn gần đây cũng đã nói lên tiếng nói của mình ủng hộ, kêu cứu thay
cho người nông dân.
3. Mục tiêu giải quyết tình huống
3.1 Bảo vệ lợi ích chính đáng người nông dân
Người nông dân phải được đảm bảo lợi ích chính đáng của mình. Người
sản xuất phải là người có quyền quyết định cho chính sản phẩm của họ. Họ phải
được hỗ trợ nâng cao năng lực về sản xuất, kinh doanh, kỹ năng thương thuyết,
liên kết với nhau và liên kết với các bên khác… Mọi can thiệp vào thị trường
không có nông dân đều sẽ chỉ dẫn đến sự lãng phí nguồn lực, kém hiệu quả.
3.2 Xác định rõ vai trò Hiệp hội lương thực Việt Nam và các công ty lương
thực
Vai trò các tổng công ty lương thực hiện nay không được xác định rõ
ràng, chỉ tập trung vào buôn bán gạo. Do vậy, lẽ đương nhiên họ sẽ chỉ để ý đến
lợi ích của bản thân không chú ý đến nông dân. Trong thời gian tới, phải xác
định lại rõ ràng mục tiêu chính của 2 tổng công ty này phải bảo vệ quyền lợi,
12
12
thúc đẩy sản xuất lúa gạo. Chỉ định những người có chuyên môn, tâm huyết và
xứng đáng giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan này.
4. Xây dựng, phân tích, lựa chọn phương án giải quyết tình huống
4.1Cơ sở xây dựng phương án
Luật hợp tác xã 2012
Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo
Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Quyết định 373a/QĐ-TTg năm 2014 về mua tạm trữ thóc, gạo vụ đông
xuân 2013-2014
13
Thứ nhất:Số tiền chuyển từ gói hỗ trợ 8000 tỷ được phân bổ sử dụng vào các
hoạt động sau:
+ Hỗ trợ nghiên cứu từ 3 – 5 giống lúa chủ lực, phù hợp với từng vùng và chiến
lược
+ Hỗ trợ người nông dân học tập, nâng cao năng lực về sản xuất
+ Hỗ trợ về máy móc thiết bị nông nghiệp cho nông dân
Thứ hai: Sửa đổi, bổ sung nghị định 109/2010 của Chính phủ ở các điểm sau:
+ Cho phép các doanh nghiệp thương mại được tham gia dễ dàng hơn vào thị
trường xuất khẩu gạo bằng cách giảm bớt các điều kiện về kho thóc và cơ sở
xay xát thóc
+ Yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu gạo bắt buộc phải có vùng chuyên canh
hoặc hợp đồng nông sản.
+ Tăng cường hoạt động của Hợp tác xã, Hội nông dân với vai trò đại diện thực
chất cho nông dân, do nông dân bầu, lựa chọn.
6. Kiến nghị và kết luận
6.1 Kiến nghị
Từ tình huống trên, để ngăn ngừa có hiệu quả các trường hợp tương tự và
giải quyết nhanh gọn các tình huống đang xảy ra, tôi kiến nghị:
Đối với các tổng công ty lượng thực: Cần xác định các mục tiêu rõ ràng
cho hoạt động của các tổng công ty này đồng thời hoạt động theo đúng định
hướng, mục tiêu được giao.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Cần xây dựng những chính sách
cụ thể, rõ ràng, hướng đến chủ thể trung tâm là người nông dân trồng lúa, tạo
mối liên kết chặt chẽ giữa người trồng lúa với các bên liên quan như nhà khoa
học, nhà cung cấp phân bón, giống và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Những
chính sách nên tuân theo đúng cơ chế thị trường, để cho thị trường tự điều tiết,
chỉ can thiệp khi quyền lợi chính đáng của các bên bị đe dọa. Cần phải thường
Nhà nước để nâng cao kiến thức về quản lý hành chính Nhà nước, góp phần cải
cách nền hành chính quốc gia.
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Người viết tiểu luận
15
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Hợp tác xã;
Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo
Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Quyết định 373a/QĐ-TTg năm 2014 về mua tạm trữ thóc, gạo vụ đông
xuân 2013-2014
Quyết định 2765/QĐ-BNN-KHCN về phê duyệt đề án khung phát triển
sản phẩm quốc gia “Sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, năng suất cao”
/> />