BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Khóa học: 2010 – 2014
Tên đề tài:
“Đánh giá một số đặc điểm sinh học, khả năng cho năng
suất đột biến ở thế hệ M5 vụ Đông Xuân năm 2013- 2014 tại
hợp tác xã Hương Long- thành phố Huế.”
SV thực hiện : Trần Thị Hằng
GV hướng dẫn: TS. Lê Tiến Dũng
Khoa : Nông Học
Huế - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn đến ba mẹ tôi đã sinh tôi ra, nuôi tôi khôn lớn và
dạy dỗ tôi thành người.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Lê Tiến Dũng, Khoa Nông học –
Trường Đại học nông lâm Huế đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn bác Nguyễn Sĩ Sà chủ nhiệm HTX Hương Long thành phố
Huế đã luôn quan tâm chỉ bảo và giúp đỡ chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông Học trường Đại học Nông
Lâm Huế đã dạy bảo tôi trong suốt 4 năm học qua.
Mặc dù đã rất cố gắng song không tránh khỏi nhũng thiếu sót, kính mong nhận
được sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Hằng
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
DMS: Dimetyl sunfat
Bảng 4.3. Khả năng đẻ nhánh của các công thức
Bảng 4.4. Một số đặc trưng hình thái cây của các công thức
Bảng 4.5. Một số chỉ tiêu khác của các giống thí nghiệm
Bảng 4.6. Một số loại sâu, bênh hại chín
Bảng 4.7. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống.
Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu về phẩm chất của các giống lúa thí nghiệm
Biểu đồ 2.1: Sản xuất lúa của thế giới từ năm 2000-2009
Biểu đồ 4.1. Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng
Biểu đồ 4.3. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết
Dân số hiện nay của thế giới đã là hơn 6 tỷ người. Con số này sẽ đạt tới 8 tỷ
vào năm 2030. Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần do
đất được chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Áp lực của tăng dân số cùng với
áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt lên sản xuất lương thực của thế giới ngày
càng tăng. Cách duy nhất để con người giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học
kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng.Lúa là một loại cây lương
thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Người ta ước
tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng
năm 1995. Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện
canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống
được cải thiện. Trong tất cả các yếu tó đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng.
[1].
Lúa (Oryza Satival L.) là cây trồng gắn bó lâu đời nhất của nhân dân ta và
nhiều dân tộc khác trên thế giới, đặt biệt là các dân tộc ở Châu Á. Lúa gạo là loại
lương thực chính của người dân Châu Á, cũng như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê
của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên có thể nói,
trên khắp thế giới, ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo.
Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính. Trên thế
giới có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau [3],
tác chọn tạo giống lúa chất lượng cao có hiệu quả.
- Đánh giá các đặc trưng về hình thái và khả năng chống chịu sâu bệnh hại
của thế hệ M5.
- Đánh giá năng suất cá thể và các yếu tố cấu thành năng suất.
- Tìm ra được các đặc tính mới so với các thế hệ trước.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá các đặc tính sinh lý, đạc điểm sinh học của giống lúa mới.
- Theo dõi thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống lúa.
- Theo dõi đầy đủ, cẩn thận các chỉ tiêu nghiên cứu như: Thời gian sinh
trưởng, chiều cao cây, khả năng đẻ nhánh, năng suất, sâu bệnh hại…
- Thực hiện phương pháp thí nghiệm chính xác, thu thập số liệu đầy đủ, chính
xác và trung thực, nhận xét khách quan về đề tài nghiên cứu.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu cung cấp một số số liệu khoa học về tình hình sinh trưởng
phát triển của các giống lúa và góp phần tạo ra các giống lúa mới có nang suất và
chất lượng vượt bậc.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần làm cơ sở giúp cho người dân lựa chọn những giống lúa có năng
suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh phù hợp với vùng sinh
thái của địa phương để đưa vào sản xuất.
PHẦN II. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1. Giá trị của cây lúa
2.1.1. Giá trị dinh dưỡng của cây lúa[1]
Gạo là thức ăn giàu dinh dưỡng. So với lúa mì, gạo có thành phần tinh bột
và protein hơi thấp hơn, nhưng năng lượng tạo ra cao hơn do chứa nhiều chất béo
hơn (Bảng 2.1). Ngoài ra, nếu tính trên đơn vị 1 hecta, gạo cung cấp nhiều calo
hơn lúa mì do năng suất lúa cao hơn nhiều so với lúa mì.
Bảng 2.1. Thành phần hóa học của lúa gạo so với 3 loại hạt ngũ cốc.
Chỉ tiêu
Cám hay đúng hơn là các lớp vỏ ngoài của hạt gạo do chứa nhiều protein, chất béo,
chất khoáng, vitamin, nhất là vitamin nhóm B, nên được dùng làm bột dinh dưỡng
trẻ em và điều trị người bị bệnh phù thũng. Cám là thành phần cơ bản trong thức
ăn gia súc, gia cầm và trích lấy dầu ăn…
Trấu ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệu
cách nhiệt, cách âm, chế tạo carbon và silic….
2.1.3. Giá trị thương mại [4]
Năm 2013, tình trạng sản xuất và thương mại lúa gạo thế giới tương đối ổn
định. Sản xuất tiếp tục gia tăng, nhưng giá lúa gạo giảm nhẹ từ đầu năm làm nông
dân trồng lúa tại các nước xuất khẩu gạo lớn như Việt Nam gặp khó
Việt Nam sản xuất lúa tăng 1% so với 2012 và đạt đến khoảng 44 triệu tấn lúa,
nhưng xuất khẩu giảm hơn 15%. Mặc dù thế giới có nhu cầu xuất khẩu gạo cao và
chính sách hỗ trợ giá lúa gạo của Thái Lan, giá lúa gạo ở Việt Nam vẫn sụt giảm
và sức thu mua kém năng động. Tỷ số hợp đồng trong năm 2013 đã giảm sút rõ rệt
ở các thị trường nhập khẩu gạo truyền thống chính như Indonesia, Philippines và
Malaysia.Trong 9 tháng đầu năm 2013, chỉ có hơn 13% của trọn năm so với 44%
của 2011 cùng thời kỳ. Đến giữa tháng 12/2013, Philippines chỉ nhập 362.000 tấn,
chiếm 6,6% tổng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam, giảm đến 67% so với cùng
kỳ; Malaysia chỉ mua 453.000 tấn, giảm đến 39% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, Bờ
Biển Ngà nhập 564.000 tấn, tăng 18,4%, Ghana nhập 353.000 tấn, tăng 28,4%
Năm qua, Trung Quốc bất ngờ tăng nhập khẩu gạo cả chính ngạch và tiểu ngạch
giúp Việt Nam giải tỏa được số lượng lúa vừa thu hoạch trong các vụ vừa qua.
Trong 9 tháng đầu của 2013, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất nhập 3 triệu
tấn gạo (hơn năm 2012 nửa triệu tấn), trong đó 1,76 triệu tấn theo chính ngạch và
1,2 triệu tấn theo tiểu ngạch, thị trường Trung Quốc chiếm tới gần 50% tổng sản
lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam. Tuy nhiên, việc xuất khẩu tiểu ngạch sang thị
trường Trung Quốc cũng phát hiện nhiều rắc rối như việc gian lận thuế xuất khẩu,
xù hợp đồng, khó kiểm soát chất lượng, mua bán thiếu sự ràng buộc chặt chẽ. Cho
nên, VN nên cẩn trọng hơn, cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để không phụ
thuộc Trung Quốc quá nhiều về loại thực phẩm này.
năm trước công nguyên.Các tài liệu khảo cổ học ở Ấn Độ cho thấy các hạt thóc
hóa thạch ở Hasthinapur (bang Utarpradesh) có tuổi 1000-750 năm trước công
nguyên.[4].
Theo các tài liệu khảo cổ học ở Thái Lan cây lúa được trồng ở vùng này vào
cuối thời kì đồ đá mới đến đầu thời kì đồ đồng (4000 năm trước công nguyên).
Nhiều tác giả còn nêu bằng chứng là cây lúa có nguồn gốc từ Đông Nam Á mà
Myanmar là một trung tâm. Ở nước ta theo các tài liệu tin cậy được công bố thì cây
lúa được trồng phổ biến và nghề trồng lúa đã được phồn vịnh ở thời kì đồ đồng
(4000-3000 năm trước công nguyên)[25].
Nước ta cũng có thể là một trong những trung tâm khởi nguyên cây lúa nước,
đồng bằng Bắc Bộ là một trong những vùng sinh thái của cả nước có các nguồn
gen đa dạng và phong phú nhất. Khu vực miền núi phía bắc có thể là một trong
những trung tâm xuất hiện các tổ tiên của các loài lúa trồng hàng niên, các loại lúa
trồng này phát triển nhanh, trước đây một số tác giả người Pháp tìm thấy loài
Oryza latifonta, Oryza officinalis, Oryza glamulata ở đây. Ở đồng bằng sông Cửu
Long còn tồn tại nhiều loại hình lúa dại gọi là lúa ma, lúa trời thuộc loài Oryza
minuta.Lúa ma vùng này là loài Oryza fatuasapotanea bông ngắn, lá đòng hẹp,
ngắn, các gié phân hóa rời rạc, mỗi gié có ít hạt, râu dài, vỏ mỏng, chín đến đâu
rụng đến đó.Điều đó khẳng định Việt Nam là một trong những cái nôi của lúa
trồng hiện nay [25].
2.2.2. Phân loại
Lúa trồng hiện nay thuộc họ hòa thảo (Gramineae), loại Oryza.Trong loại
Oryza có nhiều loài.Erygin (1960) chia làm 23 loài, Grist cho là có 25 loài.Tại hội
nghị di truyền học tế bào về lúa (1963) họp tại viện lúa quốc tế IRRI xác định có
19 loài. Trong đó loài Oryza sativa.L và Oryza Glaberima là 2 loài được trồng phổ
biến nhất hiện nay. Chủ yếu là Oryza Glaberima được trồng một số nước ở vùng
Tây Phi [2].
Có nhiều cách phân loại lúa [2]:
- Theo đặc tính thực vật học:Lúa là cây hằng niên có tổng số nhiễm sắc thể
2n = 24. Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuôc họ Gramineae (hòa thảo), tộc
2 nhóm lúa chính: nhóm quang cảm và nhóm không quang cảm.
- Theo điều kiện môi trường canh tác:
Dựa vào điều kiện môi trường canh tác, đặc biệt là nước có thường xuyên
ngập ruộng hay không, người ta phân biệt nhóm lúa rẫy (upland rice) hoặc lúa
nước (lowland rice). Trong lúa nước người ta còn phân biệt lúa có tưới (irrigated
lowland rice), lúa nước trời (rainfed lowland rice), lúa nước sâu (deepwater rice),
hoặc lúa nổi (floating rice).
Tùy theo đặc tính thích nghi với môi trường, người ta có lúa chịu phèn, lúa
chịu úng, lúa chịu hạn, lúa chịu mặn…
Tuỳ theo chế độ nhiệt khác nhau, người ta cũng phân biệt lúa chịu lạnh (các
giống japonica), lúa chịu nhiệt (các giống indica).
- Theo đặc tính sinh hóa hạt gạo:Tùy theo lượng amylose trong tinh bột hạt
gạo, người ta phân biệt lúa nếp và lúa tẻ.
- Theo đặc tính của hình thái.
+ Cây: cao (>120 cm) – trung bình (100 – 120 cm) – thấp (dưới 100 cm).
Lá: thẳng hoặc cong rủ, bản lá to hoặc nhỏ, dầy hoặc mỏng.
+ Bông: loại hình nhiều bông (nở bụi mạnh) hoặc to bông (nhiều hạt), dạng
bông túm hoặc xòe, cổ bông hở hoặc cổ kính (tùy theo độ trổ của cổ bông so với cổ
lá cờ), khoe bông hoặc giấu bông (tùy theo chiều dài và gốc độ lá cờ hay lá đòng
và tùy độ trổ của bông ra khỏi bẹ lá cờ), dầy nách hay thưa nách (tùy độ đóng hạt
trên các nhánh gié của bông lúa).
+ Hạt lúa: dài, trung bình hoặc tròn (dựa vào chiều dài và tỉ lệ dài/ngang của
hạt lúa).
+ Hạt gạo: gạo trắng hay đỏ hoặc nâu, tím (màu của lớp vỏ ngoài hạt gạo);
có bạc bụng hay không; dạng hạt dài hay tròn. Các đặc tính này rất quan trọng ảnh
hưởng tới giá trị thương phẩm của gạo trên thị trường trong và ngoài nước.
Như vậy, sau quá trình diễn biến lâu dài và phức tạp lúa hoang đã được
thuần hóa thành lúa trồng và lúa trồng đã hình thành nhiều loại hình sinh thái khác
nhau từ loại hình đa niên sang hằng niên; từ vùng nhiệt đới nóng ẩm đến những
vùng á nhiệt đới và ôn đới; từ vùng đất ngập sâu, đầm lầy lên những vùng cao đất
2010
Diện tích (triệu ha) 151,0
154,9 155,3 155,0 157,7 158,4 153,7
Năng suất (tạ/ha) 40,0
40,9 41,3 42,4 43,7 43,2 43,7
Sản lượng (triệu tấn) 606,0
634,4 641,2 657,1 689,0 684,8 672,0
(Nguồn: faostat.fao.org)
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, cho đến nay lúa vẫn là cây
lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất. Chính vì vậy, tổng sản
lượng lúa trong vòng 45 năm qua đã tăng lên gấp hơn 2,6 lần, từ 257 triệu tấn năm
1965 lên tới 675 triệu tấn năm 2009… [FAOSTAT, 2009]. Cùng với nó, diện tích
trồng lúa cũng tăng lên nhưng không đáng kể, được thể hiện qua biểu đồ sau.
Biểu đồ 2.1: Sản xuất lúa của thế giới từ năm 2000-2009
Qua biểu đồ 2.2 ta thấy năm 2009, diện tích đất trồng lúa đang có chiều hướng
giảm do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã dẫn
đến sản lượng lúa thế giới cũng giảm theo. Từ đó, việc áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật để tăng năng suất, sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lượng thực là việc
làm rất cần thiết, đồng thời phải đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng vẫn bảo vệ được
môi trường sống.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lúa gạo một số nước trên thế giới (1.000 ha)
Nước
Năm 2009 Năm 2010
Diện
tích
(1000ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
Năng
suất
năng suất bình quân thấp do chế độ nhiệt và ẩm độ cao, sâu bệnh phát triwwnr
mạnh và trình độ canh tác hạn chế. [1]
Năm 2010 là năm mà khí hậu biến đổi thất thường, tình trạng bão lũ, hạn
hán, cháy rừng và sự xâm mặn của nước biển diễn ra tại hầu khắp các khu vực trên
thế giới. Do đó, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng chịu
nhiều ảnh hưởng tiêu cực.
Năm 2009 sản lượng lúa của châu Á dẫn đầu thế giới (611,70 triệu tấn). Sản
lượng lúa gạo thế giới cũng như châu Á cao như vậy đó là nhờ sự đóng góp của
một số nước sản xuất gạo lớn như: Trung Quốc: 197,25 triệu tấn; Ấn Độ: 131,27
triệu tấn; Indonesia: 64,39 triệu tấn; Bangladesh: 45,07 triệu tấn; Viêt Nam: 38,89
triệu tấn và Thái Lan: 31,46 triệu tấn.
2.4.2. Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
Việt Nam là nước có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có tới 80% dân
số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có
vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Lúa gạo không chỉ giữ vai trò
trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu
đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân. Mặt khác do điều kiện tự nhiên
thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng khắp mọi miền đất
nước. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và
phương thức gieo trồng, nghề trồng lúa được hình thành và phân chia thành 3 vùng
trồng lúa lớn: Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng
bằng Nam Bộ.Trong các loại cây lương thực lấy hạt ở Việt Nam thì lúa là loại cây
lương thực chính. Sản lượng lúa tăng liên tục trong những năm qua. Nguyên nhân
tăng năng suất và sản lượng lúa là do những thay đổi về cơ chế chính sách của
Đảng và nhà nước, kết hợp đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản
xuất như giống mới, mức độ thâm canh , thuỷ lợi [9],[16].
Hiện nay với những tiến bộ vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã được
tiếp cận với những phương thức sản suất tiên tiến nên họ đã mạnh dạn áp dụng
khoa học kỹ thuật vào sản suất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai,
các giống lúa cao sản, các giống lúa chất lượng cao, các giống lúa thích nghi với
2008 4,680 2,663
2009 6,006 2,437
2010 6,754 2,912
(Nguồn: Hiêp hội lương thực Việt Nam (VFA) 2011)
Tuy sản lượng gạo tăng hàng năm nhưng chất lượng và lợi nhuận hạt gạo
Việt Nam có phẩm cấp thấp. Nếu so với Thái Lan – nước xuất khẩu gạo đứng ở vị
trí thứ nhất thê giới thì gạo Việt Nam vẫn còn kém hơn nhiều.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì diện tích
đất trồng lúa hàng năm bị giảm chính là do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Mặc
dù thế năng suất và sản lượng lúa vẫn tăng so với các năm trước chính là nhờ việc
áp dụng khoc học kỹ thuật vào sản xuất: Như sử dụng các giống lúa mới, kỹ thuật
bón phân hợp lý, đầu tư thâm canh tốt…
Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tăng giá trị trên đơn vị diện tích thì song
song với việc tăng năng suất là chúng ta phải tăng chất lượng gạo để tăng sức cạnh
tranh với thị trường gạo trên thế giới.
Nhờ chủ động được nguồn cung trong nước và cơ hội thuận lợi từ thị
trường thế giới, xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009 đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Theo thông tin từ hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), xuất khẩu
gạo năm 2009 đã đạt 6.006.000 tấn, mức kỷ lục từ trước tới nay và xóa bỏ kỷ lục
đạt được ở năm 2005.
Năm 2010 sản lượng gạo xuất khẩu tăng lên đến 6.754.000 tấn, đạt giá trị
xuất khẩu 2,912 triệu USD.
2.4.3. Tình hình sản xuất lúa gạo tại Thừa Thiên Huế.
Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung, có tọa độ địa lý 16-16,80 vĩ bắc và 107,8-108,20 kinh đông. Phía bắc giáp
tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Phía tây giáp nước Cộng Hòa
Dân chu Nhân dân Lào, phía Đông được giới hạn bởi biển đông. Diện tích tự nhiên
5.053,99 km
2
, dân số trung bình năm 2003 ước là 1.105,5 nghìn người, chiếm 1,5%
2005 50.457 46,6 235.029
2006 50.241 50,3 252.604
2007 50.419 51,5 259.684
2008 50.484 54,0 274.813
2009 52.993 53,6 282.582
2010 53.970 55,6 289.895
Nguồn: Niên giám thống kê 2009, báo cáo tổng kết sản xuất nông
nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, 2010.
Năm 2010-2011, năng suất lúa của tỉnh T.THuế đạt cao nhất từ trước đến
nay, góp phần đưa sản lượng lúa trên địa bàn toàn tỉnh đạt trên 30 vạn tấn. Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, năm 2011,
toàn tỉnh gieo trồng 54.690 ha cây lương thực, trong đó diện tích lúa chiếm 53.546
ha (lúa Đông Xuân đạt 27.387 ha và lúa Hè thu đạt 24.489 ha), còn lại là diện tích
ngô. Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 56,34 tạ/ha, cao nhất từ trước tới nay
(tăng 3,4 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước). Tổng sản lượng lúa đạt 301.705 tấn,
tăng 16.520 tấn so với năm 2010.Mục tiêu của tỉnh T.T Huế trong năm 2012 là
gieo trồng 53.500 ha lúa, với tổng sản lượng lúa đạt xấp xỉ 300.000 tấn.Riêng vụ
Đông Xuân này, tỉnh phấn đấu gieo trồng trên 27.000 ha lúa, năng suất đạt 56
tạ/ha, sản lượng trên 153.000 tấn. Theo ông Hoàng Hữa Hè, Phó Giám đốc Sở NN
- PTNT tỉnh, để đảm bảo năng suất và sản lượng lúa, các địa phương cần bố trí hợp
lý nhóm giống dài và trung với nhóm giống ngắn ngày. Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn cũng yêu cầu sau lũ lụt, các địa phương trong tỉnh khẩn trương tu
sửa các tuyến đê bao, đê nội đồng đảm bảo chống ngập úng; tu sửa máy bơm, nhà
trạm, kênh mương, có kế hoạch huy động tối đa các máy bơm để kịp thời tiêu úng
khi đến vụ.
Về tình hình dịch hại, bệnh đạo ôn là đối tượng gây nguy hiểm nhất, hàng
năm diện tích lúa bị nhiễm từ 2500-7000 h, chủ yếu trong vụ đông xuân làm giảm
năng suất sản lượng trầm trọng. Ngoài ra, Theo Sở NN - PTNT tỉnh này, đến nay
trên địa bàn có khoảng 1.440 ha lúa hè thu bị sâu bệnh gây hại. Trong đó, sâu cuốn
lá nhỏ gây hại với diện tích 90 ha, mật độ dưới 5 con/m2, nơi cao 20-30 con/m2;
tốt, được trồng rông rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hiện nay
viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất
siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn
tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, có
mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp
ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C 1997) [24],[25].
Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên công tácgiống
đã được chú trọng đặc biệt. Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, Trung
Quốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như:
Đoàn kết, Bao Thai, Chân Châu lùn, Mộc Tuyền Các giống này cũng đã nhập
vào Việt Nam và cho tới nay nhiều giống vẫn được một số địa phương gieo trồng
vì chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địa phương.
Bước vào đầu những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo thành công
các giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặc tính ưu việt
hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh. Có thể nói
Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng lúa lai ra
sản xuất đại trà. Nhờ đó đã làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốc lên
gấp đôi trong vòng 3 thập kỷ qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một
nước có hơn 1,3 tỷ dân. Các giống lúa lai như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Sán Ưu Quế,
Bắc Thơm số 7 rất nổi tiếng ở Trung Quốc và ở các nước láng giềng. Song song
với giống lúa lai, Trung Quốc vẫn tiếp tục chọn tạo các giống lúa thuần và cho ra
đời các giống lúa tốt như San Hoa, Ải Mai Hương, Khang Dân 18 Các giống lúa
này cũng cho năng suất rất cao không kém gì các giống lúa lai. Về chiến lược
nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2
dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng
năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước (Lin, SC 2001) [6]. Ấn Độ là một
nước trồng lúa với diện tích đứng đầu thế giới.Ấn Độ cũng là một nước đi đầu
trong công cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống lúa. Viện nghiên cứu giống lúa
trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóng
vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản
lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung
bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo
dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là
năng suất Điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn