NGUYỄN XUÂN LÝ
MSSV: DPN010641
KHẢO NGHIỆM ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT,
PHẨM CHẤT CỦA 15 GIỐNG LÚA QUỐC GIA A2
TẠI TRẠI GIỐNG BÌNH ĐỨC - AN GIANG
VỤ ĐÔNG XUÂN 2004 -2005
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ks. Lê Thùy Nương
Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
Tháng 7.2005
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHẢO NGHIỆM ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC, NĂNG
SUẤT,
PHẨM CHẤT CỦA 15 GIỐNG LÚA QUỐC GIA A2
TẠI TRẠI GIỐNG BÌNH ĐỨC - AN GIANG
VỤ ĐÔNG XUÂN 2004 -2005
Do sinh viên: NGUYỄN XUÂN LÝ thực hiện và đệ nạp
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long xuyên, ngày……tháng …. Năm 200…
Con ông: Nguyễn Văn Bình
Và bà: Huỳnh Thị Khen
Địa chỉ: ấp Mỹ Hòa B, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang.
Đã tốt nghiệp phổ thông trung học năm 1998
Vào trường Đại Học An Giang năm 2001 học lớp DH2PN1 khóa
II thuộc khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên.
4
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng:
Ba mẹ người đã dành cả cuộc đời tận tụy hy sinh cho con
Chân thành biết ơn:
Cô NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Cô LÊ THÙY NƯƠNG
Đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Chân thành cảm tạ:
Quí thầy cô đã hết lòng hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập
Vô cùng biết ơn anh Minh, chị Phương và tập thể cán bộ công nhân
trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống cây trồng Bình Đức – An Giang.
Thân gửi đến tất cả các bạn học cùng lớp đã tận tình giúp đỡ, động
viên tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp lời cảm ơn
chân thành nhất!
5
Tóm lược
Giống tốt năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng cho nhu cầu sản xuất
theo hướng xuất khẩu, kháng được một số loại sâu bệnh phổ biến, phù hợp
với điều kiện đất đai và kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương là
rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, đề tài “Khảo nghiệm đặc
tính nông học, năng suất, phẩm chất của 15 giống lúa quốc gia A2 tai
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Sơ lược nguồn gốc và sinh trưởng cây lúa 3
2.2.Vai trò của giống trong sản xuất 4
2.3. Công tác nghiên cứu lúa trên thế giới và Đồng Bằng Sông Cửu
Long
6
2.3.1.Công tác nghiên cứu lúa trên thế giới. 6
2.3.2.Công tác nghiên cứu lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 7
2.4.Yêu cầu cơ bản của giống lúa tốt 8
2.5. Kiểu hình cây lúa năng suất cao 9
2.6.Tiến trình chọn tạo giống lúa 11
2.7.Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và các biện pháp gia tăng
năng suất
13
2.4.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất 13
2.7.1.1.Số hạt trên bông 14
2.7.1.2.Số bông trên m
2
14
2.7.1.3.Phần trăm hạt chắc 14
2.7.1.4.Trọng lượng 1000 hạt 15
2.4.2.Biện pháp gia tăng năng suất 15
2.8.Tình hình canh tác lúa ở An Giang 16
2.8.1.Tình hình chung 16
2.8.2.Kỹ thuật canh tác 16
4.2.3.Thành phần năng suất và năng suất thực tế 39
4.2.3.1. Số bông trên m
2
39
4.2.3.2. Hạt chắc trên bông 40
4.2.3.3. Tỉ lệ hạt chắc 40
4.2.3.4. Trọng lượng 1000 hạt 41
4.2.3.5. Năng suất thực tế 41
4.2.4. Phẩm chất gạo 43
4.2.5. Đánh giá các giống lúa có triển vọng 45
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1. Kết luận 48
5.2. Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
49
PHỤ CHƯƠNG
8
DANH SÁCH HÌNH
TT Tựa hình Trang
1 Sơ đồ tổng quát tiến trình công tác chọn tạo giống lúa trồng. 13
2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 15 giống lúa tại trại giống Bình Đức -
An Giang vụ Đông Xuân 2004 – 2005.
18
DANH SÁCH BẢNG
Bảng số Tựa bảng Trang
1 Phân nhóm giống lúa theo thời gian sinh trưởng. 4
2 Danh sách 15 giống lúa thí nghiệm tại trại giống Bình Đức –
An Giang vụ Đông Xuân 2004 – 2005.
17
42
12 Phẩm chất gạo của 15 giống lúa thí nghiệm tại trại giống Bình
Đức – An Giang vụ Đông Xuân 2004 – 2005.
44
9
Chương 1 GIỚI THIỆU
Lúa là cây trồng quan trọng cho hơn một nửa số dân trên thế giới và
là loại cây cung cấp lương thực quan trọng cho nhất trong bữa ăn hàng ngày
của hàng triệu người. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có hơn 50% thu
nhập quốc dân là do nông nghiệp tạo ra. Trong đó, cây lúa là cây trồng quan
trọng và có vai trò chiến lược trong nền kinh tế nước ta. Cây lúa không chỉ
giải quyết vấn đề lương thực hàng ngày cho nhân dân mà còn là nguồn xuất
khẩu quan trọng thu nhập ngoại tệ, là nền tảng để xây dựng và phát triển các
ngành công nghiệp. Diện tích trồng lúa của cả nước khoảng 5,6 triệu ha,
trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 2,3 triệu ha. Thêm vào
đó, trồng lúa là một nghề cổ truyền của hơn 80% dân số nước ta. An Giang là
một tỉnh trọng điểm sản xuất lúa gạo của khu vực ĐBSCL, nơi có điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển cây lúa, với sản lượng hàng năm đạt khoảng
3.000.000 tấn/năm đứng hàng đầu trong vùng ĐBSCL với các giống lúa cao
sản ngắn ngày chất lượng cao chiếm khoảng 90%. Những năm qua, tình hình
dân số trên thế giới ngày càng gia tăng nhanh, ngoài việc áp dụng những tiến
bộ khoa học vào sản xuất cũng như tăng diện tích gieo trồng để làm tăng
năng suất và sản lượng lúa, các nhà khoa học trong và ngoài nước không
ngừng nghiên cứu để tìm ra những giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất
tốt, đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng cho toàn xã hội.
Mặt khác, do tình hình thâm canh tăng vụ như hiện nay tạo điều kiện
cho sâu bệnh phát triển, rất có khả năng bùng phát thành dịch. Tuy nhiên,
hiện nay chất lượng lúa gạo hàng hóa của Việt Nam cũng chưa thật sự đạt
yêu cầu xuất khẩu so với các nước trong khu vực và trên thế giới như Thái
Lan v.v…. Điều này có thể lý giải rằng tại sao giá gạo của Việt Nam thấp hơn
chưa có dữ liệu nào chắc chắn và thống nhất, có nhiều ý kiến chưa thống
nhất, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái
học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rải của các loài lúa hoang dại trong
khu vực, nhiều người đồng ý rằng nguồn gốc cây lúa là ở vùng đầm lầy Đông
Nam Á, rồi từ đó lan dần đi các nơi.
Theo Chowdhury và Ghosh được Nguyễn Ngọc Đệ (1994) trích dẫn
thì những hạt thóc hóa thạch cổ nhất của thế giới đã được tìm thấy ở
Hasthinapur (Bang Uttar Pradesh - Ấn Độ) vào khoảng năm 1000 – 750 trước
công nguyên, tức cách nay hơn 2500 năm.
Sampath và Kao được trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Đệ (1994) thì cho
rằng sự hiện diện của nhiều loại lúa hoang ở Ấn Độ và Đông Nam Á chứng tỏ
rằng Ấn Độ, Miến Điện hay Đông Dương là nơi xuất xứ của lúa trồng.
2.1.2. Phân nhóm lúa
Tên khoa học của hai loại lúa trồng hiện nay là Oryza sativa L. tiêu
biểu cho nhóm lúa trồng ở châu Á có tổ tiên trực tiếp là Oryza nivara, một
loại lúa hoang hằng niên và Oryza glaberrima Steud. cũng tiến hóa từ một lúa
hoang hằng niên khác. Hiện nay, có nhiều cách phân nhóm lúa trồng: Phân
nhóm theo vùng địa lý, theo đáp ứng với quang kỳ, phân nhóm theo thời gian
sinh trưởng…
1
Bảng 1: Phân nhóm giống lúa theo thời gian sinh trưởng (ngày)
Nhóm giống
Các tỉnh phía nam
Tên gọi Thời gian sinh trưởng
Cực ngắn ngày Ao < 90
Ngắn ngày A1 90 – 105
Trung ngày A2 106 – 120
Dài ngày B > 120
(Nguồn: Quy phạm khảo nghiệm giống lúa, 2004)
2.1.3. Sinh trưởng
% so với các giống cổ truyền.
Chandra Mohan (1984) được Lê Minh Tuệ (1988) trích dẫn thì cho
rằng giống là yếu tố then chốt cho năng suất cao nhưng năng suất cao chỉ đạt
khi nào giống có tiềm năng năng suất cao. Giống là sản phẩm của sức lao
động của con người là tư liệu sản xuất và là một trong những yếu tố quyết
định trong việc tăng năng suất, không có giống chúng ta sẽ không sản xuất ra
được nông phẩm. Cuộc cách mạng xanh trong vùng nhiệt đới đã được đánh
dấu bằng những giống lúa năng suất cao. Trong những năm đầu của thập niên
1960 chỉ có ít chuyên gia chú ý tới việc chọn giống, nhưng sự ra đời của các
giống lúa cải tiến đã thay đổi tình thế đó. Ngày nay khắp vùng nhiệt đới ngày
càng có nhiều nhà chọn giống trẻ tuổi tham gia vào công việc làm ra giống
lúa mới.
Trong sản xuất nông nghiệp các điều kiện tự nhiên cũng làm ảnh
hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây trồng nhất là tình hình sâu bệnh,
vì vậy vấn đề tạo ra giống mới thích nghi với điều kiện tự nhiên ở địa
phương, kháng được một số sâu bệnh phổ biến và có phẩm chất tốt thì rất cần
thiết để đảm bảo năng suất đáp ứng nhu cầu lương thực của nhân dân trong
nước và trên thế giới. Giống là sản phẩm sức lao động sáng tạo của con người
và là một trong những phương tiện tư liệu sản xuất của nông nghiệp rất quan
trọng. Ngay từ ngàn xưa, qua thực tiễn sản xuất nông nghiệp nông dân Việt
Nam cũng đã đánh giá cao về vai trò của giống. Điều đó đã được cô đọng
bằng những câu ca dao, tục ngữ như: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ
giống”, hoặc “cố công không bằng tốt giống” v.v…
Ngày nay, với phong trào thâm canh tăng năng suất lúa, bằng biện
pháp áp dụng giống mới đưa vào trong sản xuất đã là gia tăng sản lượng,
nâng cao chất lượng nông sản, tăng sức chống chịu với sâu bệnh, giúp ta tăng
1
được nhiều vụ lúa trong năm, giống mới chống chịu được những điều kiện
bất lợi của môi trường như: chịu phèn, chịu mặn, chịu hạn, ngập úng v.v…
tạo ra khả năng cơ giới hoá trong gieo trồng và thu hoạch. Theo Gulinep-
năm 1970 – 1973 do bênh đạo ôn, bệnh Tungro cùng với phẩm chất xấu của
gạo đã buột phải loại dần IR8. Cũng từ năm 1970 – 1973 do dịch rầy nâu phát
triển mạnh, các nhà chọn giống đã lai tạo, chọn ra những giống kháng lại rầy
nâu như giống IR26, IR34, IR36, v.v…
Do tình hình trên từ năm 1970 đến nay các nhà lai tạo giống ở IRRI
ngoài mục tiêu chọn giống cho năng suất cao, ngắn ngày chống đổ ngã cũng
chú trọng đến các mục tiêu khác như khả năng thích nghi rộng rãi với điều
kiện bất lợi của môi trường và có khả năng kháng một số loại sâu bệnh.
2.3.2. Công tác nghiên cứu lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trồng lúa là một nghiề cổ truyền của hơn 80% dân số Việt Nam. Qua
nhiều năm trồng lúa, nông dân ĐBSCL đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm
trồng lúa và chọn nhiều giống lúa rất phong phú. Bà con nông dân đã chọn
giống lúa thích hợp với điều kiện sinh thái nơi mình trồng lúa như vùng phèn
có giống Cà Dung, vùng ngập sâu có Nàng Tây, Trường Hưng, v.v…. Năm
1986 du nhập các giống lúa mới ngắn ngày, năng suất cao, không quang cảm
như IR5, IR8, IR30, v.v…. từ đó đến nay công tác nghiên cứu giống lúa ở
ĐBSCL đã phát triển mạnh mẻ ở các trung tâm nghiên cứu, các viện, các
trường và ngay cả các nông dân tiên tiến.
* Sơ lược một số giống lúa đã được trồng và phổ biến hiện nay.
+ OMCS 2000
Thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày, chiều cao từ 90 – 100cm.
Rầy nâu hơi nhiễm, đạo ôn nhiễm.
Năng suất: vụ Đông Xuân 6 – 8 tấn/ha, vụ Hè Thu 4 – 5 tấn/ha.
Đặc tính: bông to, chịu phèn nhẹ, ít đổ ngã.
Phẩm chất gạo: gạo trong, ít bạc bụng.
+ OM2517
Thời gian sinh trưởng 85 – 90 ngày, chiều cao biến động từ 90 –
95cm.
Rầy nâu nhiễm trung bình, đạo ôn hơi nhiễm.
Năng suất: vụ Đông Xuân 6 – 8 tấn/ha, vụ Hè Thu 4 – 6 tấn/ha.
Năng suất bao giờ cũng là kết quả tổng hợp của quá trình sinh trưởng
và phát triển cây trồng. Năng suất của một giống cao hoặc thấp sẽ quyết định
giống đó xấu hoặc tốt. Đối với lúa năng suất trên một đơn vị diện tích quyết
1
định bởi số cây và năng suất từng cây. Số cây trên một đơn vị diện tích ta có
thể điều khiển bằng cách cấy dày hoặc thưa, còn năng suất từng cây do đặc
điểm giống qui định.
Ngoài ra tính ổn định về năng suất là một tiêu chuẩn quan trọng đối
với giống trong sản xuất. Nó đảm bảo cho sản lượng nông sản thu hoạch hàng
năm không bị biến động lớn, nhất là không bị giảm sút nhiều khi điều kiện
ngoại cảnh thay đổi không thuận lợi.
* Giống phải thích hợp với những điều kiện canh tác cao như
Chống chịu được điều kiện bất lợi của môi trường, kháng được một
số sâu bệnh quan trọng, chống đổ ngã, phản ứng tốt với phân bón, nước tưới,
v.v…
* Do nhu cầu về tiêu thụ sản xuất và xuất khẩu đòi hỏi giống tốt
Phải có phẩm chất tốt như sau: gạo trắng trong, tỉ lệ hạt nguyên cao,
thơm ngon, v.v…
Muốn xác định giống tốt còn phải dựa vào đặc điểm của thời vụ, kỹ
thuật canh tác và mức đầu tư của từng địa phương để có kế hoạch tuyển chọn,
bồi dưỡng, sản xuất giống nhiều để phục vụ cho sản xuất trên một diện tích
rộng lớn hơn. Việc đánh giá giống tốt cần phải kết hợp với những đặc tính
cứng cây, không bị ngã, ít rụng hạt … để dễ dàng trong khâu thu hoạch bằng
cơ giới.
2.5. Kiểu hình cây lúa năng suất cao
Cây lúa của thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay là một
thành quả lao động của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều ngành chuyên môn
và nhiều nông dân tiến bộ đã chọn lựa. Để cây lúa sống và tăng trưởng cho
năng suất theo ý muốn của con người, các nhà khoa học, các cơ quan nghiên
cứu đã căn cứ vào đặc tính hình thể, kiểu cây lúa, đặc tính chống chịu sâu
* Giữ màu xanh sau khi trổ. Đối với lúa khoảng 2/3 lượng tinh bột
tạo thành năng suất sau này là do sự đồng hóa Cacbon cao sau khi trổ. Tuy
nhiên, đối với các giống lúa cao sản, tác giả nhận thấy khoảng 90% năng suất
lúa do sự quang hợp của cây lúa sau thời kỳ trổ gié. Như vậy, chúng ta cần
tạo cho cây lúa khỏe, tăng hoạt động của rễ, tăng lượng đạm trong phiến lá,
giữ cho lá luôn xanh không bị phai màu sau khi trổ bông đến lúc lúa bắt đầu
chín vàng.
* Giữ càng nhiều lá xanh trên bông càng tốt. Trong giai đoạn từ khi
trổ bông đến lúc lúa chín, lá xanh tươi biểu hiện tình trạng khỏe mạnh của bộ
rễ cũng như của toàn cây lúa.
1
* Trổ vào lúc có thời tiết tốt suốt 40 ngày từ 15 ngày trước khi trổ
đến 25 ngày sau khi trổ gié. Vì 90% năng suất tạo thành do quang hợp sau khi
trổ nên lượng bức xạ mặt trời có ảnh hưởng rất lớn trong giai đoạn này. Nếu
lượng ánh sáng không đủ vào giai đoạn giãm nhiễm thì số lượng hạt cũng
như trọng lượng hạt giảm dẫn đến năng suất thấp. Do đó, chúng ta phải xác
định thời vụ thích hợp để lúa trổ vào lúc có nắng tốt, không mưa.
Theo Võ Tòng Xuân (1986). Ngoài những đặc tính ngắn ngày, không
quang cảm, có bộ lá thẳng (nhất là lá cờ) để ánh sáng dọi vào 2 mặt lá, lá có
màu xanh đậm v.v... Cây lúa năng suất cao phải:
Có ít nhất 3 lá còn xanh khi trổ và giữ màu xanh cho tới khi hạt chín
đều.
Chiều cao trung bình 80 –110 cm, lóng ngắn, cứng rạ, bẹ ôm sát thân,
chống đổ ngã.
Chống sâu bệnh nhất là rầy nâu.
Hạt có trọng lượng cao, dạng hạt dài, gạo trắng, phẩm chất ngon.
2.6. Tiến trình chọn tạo giống lúa
2.6.1. Chọn vật liệu ban đầu
Điều tra, sưu tập đánh giá các nguồn gien để làm nguồn vật liệu ban
đầu.
tốt nhất để sản xuất thử, đồng thời tiếp tục theo dõi tính thích nghi và chống
chịu của giống. Các giống tốt sẽ được phổ biến trồng đại trà.
2
Hình 1:Sơ đồ tổng quát tiến trình công tác chọn tạo giống lúa trồng
(nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ, 1994)
2
Điều Tra, Sưu Tập
Bảo Quản Đánh Giá
So Sánh Năng Suất
Thử Nghiệm Khu Vực Hoá
LÚA HOANG
LÚA ĐỊA PHƯƠNG
Sản Xuất Thử
Ngân Hàng Giống Lúa
NHẬP NỘI
LAI TẠO CHỌN LỌC
Trắc Nghiệm Hậu Kỳ
Quan Sát Sơ Khởi
Sản Xuất Đại Trà
2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và các biện pháp gia tăng năng
suất
2.7.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
2.7.1.1. Số hạt trên bông
Thời kỳ quyết định số hạt trên bông theo Đinh Văn Lữ chủ yếu là
thời kỳ bắt đầu phân hoá đồng đến cuối thời kỳ giảm nhiễm, vào thời gian
trước trổ 5 ngày không ảnh hưởng.
Theo Tôn Thất Trình (1968) được trích dẫn bởi Lê Minh Tuệ (1988)
thì cho rằng nhiệt độ thấp ở giai đoạn tượng gié thì tổng số hạt sẽ bớt đi vì
thoái hoá, sự gia giảm sẽ rõ rệt hơn nữa nếu nhiệt độ thấp đúng thời gian phân
bào giảm nhiễm và ở giai đoạn cây bị thiếu nước tổng số hạt giảm một cách
Đinh Văn Lữ thì cho rằng từ lúc bắt đầu phân hoá đồng (32 ngày
trước trổ ) đến 20 ngày – 25 ngày sau trổ đều có ảnh hưởng đến tỉ lệ hạt chắc.
2.7.1.4. Trọng lượng 1000 hạt
Theo Đinh Văn Lữ, biện pháp gia tăng trọng lượng 1000 hạt là:
Tăng độ to nhỏ của vỏ trấu.
Xúc tiến quá trình tích lũy phôi nhủ.
Thời kỳ ảnh hưởng đến 1000 hạt rõ rệt nhất là trước và sau thời kỳ
giảm nhiễm và vào chắc ( Đinh Văn Lữ ).
Trọng lượng 1000 hạt ít thay đổi bởi điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật
canh tác mà nó được qui định bởi đặc tính giống (Bùi Huy Đáp, 1980).
2.7.2. Biện pháp gia tăng năng suất lúa
Bên cạnh giống tốt thì kỹ thuật canh tác cũng làm tăng năng suất và
phẩm chất lúa gạo.Theo Sirosita (1963) và Torari (1966) được trích dẫn bởi
Nguyễn Ngọc Đệ (1994) thì cho rằng kỹ thuật không bao giờ đạt kết quả tốt,
tuy nhiên có thể phối hợp các yếu tố này để đạt được năng suất cao
Chọn giống kháng đổ ngã, mật độ cây thích hợp và bảo vệ thực vật
đúng, khoảng cách cây hợp lý sẽ đảm bảo diện tích lá lớn cho quang hợp của
cây được tối đa tạo được nhiều bông đáp ứng được cho các nhu cầu cho các
yếu tố năng suất của lúa năng suất cao.
Cày sâu, cải tạo đất, phơi đất diệt sâu bệnh và làm đất được thoáng
phải kết hợp với bón phân mới đạt được hiệu quả cao.
Tưới nước hợp lí và tiêu nước hợp lí. Tưới tiêu xen kẻ, tiêu nước
phơi đất sau đó cho nước vào ruộng.
2
2.8. Tình hình canh tác lúa ở An Giang
2.8.1. Tình hình chung
An Giang nằm ở vĩ độ thấp nên nhận được khá nhiều lượng bức xạ
mặt trời trong suốt năm, nhiệt độ trung bình hàng năm tương đối cao và ổn
định từ 25 – 28
o
Bảo vệ thực vật được tiến hành tốt, sâu bệnh thường gặp là sâu cuốn
lá, sâu đục thân, rầy nâu, bù lạch, bệnh đạo ôn, bệnh đốm vằn v.v…
2